Di tích lịch sử

Việt Nam
Dinh Cô

Dinh Cô

Dinh Cô nay thuộc xã Long Hải, Thành phố Hồ Chí Minh, là di tích lịch sử – văn hóa gắn với tín ngưỡng biển của cư dân địa phương. Theo truyền thuyết, Dinh Cô thờ Lê Thị Hồng, tục gọi Thị Cách, một cô gái quê Bình Định tử nạn trên biển khi mới 17 tuổi. Thi hài được người dân chôn trên đồi Cô Sơn. Sau đó, dân gian truyền rằng cô nhiều lần hiển linh, phù trợ ngư dân vượt qua tai nạn, dịch bệnh nên người dân lập miếu thờ, tôn xưng là Long Hải Thần nữ. Dinh Cô ban đầu là một ngôi miếu nhỏ ven biển, sau được di dời lên chân núi Thùy Vân và xây dựng kiên cố hơn. Quần thể hiện gồm điện thờ Cô dưới chân núi và mộ Cô trên đồi Cô Sơn. Chính điện có kiến trúc mang nét đình, chùa truyền thống với nhiều họa tiết rồng, hổ, lưỡng long chầu nguyệt và hệ thống tượng, ban thờ phong phú. Hằng năm, lễ hội Dinh Cô diễn ra từ ngày 10 đến 12 tháng 2 âm lịch, gồm các nghi lễ nghinh Bà Thủy thần, nghinh Ông, lễ cúng Cô, hát bả trạo, xây chầu đại bội cùng nhiều trò chơi dân gian. Lễ hội thể hiện lòng biết ơn các vị thần được cư dân biển tôn kính và ước vọng mưa thuận gió hòa, quốc thái dân an, ngư dân ra khơi bình an, đánh bắt thuận lợi. Dinh Cô được công nhận là di tích lịch sử – văn hóa cấp quốc gia năm 1995, là điểm đến tiêu biểu để tìm hiểu đời sống tín ngưỡng và văn hóa biển Nam Bộ. Nguồn: Báo điện tử Pháp luật Việt Nam

TP Hồ Chí Minh

22 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Chùa Giác Viên

Chùa Giác Viên

Chùa Giác Viên tọa lại trên đường Lạc Long Quân, phường Bình Thới, Thành phố Hồ Chí Minh, là một trong những ngôi chùa cổ tiêu biểu của vùng Gia Định – Sài Gòn, có lịch sử hình thành gắn liền với quá trình xây dựng và trùng tu chùa Giác Lâm. Tiền thân của chùa là Quan Âm Viện, được dựng năm 1805 tại khu vực bến Hố Đất. Đến năm 1850, Quan Âm Viện được đổi tên thành chùa Giác Viên. Trải qua nhiều lần trùng tu, ngôi chùa từng bước hoàn thiện diện mạo kiến trúc và nghệ thuật như ngày nay. Chùa Giác Viên mang phong cách kiến trúc Phật giáo Nam Bộ, kết hợp hài hòa giữa nét cổ truyền với một số ảnh hưởng phương Tây trong trang trí mặt tiền. Tuy nhiên, giá trị nổi bật nhất của di tích nằm ở hệ thống tượng thờ, bao lam, hoành phi, câu đối và phù điêu bằng gỗ được chế tác công phu, đặc biệt tập trung vào cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX. Chùa hiện còn lưu giữ 153 pho tượng gỗ, trong đó có nhiều bộ tượng có giá trị nghệ thuật cao như Thập bát La Hán, Thập điện Diêm Vương và bộ Phật cùng Tứ chúng. Các pho tượng thể hiện rõ phong cách tạo hình phóng khoáng, gần gũi với đời sống cư dân Nam Bộ. Đặc sắc hơn cả là hệ thống 58 bao lam với nhiều đề tài phong phú. Bao lam Bá Điểu nổi bật bởi nghệ thuật chạm lộng tinh xảo, tái hiện gần 100 loài chim với nhiều tư thế sinh động. Bên cạnh các hình tượng quen thuộc như long, lân, quy, phụng, nghệ nhân còn đưa vào tác phẩm những hình ảnh gần gũi với đời sống như trâu, bò, dê, heo, chó, chim chóc, hoa lá và cây trái. Những hình ảnh dân dã này tạo nên sắc thái riêng, thể hiện rõ quá trình Nam Bộ hóa nghệ thuật trang trí Phật giáo. Chùa còn có hệ thống 128 câu đối cùng nhiều phù điêu chạm khắc trên các thân cột và kiến trúc gỗ. Đề tài phong phú, từ Tứ linh, Bát Tiên, Thập bát La Hán đến hoa lá, chim muông, cây trái và các loài vật quen thuộc. Qua đó, nghệ thuật chạm khắc không chỉ phục vụ nhu cầu tín ngưỡng mà còn phản ánh đời sống, tâm tư và quan niệm thẩm mỹ của cư dân vùng đất Gia Định xưa. Nguồn: Diễn đàn Phật tử Việt Nam

TP Hồ Chí Minh

18 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Đình thần Bình An

Đình thần Bình An

Đình thần Bình An tọa lạc tại phường Đông Hòa, Thành phố Hồ Chí Minh, là một di tích lịch sử – văn hóa có giá trị của vùng đất Bình An xưa. Đình được xây dựng trước năm 1852 và được ban sắc thần dưới triều vua Tự Đức. Đây là nơi thờ Thành Hoàng Bổn Cảnh, thể hiện truyền thống tín ngưỡng dân gian và đạo lý uống nước nhớ nguồn của người dân địa phương. Năm 1945, đình bị thực dân Pháp đốt phá, đến năm 1950 được xây dựng lại. Trải qua nhiều lần trùng tu, đình vẫn lưu giữ những nét văn hóa truyền thống cùng khu lăng mộ của ông Trương Công Cẩn, một vị tướng tài thời Nguyễn. Đặc biệt, trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp, Đình thần Bình An từng là nơi ẩn náu, hội họp và tập kết của các chiến sĩ cách mạng địa phương. Vì vậy, di tích không chỉ mang giá trị về văn hóa, tín ngưỡng mà còn ghi dấu những năm tháng đấu tranh cách mạng của nhân dân nơi đây. Ngày 14 tháng 10 năm 2009, Đình thần Bình An được công nhận là Di tích lịch sử – văn hóa cấp tỉnh. Ngày nay, nơi đây là địa điểm góp phần gìn giữ những giá trị văn hóa truyền thống và giáo dục thế hệ trẻ về lịch sử, truyền thống của quê hương. Nguồn: Trung tâm Xúc tiến Thương mại, Du lịch và Phát triển công nghiệp tỉnh Bình Dương (TP Hồ Chí Minh)

TP Hồ Chí Minh

505 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp tỉnh

Mở

Suối Mạch Máng

Suối Mạch Máng

Suối Mạch Máng (hay còn gọi là Suối Sọ) thuộc phường Tân Bình, thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương bây giờ là TP Hồ Chí Minh, là di tích lịch sử gắn với trận chống càn ác liệt ngày 4/5/1968 trong cuộc kháng chiến chống Mỹ. Tại đây, bộ đội chủ lực, dân quân và du kích địa phương đã kiên cường chiến đấu trước cuộc tấn công quy mô lớn của quân Mỹ - ngụy với sự yểm trợ của máy bay, xe tăng và pháo binh. Sau hơn một ngày đêm chiến đấu, quân và dân ta đã đẩy lùi nhiều đợt tiến công, tiêu diệt nhiều sinh lực địch và bắn cháy 4 xe tăng. Tuy nhiên, hàng trăm cán bộ, chiến sĩ và người dân đã anh dũng hy sinh. Từ đó, con suối còn được người dân gọi là Suối Sọ để ghi nhớ sự mất mát to lớn và tri ân những người đã ngã xuống vì độc lập dân tộc. Ngày nay, bia tưởng niệm Suối Mạch Máng là địa chỉ đỏ giáo dục truyền thống yêu nước, nhắc nhở các thế hệ về tinh thần bất khuất và sự hy sinh của cha ông. Nguồn: Báo và Phát thanh, Truyền hình TP.HCM

TP Hồ Chí Minh

546 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp tỉnh

Mở

Di tích lịch sử Căn cứ Hố Lang

Di tích lịch sử Căn cứ Hố Lang

Di tích lịch sử Căn cứ Hố Lang. Di tích lịch sử Căn cứ Hố Lang nằm tại phường Tân Đông Hiệp, Thành phố Hồ Chí Minh. Đây là một căn cứ cách mạng quan trọng trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, gắn liền với truyền thống đấu tranh anh dũng của quân và dân vùng Dĩ An. Hố Lang có địa hình đồi gò, được bao bọc bởi suối và rừng cây rậm rạp, tạo thành một vị trí chiến lược thuận lợi cho việc xây dựng căn cứ cách mạng. Từ đây có thể quan sát một vùng rộng lớn, đặc biệt là khu vực sân bay quân sự Biên Hòa và các tuyến giao thông quan trọng. Nhờ lợi thế đó, Hố Lang trở thành nơi đứng chân, chỉ huy và tổ chức nhiều hoạt động của lực lượng cách mạng trong suốt thời kỳ kháng chiến. Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, Hố Lang là nơi diễn ra nhiều trận đánh tiêu biểu của lực lượng du kích địa phương. Năm 1966, quân và dân Tân Hiệp đã nhiều lần đánh lui các cuộc càn quét của quân Mỹ, tiêu diệt nhiều sinh lực địch và thu nhiều vũ khí. Đến năm 1971, Huyện ủy Dĩ An tiếp tục đặt căn cứ tại Hố Lang để lãnh đạo phong trào cách mạng. Sự che chở, đùm bọc của nhân dân địa phương cùng hệ thống tín hiệu bí mật đã góp phần bảo vệ an toàn cho cán bộ và lực lượng cách mạng hoạt động. Hiện nay, di tích vẫn còn lưu giữ một số dấu tích như hầm trú ẩn, hố chiến đấu và địa hình tự nhiên của căn cứ. Đây là minh chứng sinh động cho nghệ thuật chiến tranh nhân dân, tinh thần đoàn kết và ý chí kiên cường của quân và dân địa phương trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc. Nguồn: Trung tâm Xúc tiến Thương mại, Du lịch và Phát triển Công nghiệp Bình Dương.

TP Hồ Chí Minh

466 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp tỉnh

Mở

Đình thần Tương Bình Hiệp

Đình thần Tương Bình Hiệp

Đình thần Tương Bình Hiệp. Đình thần Tương Bình Hiệp tọa lạc tại phường Tương Bình Hiệp, Thành phố Hồ Chí Minh. Đây là một di tích lịch sử - văn hóa có giá trị, đồng thời là ngôi đình đặc biệt ở Nam Bộ thờ Phan Thanh Giản – vị tiến sĩ đầu tiên của Nam Kỳ và là một danh nhân văn hóa, nhà thơ, nhà sử học tiêu biểu của Việt Nam. Phan Thanh Giản sinh năm 1796, từng làm quan dưới ba triều vua Minh Mạng, Thiệu Trị và Tự Đức. Ông đảm nhiệm nhiều chức vụ quan trọng trong triều đình, nhiều lần được cử đi sứ sang Trung Quốc, Indonesia, Singapore, Pháp và Tây Ban Nha. Ông cũng là người tham gia các hoạt động ngoại giao nhằm bảo vệ chủ quyền và lợi ích của đất nước trong bối cảnh lịch sử đầy biến động của thế kỷ XIX. Sau khi ba tỉnh miền Tây Nam Kỳ rơi vào tay thực dân Pháp năm 1867, Phan Thanh Giản đã chọn tuẫn tiết để bày tỏ lòng trung quân, ái quốc và tinh thần trách nhiệm trước vận mệnh đất nước. Đến năm 1924, vua Khải Định ban sắc phong thần cho ông và cho phép nhân dân địa phương thờ phụng tại đình Tương Bình Hiệp. Ngày nay, đình thần Tương Bình Hiệp không chỉ là nơi sinh hoạt tín ngưỡng của người dân mà còn là địa chỉ lưu giữ, tưởng niệm công lao của Phan Thanh Giản. Nguồn: Trung tâm Xúc tiến Thương mại, Du lịch và Phát triển Công nghiệp Bình Dương.

TP Hồ Chí Minh

414 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp tỉnh

Mở

Khu di tích lịch sử Núi Minh Đạm

Khu di tích lịch sử Núi Minh Đạm

Khu di tích lịch sử Núi Minh Đạm. Khu di tích lịch sử Núi Minh Đạm nằm trên địa bàn các xã Long Hải, Phước Hải, Tam Phước và Long Mỹ, Thành phố Hồ Chí Minh. Dãy núi có chiều dài khoảng 8 km, cao 355 m, với địa hình hiểm trở, nhiều hang động và rừng cây tự nhiên. Không chỉ có cảnh quan đẹp, nơi đây còn là một căn cứ cách mạng quan trọng trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ. Nhờ địa thế hiểm yếu với hơn 300 hang động lớn nhỏ, Núi Minh Đạm được lực lượng cách mạng lựa chọn làm căn cứ hoạt động. Tại đây từng đặt nhiều cơ quan và đơn vị như Huyện ủy, Quân y, Quân giới, Huyện đội cùng các khu vực Đá Chẻ, Đá Chồng, Chùa Viên và Chùa Giếng Gạch. Những hang đá, bếp Hoàng Cầm, hầm trú ẩn và dấu tích sinh hoạt của cán bộ, chiến sĩ vẫn còn được lưu giữ, trở thành minh chứng cho một thời kỳ chiến đấu gian khổ nhưng đầy hào hùng. Tên gọi Minh Đạm được ghép từ tên của hai chiến sĩ cách mạng Bùi Công Minh và Mạc Thanh Đạm, những người đã anh dũng hy sinh vào ngày 17/11/1948. Việc lấy tên hai liệt sĩ đặt cho ngọn núi thể hiện lòng biết ơn và sự tưởng nhớ đối với những người đã cống hiến vì độc lập dân tộc. Ngày nay, khu di tích còn có Đền tưởng niệm các Anh hùng liệt sĩ, nơi ghi danh hơn 2.600 liệt sĩ đã chiến đấu và hy sinh vì Tổ quốc. Đây là địa chỉ đỏ có ý nghĩa đặc biệt trong công tác giáo dục truyền thống yêu nước, lòng tự hào dân tộc và tinh thần cách mạng cho các thế hệ hôm nay. Nguồn: Du lịch Hà Tiên

TP Hồ Chí Minh

461 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Công viên Tượng đài - Đền thờ Anh hùng liệt sĩ Võ Thị Sáu

Công viên Tượng đài - Đền thờ Anh hùng liệt sĩ Võ Thị Sáu

Khu di tích lịch sử Công viên Tượng đài và Đền thờ Anh hùng liệt sĩ Võ Thị Sáu tọa lạc tại huyện Đất Đỏ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu nay là TP Hồ Chí Minh, tiền thân là Chi khu cảnh sát Đất Đỏ thời chiến. Chị Võ Thị Sáu sinh năm 1933 tại xã Phước Thọ. Năm 14 tuổi, chị tham gia đội Công an xung phong Đất Đỏ, dũng cảm làm nhiệm vụ trinh sát và tham gia nhiều trận đánh nguy hiểm, tiêu biểu là vụ ném lựu đạn giải tán cuộc mitting của địch tại chợ Đất Đỏ năm 1948. Đầu năm 1950, do lựu đạn bị lép trong một trận tấn công khác, chị sa vào tay giặc. Dù chịu nhiều trận tra tấn dã man qua các nhà tù, chị vẫn giữ vững khí tiết cách mạng. Tháng 4/1951, thực dân Pháp kết án tử hình chị khi chưa tròn tuổi vị thành niên và lén lút đưa chị ra Côn Đảo. Rạng sáng ngày 23/1/1952, chị bị đưa ra trường bắn. Chị kiên quyết từ chối bịt mắt, cất cao bài hát Tiến quân ca và hiên ngang hy sinh ở tuổi 19. Để ghi nhớ công ơn, giai đoạn 1980–1986, địa phương đã xây dựng Khu công viên Tượng đài với bức tượng đồng cao 6m do nhà điêu khắc Trần Thanh Thanh thực hiện. Đến năm 2001–2003, Đền thờ rộng 960 m² tiếp tục được hoàn thiện ngay phía sau tượng đài để lưu giữ tư liệu và đón tiếp khách thăm. Chị Võ Thị Sáu được truy tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân vào năm 1993. Theo: Cổng thông tin Sở Du lịch TP Hồ Chí Minh

TP Hồ Chí Minh

316 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Căn cứ cách mạng Rừng Kiến An

Căn cứ cách mạng Rừng Kiến An

Rừng Kiến An – Địa chỉ đỏ cách mạng Rừng lịch sử Kiến An tọa lạc tại xã An Lập, huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương cũ bây giờ là Thành phố Hồ Chí Minh, có diện tích khoảng 245 ha. Với cảnh quan thiên nhiên xanh mát cùng bề dày truyền thống cách mạng, nơi đây là một trong những căn cứ kháng chiến tiêu biểu của vùng Đông Nam Bộ, đồng thời là điểm tham quan về nguồn mang nhiều ý nghĩa. Trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, rừng Kiến An giữ vai trò là căn cứ chiến lược của nhiều đơn vị cách mạng. Nhờ địa hình rừng già hiểm trở, nằm giữa sông Sài Gòn và sông Thị Tính, nơi đây trở thành địa điểm trú quân, bảo vệ cơ quan đầu não, huấn luyện lực lượng và là bàn đạp cho nhiều trận đánh quan trọng tiến về Sài Gòn. Rừng Kiến An cũng từng là căn cứ của lực lượng an ninh tỉnh Thủ Dầu Một, góp phần bảo vệ vùng giải phóng và hỗ trợ hiệu quả cho phong trào đấu tranh cách mạng. Ngày nay, di tích đã được đầu tư xây dựng nhiều hạng mục như cổng chào, nhà trưng bày truyền thống, khu tái hiện hầm chiến đấu và hệ thống cây xanh phục vụ tham quan, học tập. Năm 2004, căn cứ cách mạng rừng Kiến An được công nhận là Di tích lịch sử cấp tỉnh, trở thành địa chỉ đỏ giáo dục truyền thống yêu nước và lòng tự hào dân tộc cho các thế hệ. Nguồn: Cổng Thông tin điện tử tỉnh Bình Dương (Thành phố Hồ Chí Minh)

TP Hồ Chí Minh

308 lượt xem

Xếp hạng : Đang cập nhật

Mở

Chùa Ngọc Hoàng( Điện Ngọc Hoàng)

Chùa Ngọc Hoàng( Điện Ngọc Hoàng)

Chùa Ngọc Hoàng là tên thường gọi của Điện Ngọc Hoàng, tên chữ là Phước Hải Tự (người Pháp thì gọi là chùa Đa Kao); hiện tọa lạc tại số 73 đường Mai Thị Lựu, phường Đa Kao, quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh. Ngôi chùa vốn là điện thờ Ngọc Hoàng Thượng đế do một người tên Lưu Minh (pháp danh là Lưu Đạo Nguyên, người Quảng Đông, Trung Quốc) xây dựng vào khoảng đầu thế kỷ 20. Năm 1982, Hòa thượng Thích Vĩnh Khương đến tiếp quản điện thờ. Kể từ đó điện thờ này thuộc về Giáo hội Phật giáo Việt Nam. Đến năm 1984, thì điện Ngọc Hoàng được đổi tên là "Phước Hải Tự". Chùa Ngọc Hoàng là một ngôi chùa cổ, làm theo kiểu đền chùa Trung Hoa với mô típ trang trí rực rỡ. Chùa xây gạch, mái lợp ngói âm dương, trang trí bờ nóc, góc mái bằng nhiều tượng gốm màu. Trong chùa có nhiều tác phẩm nghệ thuật: tranh thờ, tượng thờ, bao lam, liễn đối, hương án... bằng các chất liệu: gỗ, gốm, giấy bồi. Khuôn viên chùa rộng khoảng 2.300 m2. Phía trước có ngôi miếu nhỏ đặt tượng Hộ pháp. Cổng tam quan nổi bật với những đường nét uốn lượn hình sóng nước của hai con rồng theo tư thế "tranh châu". Chính điện thờ Ngọc Hoàng Thượng đế, Huyền Thiên Bắc Đế với các thiên binh, thiên tướng. Có phối thờ Quan Thế Âm Bồ Tát, Đại Thế Chí Bồ Tát và một số thần linh quen thuộc trong tín ngưỡng của người Hoa như: thần Thiên Lôi, thần Môn Quan (thần giữ cửa), thần Thổ Địa (thần đất đai), thần Táo Quân (thần lò bếp), thần Hà Bá (thần sông nước), Văn Xương và thần Lã Động Tân (thần văn chương), Thái Tuế (sao giải hạn), Lỗ Ban (thầy dạy nghề), Nữ Oa Thánh Mẫu, 12 bà mụ, 13 đức thầy...Ngoài ra, chùa còn thờ thần Thành hoàng...Nhìn chung, các pho tượng thờ trong điện thờ đều là những tác phẩm điêu khắc gỗ đẹp. Hàng ngày khách trong và ngoài nước đến chiêm bái chùa rất đông. Lễ hội lớn nhất là Vía Ngọc Hoàng diễn ra ngày 9 tháng Giêng (âm lịch) hàng năm, tương truyền là ngày sinh của Ngọc Hoàng Thượng đế. Ngày 15 tháng 10 năm 1994, chùa Ngọc Hoàng được công nhận là một di tích kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia. Nguồn Cổng thông tin điện tử quận 1, thành phố Hồ Chí Minh.

TP Hồ Chí Minh

5413 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia.

Mở