Di tích lịch sử
Việt NamKhu lưu niệm Tô Hiệu
Tô Hiệu sinh năm 1912, là con út trong một gia đình có truyền thống khoa bảng, yêu nước. Cụ nội của Ông là Đốc Nam Tô Ngọc Nữu, được ca tụng là một trong ba người thầy mẫu mực của Bắc Kỳ đương thời. Thân phụ là ông Tô Y, thân mẫu là bà Ngô Thị Lý - con gái của Cụ Ngô Quang Huy, nguyên Đốc học Bắc Ninh, một trong những lãnh tụ chủ chốt của phong trào khởi nghĩa Bãi Sậy cuối thế kỷ XIX. Ngay thừ nhỏ, Tô Hiệu đã tỏ ra là người thông minh và có chí lớn. Cha mất sớm, thân mẫu của Ông cùng với người con cả là Tô Tu phải vất vả nuôi 5 anh em ăn học. Tô Hiệu được cho đi học tại trường tiểu học nam Hải Dương. Năm 1926 khi mới 14 tuổi, Tô Hiệu tham gia phong trào để tang nhà yêu nước Phan Chu Trinh nên bị đuổi học, Ông được anh cả tiếp tục cho lên Hà Nội ăn học. Thời kỳ 1927 - 1929, Tô Hiệu cùng với em họ là Tô Gĩ được kết nạp vào tổ chức Xích Vệ đoàn - một tổ chức thanh niên học sinh do Hội thanh niên Việt Nam cách mạng - tổ chức tiền thân của Đảng lãnh đạo. Thời gian này, Tô Hiệu tham gia rất tích cực vào các hoạt động của hội như mít tinh, biểu tình giăng biểu ngữ trong những ngày kỉ niệm lớn của Quốc tế, đồng thời còn có nhiệm vụ bảo vệ cho đoàn biểu tình và các đồng chí lãnh đạo. Năm 1930, trong một lần đi vận động quyên góp, Tô Hiệu bị mật thám theo dõi, bắt giam và bị kết án 4 năm tù và đày ra Côn Đảo. Chính tại đây, Ông cùng với anh trai Tô Chấn được vinh dự kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương, khi mới 18 tuổi. Tô Hiệu đã được những người cộng sản đàn anh như Tôn Đức Thắng, Ngô Gia Tự tin tưởng, quan tâm dìu dắt và rèn giũa bản lĩnh người Đảng viên trẻ. Năm 1934, mãn hạn tù, Tô Hiệu được thả và bị quản thúc tại quê nhà làng Xuân Cầu. Vượt lên sự bao vây theo dõi của mật thám Pháp, Tô Hiệu vừa tham gia lãnh đạo phong trào yêu nước, nâng cao dân trí, tập hợp quần chúng ở quê nhà, vừa tìm cách phối hợp với các đồng chí trung kiên để khôi phục lại Xứ ủy Bắc Kỳ. Cuối năm 1936, tại một cuộc họp ở nhà đồng chí Tô Hiệu thuê tại phố Hàng Bột (Hà Nội), gồm các đồng chí Hoàng Văn Nọn, Hoàng Quốc Việt, Trường Chinh, Tô Hiệu, Nguyễn Văn Minh, Lương Khánh Thiện, Trần Quý Kiên chính thức khôi phục lại Xứ ủy Bắc Kỳ sau những năm phong trào cách mạng thoái trào, các tổ chức Đảng bị tan vỡ. Tại cuộc họp, Tô Hiệu được bầu là Ủy viên Thường vụ Xứ ủy, phụ trách tuyên truyền, huấn luyện công nhân và trực tiếp tham gia lãnh đạo công tác, hoạt động công khai tại Hà Nội (lúc này Hà Nội chưa có Thành ủy). Cuối năm 1938, Tô Hiệu được Trung ương cử làm Bí thư Liên khu B, bao gồm các tỉnh duyên hải Bắc Bộ và Hải Dương, Hưng Yên; đặc trách Bí thư Hải Phòng. Tháng 12/1939, Tô Hiệu bị mật thám Pháp bắt giữ tại cơ sở ấn loát của Thành ủy. Mặc dù thân thể gầy gò bị căn bệnh lao phổi khi bị đày ở nhà tù Côn Đảo hành hạ, lại bị tra tấn, mua chuộc, nhưng với khí tiết kiên trung và nghị lực của người cộng sản, Ông đã vượt qua mọi thử thách ác liệt. Đồng chí bị kết án tù 5 năm, đày đi nhà ngục Sơn La đầu năm 1940. Đầu năm 1944, lúc này sức khỏe Tô Hiệu gần như suy kiệt, nhưng với tinh thần lạc quan, Tô Hiệu nói với anh em trong Chi bộ: “mình biết chắc chắn mình sẽ chết sớm hơn người khác vì vậy phải tranh thủ thời gian chiến đấu phục vụ cho Đảng”. Trước mấy ngày trút hơi thở cuối cùng, Tô Hiệu đã nhờ đồng chí Hoàng Tùng ghi lại bức di chúc cho Chi bộ nhà tù Sơn La, khuyên anh em ở lại giữ vững tinh thần chiến đấu, phân tích rõ tình hình thế giới và trong nước, sự tất thắng của Cách mạng. Đồng chí trút hơi thở cuối cùng vào ngày 7/3/1944 trong sự thương tiếc của tất cả đồng chí và đồng bào. Nhà cách mạng Tô Hiệu đã hy sinh nhưng Tinh thần Tô Hiệu mãi bất diệt và trở thành một di sản tinh thần quý báu của Đảng và dân tộc, niềm tự hào của các thế hệ con cháu, cũng như người dân trong cả nước. Sự tích Cây đào Tô Hiệu tại nhà ngục Sơn La đã đi vào các trang sách và được coi là biểu tượng của tinh thần lạc quan cách mạng. Nhà Tưởng niệm Liệt sỹ Tô Hiệu được hưng công xây dựng năm 2000, cùng thời gian với việc xây dựng, tôn tạo Đốc Nam Tô Thị Từ Đường (nhà thờ họ Tô chi cụ Đốc Nam Tô Ngọc Nữu). Nhà tưởng niệm đồng chí Tô Hiệu Nhà tưởng niệm gồm 3 gian tiền bái và 1 gian hậu cung, được làm bằng gỗ tứ thiết; các bộ vì được làm kiểu con chồng đấu sen kết hợp với kiểu kèo giá chiêng trụ chốn, tạo cho không gian nội thất được thoáng rộng. Các đề tài trang trí chủ yếu là hoa văn lá lật truyền thống, chủ yếu ở hai bộ vì hồi và trên các đấu sen kê trên các trụ cột. Gian Hậu cung bài trí ban thờ với ảnh và tượng đồng chí Tô Hiệu. Toàn bộ khu nội tự của ba gian nhà thờ dùng để trưng bày những hiện vật và hình ảnh quý về thân thế sự nghiệp và cuộc đời hoạt động của đồng chí Tô Hiệu được sắp xếp từ trái qua phải theo 3 chủ đề: Quê hương Xuân Cầu và gia đình, dòng họ Tô làng Xuân Cầu; Tiểu sử và quá trình hoạt động cách mạng của đồng chí Tô Hiệu; Những tình cảm của các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước và nhân dân đối với đồng chí Tô Hiệu. Nhà thờ Họ Tô chi cụ Đốc Nam - Tô Ngọc Nữu Cùng nằm trong khuôn viên di tích Nhà tưởng niệm đồng chí Tô Hiệu, cổng vào xây gạch chỉ, theo kiểu truyền thống, hai bên trụ cổng đắp nổi đôi câu đối chữ Hán. Công trình nhà thờ họ được thiết kế xây dựng bằng gỗ theo kiến trúc truyền thống; hướng Đông Bắc nhìn ra sông Nghĩa Trụ - một nhánh sông cổ của sông Hồng. Mặt bằng Từ đường có kiến trúc kiểu chữ nhất, xây kiểu tường hồi bít đốc, mái lợp ngói âm dương. Lòng nhà chia làm 5 gian, hệ cửa làm kiểu bức bàn theo kiểu thượng song hạ bản; kết cấu các bộ vì kèo làm bằng gỗ tứ thiết theo kiểu con chồng đấu sen; đề tài trang trí chủ yếu tập trung ở bộ vì hồi và các bức cốn trên vì nách tại hai gian hồi với các đề tài trúc/mai hóa long, các đấu kê và trên các con chồng, đầu các xà nách chạm cánh sen, hoa văn lá lật mềm mại. Gian giữa nhà thờ là nơi đặt khám thờ, bên trong đặt 4 bài vị của các vị liệt tổ họ Tô. Gian hồi Phải trên treo bức đại tự 壽春 (Xuân Thọ) do các học trò của cụ Đốc Nam bái tặng mừng thọ cụ được làm năm Tân Mùi (1871). Giữa sân là cây đào được chiết từ cây đào Tô Hiệu ở nhà tù Sơn La do Tỉnh ủy Sơn La tặng năm 1998. Với những giá trị trên, Khu lưu niệm Tô Hiệu, xã Nghĩa Trụ, huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên đã được Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xếp hạng là Di tích lịch sử quốc gia tại Quyết định số 3080/Quyết Định -Bộ Văn Hóa Thể Thao Du Lịch ngày 27/10/2020./. Nguồn Cục Di sản văn hóa .
Hưng Yên
6563 lượt xem
Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia.
Đình Sầm Khúc
Đình Sầm Khúc (còn gọi là Đình Chằm) thuộc xã Việt Hưng, huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên. Căn cứ vào thần tích, sắc phong, bản kê khai của các Hương lão và Lý dịch làng Sầm Khúc (xưa là làng Mỹ Trạch) do Viện Viễn Đông Bác cổ thu thập vào năm 1938, hiện đang được lưu giữ tại Viện nghiên cứu Hán Nôm và Thư viện tỉnh Hưng Yên và lời kể của các bậc cao niên trong thôn, đình Sầm Khúc là nơi tôn thờ Thành hoàng làng Phổ Cứu Đại vương (thời vua Hùng Vương), có công âm phù giúp các vua dẹp giặc, thiết lập trật tự đất nước, đem lại cuộc sống ấm no cho nhân dân. Trên câu đầu tòa Đại bái có ghi niên đại tuyệt đối năm dựng đình “Duy Tân nhâm tý niên mùi nguyệt giáp dần nhật lương thời thụ trụ thượng lương đại cát” (Ngày mùng 6 tháng 8 năm Nhâm Tý (1912) niên hiệu Duy Tân dựng thượng lương tốt lành). Dựa vào các sắc phong hiện còn, trong đó có đạo sắc phong sớm nhất vào năm Tự Đức thứ 10 (1856), có thể biết đình Sầm Khúc đã tồn tại từ trước thời điểm đó. Đình Sầm Khúc được khởi dựng trên một khu đất cao, thoáng, mặt tiền quay hướng Tây Nam. Ngôi đình có bố cục mặt bằng hình chữ Đinh. Nhìn từ ngoài vào, trước mặt đình là hồ nước, giữa hồ nước và Nghi môn là con đường làng chạy qua. Qua Nghi môn là một khoảng sân rộng, trong cùng là kiến trúc của ngôi Đại đình bề thế, uy nghiêm và Hậu cung. Các cấu kiện và thành phần kiến trúc đều được làm bằng gỗ tứ thiết mang đậm phong cách mỹ thuật thời Nguyễn còn đồng bộ, vững chắc. Nghi môn được làm theo kiểu tứ trụ (lồng đèn) tạo thành 3 cửa ra vào. Tòa Đại bái là hạng mục có diện tích lớn nhất tại đình Sầm Khúc gồm 05 gian được làm theo kiểu tường hồi bít đốc với kích thước dài 19,3m, rộng 10,17m, cao 6,4m (tính từ nóc mái xuống nền đình). Bốn phía xung quanh nền Đại bái đều được bó vỉa bằng gạch chỉ, cao 0,65m so với sân đình, phía ngoài phủ vữa áo. Phần móng được gia cố vững chắc. Mặt nền lát gạch bát (30cm x 30cm), mạch chữ công. Từ sân có bậc xây bằng gạch dẫn lên hiên Đại bái. Kết cấu kiến trúc Đại bái gồm có 6 bộ vì, với 24 cột gỗ (12 cột cái, 12 cột quân), kiểu 4 hàng chân cột. Khoảng cách giữa cột cái trước với cột cái sau là 4,22m, cột cái với cột quân là 2,05m. Các cột đứng trên chân tảng bằng đá xanh không trang trí hoa văn. Nâng đỡ phần mái tòa Đại bái là các bộ vì nóc và vì nách. Hệ thống vì nóc Đại bái đình Sầm Khúc đều được làm theo kiểu “chồng rường trụ trốn”. Các vì nách tòa Đại bái đình được tạo tác theo hai dạng: “bán chồng rường” ở các gian bên và “cốn mê” tại gian giữa. Tòa Hậu cung là hạng mục gồm 03 gian, nằm song song với tòa Đại bái, được làm theo kiểu tường hồi bít đốc, có kích thước 7,9m x 7,1m (khoảng cách giữa hai cột cái là 2,8m; cột cái đến cột quân 1,67m). Trung tâm Hậu cung là nơi đặt ban thờ Thành hoàng làng Phổ Cứu Đại vương. Mặt nền lát gạch 20cm x 20cm, mạch chữ công. Móng được bó vỉa bằng gạch đỏ phủ vữa áo. Điều đặc biệt tại Hậu cung đình làng Sầm Khúc hiện vẫn còn giữ lại được một phần kiến trúc ván sàn gỗ của ngôi đình cổ xưa. Hậu cung có kết cấu kiểu 4 hàng chân cột với 6 cột cái và 10 cột quân (cột cái có đường kính 300mm, cột quân có đường kính 250mm). Nâng đỡ hoành mái là các bộ vì nóc, vì nách và hệ thống cột gỗ kê lên chân tảng. Hậu cung có 03 bộ vì nóc làm kiểu “chồng rường”, không trang trí hoa văn. Các chạm khắc ở đây tập trung trên các thành phần cấu kiện kiến trúc, làm nên vẻ đẹp hoàn mỹ của công trình, mang phong cách nghệ thuật chủ đạo thời Nguyễn với nhiều đề tài trang trí khá phong phú, đa dạng làm cho ngôi đình trở nên sinh động và đạt giá trị kiến trúc nghệ thuật đỉnh cao trong nền nghệ thuật thời Nguyễn. Trong đó, hình tượng tứ linh với rồng là chủ đạo trong các mảng chạm, ngoài ra còn có các trang trí như tứ linh hoá tứ quý, tứ quý (tùng, cúc, trúc, mai), lá lật, vân mây, hoa văn chữ Thọ,… Đình Sầm Khúc là một công trình kiến trúc độc đáo, nơi lưu giữ được nhiều di vật quý giá cả về văn hóa vật thể lẫn phi vật thể. Hầu hết trên tất cả các cấu kiện và thành phần kiến trúc đều chạm khắc dầy đặc các đề tài trang trí phong phú, đa dạng thể hiện hình tượng các linh vật, hoa văn cây cỏ trong trạng thái động. Hiện đình Sầm Khúc còn lưu giữ được những di vật, cổ vật quý hiếm, có giá trị tiêu biểu: thần tích, đại tự, cuốn thư, sắc phong, chuông đồng, ngai và bài vị, cửa võng, kiệu,...Ngoài các dấu tích vật chất có giá trị lịch sử và nghệ thuật, đình Sầm Khúc còn là nơi diễn ra những sinh hoạt văn hoá tâm linh của người dân nơi đây, phản ánh rõ nét tính cộng đồng làng xã đồng thời nêu cao đạo lý “uống nước nhớ nguồn”. Những nghi thức sinh hoạt tín ngưỡng lễ hội, những trò chơi dân gian truyền thống đã phản ánh đời sống xã hội của cư dân nơi đây. Với những giá trị trên, Đình Sầm Khúc, xã Việt Hưng, huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên đã được Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xếp hạng là Di tích kiến trúc nghệ thuật quốc gia theo Quyết định số 3078/Quyết Định -Bộ Văn Hóa Thể Thao Du Lịch ngày 27/10/2020./. Nguồn Cục Di sản văn hóa .
Hưng Yên
6571 lượt xem
Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia.
Chùa Ông
Chùa Ông hay có tên gọi khác là Bản Tịch tự, toạ lạc tại thôn Bình Lương, xã Tân Quang, huyện Văn Lâm. Ngôi chùa mang vẻ đẹp cổ kính, linh thiêng được xây dựng từ thời vua Lý Thần Tông đến nay đã gần 1000 năm tuổi. Đây là niềm tự hào của người dân Văn Lâm nói riêng và là di tích lịch sử văn hóa có giá trị lâu đời của xứ nhãn Hưng Yên. Cách trung tâm Thủ đô Hà Nội khoảng 19km, dọc theo tuyến Quốc lộ 5 hướng Hà Nội - Hải Phòng, rẽ phải vào thôn Bình Lương, xã Tân Quang (huyện Văn Lâm) là ngôi chùa cổ được nhân dân nơi đây gọi là chùa Ông. Theo văn bia của chùa (nay chỉ còn thác bản hiện lưu trữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm), ngôi chùa được khởi dựng dưới thời vua Lý Thần Tông (1128 - 1138). Văn bia mang ký hiệu 5527 - 5528, trên trán bia đề: Bản Tịch tự bi minh, niên đại bia đề thời Lê Chính Hòa thứ 20 (1644), nội dung bia ghi việc thờ đức Thiền sư Từ Đạo Hạnh và ý nghĩa việc đặt tên chùa là chùa Bản Tịch. Chùa Ông dưới thời Lê là nằm trên địa phận hai thôn Bình Lương, Lương Xá, xã Đình Loan, huyện Gia Lâm, phủ Thuận An thuộc xứ Kinh Bắc. Năm Minh Mạng thứ 13 (1834) đổi thành tỉnh Bắc Ninh. Tới cuối đời Nguyễn mới gọi là huyện Văn Lâm thuộc tỉnh Hưng Yên. Trong chùa hiện còn tượng đồng Thiền sư Từ Đạo Hạnh, vua Lý Thần Tông (đời thứ 5 nhà Lý - cũng là hiện thân Từ Đạo Hạnh sau sự trút xác ở núi Thầy). Chùa được bố trí hài hòa cân xứng theo kiểu chữ Tam bao gồm các hạng mục: Tiền đường, trung từ và hậu cung. Năm 1938, chùa được trùng tu, tôn tạo lại, kết cấu các vì theo kiểu chồng rường bào trơn có điểm hoa văn. Toàn bộ khung, cột của ngôi cổ tự được làm bằng gỗ lim rắn chắc, kết hợp với kiến trúc cổ chạm khắc công phu tạo cho tòa tiền đường một thế vững chắc mang tính nghệ thuật cao. Đến đây, du khách sẽ được chiêm ngưỡng vẻ đẹp cổ xưa của ngôi chùa mang kiến trúc nghệ thuật rất công phu và độc đáo. Bước vào cổng chùa là không gian an yên, tĩnh tại với mái chùa rêu phong trầm mặc. Theo sách sử, chùa Ông được vua Lý Thần Tông xây dựng vào mùa xuân. Do vậy, mỗi dịp xuân về, nhân dân thôn Bình Lương nói riêng và nhân dân xã Tân Quang cùng du khách thập phương lại tụ hội về đây mở hội, làm lễ dâng hương để tưởng nhớ đến người đã có công đánh giặc giữ nước, dựng chùa. Lễ hội truyền thống chùa Ông diễn ra vào 3 ngày, từ ngày 7 tháng 3 đến ngày 9 tháng 3(Âm lịch) trong đó ngày 9 tháng 3 là hội chính. Năm 2001, Chùa được Bộ Văn hóa Thông tin xếp hạng là di tích kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia, là niềm tự hào của người dân Văn Lâm. Nguồn Cục di sản văn hóa .
Hưng Yên
6840 lượt xem
Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia.
Đình Đại Hạnh
Ngày 16/5/2024, Bộ trưởng Bộ văn hóa Thể thao và du lịch đã ký ban hành quyết định số 1328/Quyết Định - Bộ Văn Hóa Thể Thao Du Lịch về việc xếp hạng di tích kiến trúc nghệ thuật cấp Quốc gia đối với Đình Đại Hạnh, xã Hoàn Long, huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên. Đình Đại Hạnh là một trong số rất nhiều di tích trong tỉnh Hưng Yên thờ Đức Thánh Chử Đồng Tử - Tiên Dung công chúa và Tây Sa công chúa thời Hùng Vương thứ 18. Đây là Tam vị Thánh hóa được liệt vào hàng Tứ bất tử trong hệ thống linh thần Việt Nam. Đồng thời, chúng ta có thể coi Chử Đổng Tử là ông tổ của ngành thương mại Việt Nam, là người đầu tiên mở mang việc buôn bán, thông thương Quốc tế. Đình Đại Hạnh được khởi dựng từ sớm, trùng tu vào các thời Hậu Lê, Nguyễn. Hiện tại đình có bố cục mặt bằng tổng thể hình chữ Công gồm tòa Đại bái 03 gian 02 chái, Ống muống 01 gian và Hậu cung 03 gian. Các cấu kiện kiến trúc được làm bằng gỗ với nhiều mảng chạm khắc đẹp, đặc biệt là tòa Đại bái vẫn giữ được gần như nguyên vẹn dấu ấn kiến trúc chạm khắc tiêu biểu thời Hậu Lê thể hiện nhiều đề tài trang trí, các điển tích dân gian vô cùng phong phú và đa dạng như: tứ linh, tứ quý, tùng lộc, chim trĩ,... mang đậm phong cách kiến trúc và mỹ thuật thời Hậu Lê, thời Nguyễn. Ngoài ra, tại đình còn lưu giữ nhiều di vật tiêu biểu có giá trị như: Đại tự, câu đối,… Theo quyết định, Khu vực bảo vệ di tích được xác định theo Biên bản và Bản đồ khoanh vùng các khu vực bảo vệ di tích trong hồ sơ. Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch giao Uỷ Ban Nhân Dân các cấp nơi có di tích được xếp hạng, trong phạm vi nhiệm vụ và quyền hạn của mình, thực hiện việc quản lý Nhà nước đối với di tích theo quy định của pháp luật về di sản văn hóa. Nguồn Sở văn hóa thể thao và du lịch.
Hưng Yên
6397 lượt xem
Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia.
Đình Thọ Nham Hạ
Theo Thần tích, Thần sắc của huyện Kim Động và những tư liệu tại địa phương, đình Thọ Nham Hạ thờ Thánh Tam Giang hay còn gọi là Tam Giang Đại Vương. Ông sinh ra trong một gia đình có 5 anh em vào đời vua tiền Lý Nam đế, từng theo Triệu Quang Phục đánh giặc Lương. Đình được khởi dựng từ rất sớm. Ban đầu, ngôi đình có quy mô nhỏ, làm bằng vật liệu tranh tre, nứa, lá đơn giản. Trải qua thời gian, đình được trùng tu, tôn tạo nhiều lần dưới thời Hậu Lê và thời Nguyễn. Dấu ấn kiến trúc hiện tại của ngôi đình là từ lần trùng tu lớn dưới thời Nguyễn niên hiệu Bảo Đại thứ 15 (1940) với quy mô kiến trúc bề thế, gồm nhiều hạng mục công trình: Đại bái, Hậu cung, nghi môn, giếng đình, giải vũ, nhà bia,... Nghi môn đình Thọ Nham Hạ gồm ba cổng: Cổng giữa xây dạng cột trụ biểu rộng và cao hơn hẳn so với hai cổng phụ. Đỉnh cột trụ chính đắp “tứ phượng tụ vĩ” (4 con chim phượng chụm đuôi vào nhau). Phần ô lồng đèn trang trí tứ linh (long, lân, quy, phượng), hổ phù ngậm chữ Thọ. Thân trụ xây vuông, đắp gờ, kẻ nổi và đắp câu đối chữ Hán. Hai cổng phụ làm kiểu chồng diêm hai tầng tám mái, đường bờ nóc đắp con kìm ngậm đầu bờ nóc, chính giữa là hình tượng mặt trời với các đao lửa. Mái trên và dưới đắp giả ngói ống, các đầu đao trang trí hoa văn mềm mại. Phần cổ diêm đắp nổi chữ Hán. Thân cổng phụ xây vuông, đắp gờ, kẻ nổi và đắp câu đối chữ Hán. Qua khoảng sân rộng là đến khu thờ chính có kết cấu kiểu chữ Đinh (丁) gồm 05 gian 02 chái Đại bái và 03 gian Hậu cung, mặt tiền hướng Tây Nam, các cấu kiện kiến trúc được làm bằng gỗ mang đậm nét kiến trúc thời Nguyễn. Đại bái làm kiểu tường hồi bít đốc, mái lợp bằng ngói ta. Bờ nóc là một đường xây bằng gạch, phủ vữa áo tạo những đường gờ chạy song song. Trung tâm bờ nóc đắp hình lưỡng long chầu nhật, rồng uốn ba khúc khỏe mạnh, đầu vươn cao. Kết thúc đường bờ nóc là hai đấu vuông thót đáy và hai con kìm dạng đầu rồng há miệng ngậm bờ nóc, đuôi là một vân xoắn có dạng dấu hỏi “?” ngược lớn chạy từ đầu vươn ra phía sau, toàn thân chầu về phía trung tâm bờ nóc. Bờ dải được xây vuông góc với đường bờ nóc theo kiểu giật cấp để nguyên không trang trí. Cuối bờ dải là hai bức tường lửng và hai cột trụ biểu. Cột đồng trụ cao 7m, đỉnh cột đắp long cuốn ổ cách điệu quả dành dành, 4 chân quỳ, 4 góc đắp 4 phượng. Phần ô lồng đèn đắp nổi tứ linh (long, lân, quy, phượng). Thân cột xây vuông, đắp gờ, kẻ nổi và thể hiện 3 đôi câu đối chữ Hán. Ngăn cách giữa Đại bái và hiên là ba luồng cửa. Cửa đình được làm theo lối cửa bức bàn. Mỗi cửa gồm bốn cánh dựng song song với nhau trên bậu cửa nối hai cột quân lại tạo ra sự kết nối liên hoàn, chắc chắn giữa các thành tố bộ phận trong tổng thể kiến trúc ngôi đình. Các cánh cửa đều có trụ xoay, cài then, chốt gióng. Đỡ cửa bức bàn là ngưỡng để hệ thống cửa không tiếp xúc với đất gây ẩm mốc, hư hỏng, trang trí hoa văn triện tàu lá mái. Phần trên khuôn cửa để hàng chấn song con tiện và các khoảng ô sa chạm trang trí tứ linh, tứ quý. Nền Đại bái lát gạch vuông. Bộ khung chịu lực toà này được định vị vững chắc bởi hệ thống cột cái, cột quân, xà, vì,... Hệ thống cột đứng song hàng thành từng cặp (gồm 12 cột cái và 12 cột quân). Các cột trong vì đều có kết cấu “thượng thu hạ thách”, được kê lên chân tảng. Các bộ vì tòa Đại bái được làm theo kiểu “vì chồng rường”. Các con rường được tạo tác nổi khối, to khỏe tạo sự vững chắc, trang trí hoa văn lá lật mềm mại, kê trên các đấu vuông trang trí chữ Thọ. Vì nách làm kiểu cốn mê, trang trí tứ linh (long, lân, quy, phượng), tứ quý (tùng, trúc, cúc, mai) rất sinh động. Dưới quá giang là hai đầu dư được trang trí thành hai đầu rồng với các đao mác lượn sóng, râu tóc dài bay ra phía sau và cá hóa long. Bộ phận này có tác dụng chịu lực và trang trí làm giảm bớt đi sự thô cứng cho các bộ vì. Hậu cung đình gồm 03 gian, được chia thành hai phần, ngăn cách bằng hệ thống cửa gồm: Hậu cung ngoài 01 gian và cung cấm 02 gian. Cũng giống như tòa Đại bái, các bộ vì Hậu cung được làm theo kiểu “vì chồng rường”. Toàn bộ phần mái Hậu cung được đặt trực tiếp lên hệ thống cột, tường bao xung quanh và được lợp ngói ta. Hậu cung ngoài thông phong với tòa Đại bái. Đặc biệt, tại đây còn lưu giữ một bát hương sứ men xanh ngọc, nổi rõ các vân mây, 5 ô hoa văn long hóa giữa chữ Thọ, có niên đại thời Lê Cảnh Hưng. Bên phải ban thờ Tam Giang Đại vương đặt ban thờ Quế Hoa Công chúa. Tượng bà Quế Hoa được đặt trong khám thờ chạm trang trí kiểu khám trúc, lèo kép, lồng khung kính. Tượng làm bằng đồng, cao 61cm, dày vai 32cm, dày hông 43cm. Tượng được tạc trong tư thế ngồi trên bệ sơn son thiếp vàng hình bát giác, dáng thư thái như bà chúa trong triều, gương mặt đẹp; cổ kiêu 3 ngấn, tai đeo nụ vàng, đầu đội mũ vương miện, cổ đeo dây chuyền 4 vòng, mình mặc áo gấm, trên áo trang trí chạm đúc nổi các đồng tiền vàng giữa chữ Thọ. Tay trái để úp vào đùi, tay phải để trên đùi nghiêng vào lòng. Ngoài ra, trên ban thờ còn bài trí nhiều đồ thờ có giá trị như: đỉnh đồng, chân nến đồng, bát hương sứ,… Hiện nay, đình Thọ Nham Hạ còn lưu giữ được một số hiện vật, đồ thờ được chạm khắc đẹp, có giá trị về mặt lịch sử và mỹ thuật có niên đại thời Hậu Lê và Nguyễn như: bát hương sứ men ngọc, 04 bức đại tự, 03 đôi câu đối, 03 bức châm, 04 sắc phong (1 Thành Thái, 3 Khải Định), 02 khám thờ, 01 đỉnh đồng, tượng Quế Hoa công chúa,… Với những giá trị tiêu biểu trên, đình Thọ Nham Hạ, xã Thọ Vinh, huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên được Bộ trưởng Bộ Văn hóa – Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) xếp hạng là Di tích kiến trúc nghệ thuật quốc gia theo Quyết định số 78/2004/Quyết Định -Bộ Văn Hóa Thông Tin ngày 23/8/2004./. Nguồn Cục di sản văn hóa .
Hưng Yên
6028 lượt xem
Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia.
Đình Đồng Hạ
Đình Đồng Hạ nằm trên một thế đất cao ráo, thoáng mát ngay trung tâm của làng, phía trước là ao đình - nơi hội tụ những điều may mắn. Căn cứ vào bia ký niên hiệu Cảnh Trị thứ 4 sắc phong di tích có từ thời Hậu Lê (1783) do nhân dân xã Đức Chiêm xây dựng đã trùng tu lần 1 vào năm Canh Ngọ đời Nguyễn và lần 2 vào năm 1991. Đình Đồng Hạ thờ Lưu Lang đại vương có công cùng Đinh Bộ Lĩnh dẹp yên 12 xứ quân. Đình còn ghi lại nhiều sự kiện lịch sử của địa phương trong thời kỳ cách mạng kháng chiến chống Pháp và Mỹ. Kiến trúc đình được xây dựng theo kiểu chữ Đinh gồm: Đại Bái và Hậu Cung. Đứng từ xa ta có thể nhìn thấy 4 mái của di tích với 4 đầu đao cong vút nhờ một hệ thống kết cấu đặc biệt gọi là tầu đao lá mái. Để tạo nên sự uy linh cho di tích, các nghệ nhân xưa đã đắp nổi hình rồng chầu, phượng mớm và nghê nằm soài chầu nhau. Bờ nóc, bờ dải, bờ guột của đình được trang trí hình ô hoa chanh, đây là đặc điểm nghệ thuật thường xuất hiện ở thế kỷ XVII. Đại Bái có 5 gian 2 dĩ dài thông thủy, mỗi gian rộng 4m, mỗi dĩ rộng 0,7m với tổng diện tích 300m2. Toàn bộ hệ thống cột được làm bằng gỗ lim nguyên cây theo kiểu “thượng thu hạ thách” và đặt trên các tảng đá kê theo kiểu âm dương “dưới vuông trên tròn”. Hai gian giữa có hai bộ vì làm theo kiểu giá chiêng chồng giường và được cách điệu hóa hình hoa văn guột lá, hình đao mác; những đấu kê chạm khắc hình chữ Thọ; các mảng cốn được chạm khắc nổi hình đuôi rồng và nối tiếp với các đầu dư. Các đầu dư thời Lê hình đao hỏa uy nghi, uy quyền. Vì vậy, đứng ở dưới nhìn lên sẽ thấy hình một con rồng nguyên vẹn. Hậu cung gồm 3 gian với kiểu kiến trúc giá chiêng đơn giản bằng gỗ lim. Ở giữa là một ban thờ được bài trí hai ngai thờ Lê, chân ngai quỳ theo kiểu hổ phù. Hai tay ngai cách điệu phượng bay. Bài vị trang trí rồng, hoa chanh... Hiện nay, Đình Đồng Hạ còn lưu giữ được một số hiện vật quý giá như bia lưu lễ ghi niên hiệu Cảnh Trị thứ 4, bia hậu Khải Định thứ 5, kiệu bát cống, long ngai, bài vị, đỉnh, nến đồng, sắc phong... Đình vẫn được bảo quản, giữ gìn tốt, là nơi sinh hoạt văn hóa, tín ngưỡng của nhân dân địa phương. Với những giá trị trên, đình Đồng Hạ, xã Đức Hợp, huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên được Bộ trưởng Bộ Văn hóa – Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) xếp hạng là Di tích kiến trúc nghệ thuật quốc gia theo Quyết định số 78/2004/Quyết Định -Bộ Văn Hóa Thể Thao ngày 23/8/2004./. Nguồn Cục Di Sản Văn Hóa .
Hưng Yên
6232 lượt xem
Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia.
Đền Phù Ủng
Đền Phù Ủng toạ lạc ở làng Phù Ủng, xã Phù Ủng. Đây là một quần thể kiến trúc đồ sộ, phong phú và độc đáo gồm phần chính đền và nhiều công trình phụ trợ hợp thành, được phân bố dải rác, xen kẽ với khu dân cư. Theo thuyết phong thuỷ, cụm di tích được xây dựng trên khu đất đầu rồng, là nơi dương trạch tốt với thế đất “Thất linh ứng hậu, hình nhân bái tướng, voi quỳ ngựa phục, bên bút bên nghiên, bên cờ bên kiếm, ở giữa có mô hòn ngọc, cạnh dòng sông Cửu Yên như rồng uốn khúc, mà đầu rồng là khu đất dựng đền nhô hẳn ra khỏi làng”. Đền Phù Ủng thờ Phạm Ngũ Lão (1255 - 1320), một danh tướng văn võ song toàn, được Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn hết sức tin cậy, rèn luyện, tiến cử với triều đình và trở thành vị tướng phò tá 3 đời vua nhà Trần. Ông sinh ra tại làng Phù Ủng, huyện Đường Hào, phủ Thượng Hồng, tỉnh Đông (nay là thôn Phù Ủng, xã Phù Ủng). Cuộc đời ông gắn liền với chiến trận và những chiến công vang dội, hiển hách góp phần cùng với quân dân nhà Trần đánh thắng giặc Nguyên Mông xâm lược, đem lại thái bình cho đất nước và cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho Nhân dân. Phạm Ngũ Lão mất tại phủ đệ vua ban ở Thăng Long và được nhà vua phong là “Thượng đẳng phúc thần”. Ngôi đền là một quần thể di tích có kiến trúc đồ sộ, quy mô rộng lớn khá hoàn chỉnh được chia làm hai khu: Khu trong và khu ngoài. Khu ngoài gồm đền thờ chính Điện súy thượng tướng quân Phạm Ngũ Lão. Chính điện gồm 5 gian Tiền tế, ống muống và 03 gian Hậu cung đặt tượng thờ tướng quân Phạm Ngũ Lão, được đúc bằng đồng có niên đại thời Nguyễn nặng 300kg ở tư thế ngồi; Bên trái là Lăng thờ Đức Tiên Công, bên kia đường là điện thờ Nhũ mẫu; Khuê Văn Các kết cấu hình bát giác… Khu trong được bố cục theo kiểu “Tiền Thần hậu Phật” gồm đền thờ công chúa Tĩnh Tuệ (con gái Phạm Ngũ Lão), chùa Bảo Sơn (Cảm Ân tự), lăng Quốc công Vũ Hồng Lượng được làm bằng đá xanh với kiến trúc nghệ thuật chạm khắc đá tiêu biểu, đặc sắc thời Hậu Lê thế kỷ XVII. Hiện nay, tại quần thể di tích đền Phù Ủng còn lưu giữ một số hiện vật có giá trị về mặt lịch sử cũng như nghệ thuật đó là hệ thống điêu khắc đá, tượng đồng, đại tự, câu đối, chén bạc thời Nguyễn, sắc phong,… Lễ hội truyền thống đền Phù Ủng được tổ chức từ ngày 11 đến ngày 13 tháng Giêng âm lịch, để kỷ niệm ngày ra quân của tướng quân Phạm Ngũ Lão. Trong lễ hội bao gồm phần lễ và phần hội kết hợp vừa trang trọng, tôn nghiêm, vừa rộn ràng, vui tươi. Đây là một trong những lễ hội đầu xuân lớn của tỉnh thu hút đông đảo Nhân dân tham gia. Phần hội có tổ chức các trò chơi dân gian như: Cờ tướng, chọi gà, múa rối, kéo co, hát quan họ, xin chữ đầu xuân, hội thi vật cù, nhảy mô đống… thu hút đông đảo du khách đến xem và tham gia. Bên cạnh các trò chơi dân gian, một số hoạt động thể thao như: bóng chuyền, cầu lông, cờ tướng… diễn ra sôi nổi giúp người dân được hòa mình vào lễ hội cũng như có dịp vui chơi, nghỉ ngơi, cầu mong một năm làm việc may mắn. Lễ hội mang đậm giá trị văn hóa sâu sắc, đây không chỉ là dịp tưởng nhớ công lao của danh tướng họ Phạm mà còn giáo dục cho những thế hệ sau về ý chí vươn lên, về lòng yêu nước, minh chứng về nền văn hiến lâu đời của dân tộc. Từ những giá trị tiêu biểu, đặc sắc đó khu di tích đền Phù Ủng được Bộ Văn hóa xếp hạng là di tích “Lịch sử” cấp Quốc gia theo Quyết định số 1288-Văn Hóa /Quyết Định ngày 16/11/1988. Nguồn Cổng thông tin điện tử huyện Ân Thi , tỉnh Hưng Yên.
Hưng Yên
6537 lượt xem
Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia.
Đền Trà Phương ( Đậu Chè )
Đền Trà Phương (tên nôm là đền Chè Nhang, đậu Chè) toạ lạc ở trung tâm thôn Trà Phương, xã Hồng Vân, nơi có thế đất đẹp và thoáng mát, mặt tiền quay hướng Nam. Theo tương truyền thì đền được xây dựng trên thế đất “rồng chầu, hổ phục” nên nhiều người con của quê hương thành danh trên mọi miền đất nước. Đền được xây dựng để thờ thiên thần là Ngọc Hoàng thượng đế, Thái Thượng Lão quân; thờ vọng Hưng Đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn - người có công lãnh đạo quân dân nhà Trần ba lần đánh thắng quân Nguyên - Mông xâm lược nước ta. Ngoài ra, đền còn thờ Thành hoàng bản thổ, gia tiên 12 dòng họ và các vị danh nhân có công lập ấp dựng làng, chống ngoại xâm. Thời chiến tranh, ngôi đền còn là căn cứ địa cách mạng của một vùng rộng lớn thuộc phía Nam Hưng Yên, là trung tâm truyền bá cách mạng, một cơ sở giáo dục truyền thống yêu nước qua nhiều thế hệ, là nơi che dấu bảo vệ nhiều cán bộ trung ương, tỉnh, huyện về chỉ đạo kháng chiến và phục vụ nhiều hội nghị tại đền lúc bí mật cũng như lúc công khai. Đền được khởi dựng dưới thời vua Lê Trang Tông và được trùng tu vào thời Nguyễn. Hiện nay, đền có kiến trúc kiểu “nội Công ngoại Quốc” gồm: Tiền tế, Ống muống, Hậu cung và hai dãy Giải vũ. Tiền tế được trùng tu lại vào năm Thành Thái thứ 18 (1906), toà này còn lưu giữ nhiều mảng chạm khắc đẹp nhất là các bộ vì nách gian trung tâm chạm các đề tài tứ quý hoá rồng, tứ linh với đường nét tinh xảo. Toà Ống muống gồm 05 gian, kết cấu dọc được xây dựng vào năm Minh Mệnh thứ nhất (1820), các bộ vì được tạo tác kiểu con chồng đấu sen, các bức cốn chạm nổi đầu rồng chầu, đề tài tứ linh. Hậu cung gồm có 03 gian dài, kiến trúc đơn giản nhưng đây là hạng mục còn lưu giữ dấu tích từ khi khởi dựng đền. Hiện nay, tại đền còn lưu giữ một số hiện vật rất có giá trị như: chén sứ, bát hương, lục bình, nhang án,…Để tưởng nhớ đến công lao các vị thần, dân làng thường tổ chức lễ hội vào 02 dịp là ngày mồng 09 tháng 11 và mồng 08 tháng 03 âm lịch hằng năm. Trong lễ hội thường có lễ cầu phúc, cầu lộc, lễ tế nước, đốt cây bông và nhiều trò chơi dân gian. Ngày nay, lễ hội diễn ra đơn giản hơn nhưng vẫn đảm bảo được các nghi thức truyền thống và thu hút đông đảo nhân dân, khách thập phương tham gia. Từ những giá trị vốn có, đền Trà Phương được xếp hạng là di tích “Lịch sử và kiến trúc - nghệ thuật” cấp Quốc gia theo Quyết định số 68-Văn Hóa /Quyết Định ngày 29/1/1993 của Bộ Văn hóa- Thông tin. Nguồn Cổng thông tin điện tử huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên.
Hưng Yên
6402 lượt xem
Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia.
Đình Đào Quạt
Đình Đào Quạt toạ lạc trên một khu đất cao ráo, thoáng đãng giữa thôn Đào Quạt, xã Bãi Sậy. Xưa kia người dân thôn Đào Quạt nổi tiếng với nghề làm quạt và họ rất tự hào về ngôi đình làng truyền thống của thôn mình. Theo thần tích, đình Đào Quạt là nơi tôn thờ Đào Công Chí, một võ tướng thời Lý có công giúp đánh giặc Chiêm Thành đầu thế kỷ XI, đem lại cuộc sống thanh bình, ấm no cho Nhân dân. Khi mất, vua Lý vô cùng thương xót vị tướng tài của mình, sai quần thần hành lễ điếu văn, ban thưởng nhiều vàng bạc để làm hương hỏa, lập miếu thờ và phong ông là bậc Đại vương. Ông được Nhân dân địa phương tôn thờ làm Thành hoàng làng. Tương truyền, đình Đào Quạt được khởi dựng sau khi tướng quân Đào Công Chí mất, ban đầu chỉ là một ngôi miếu nhỏ. Thời Hậu Lê, Nhân dân đã tiến hành tu sửa lại. Đến thời Nguyễn, đình được trùng tu với quy mô lớn. Hiện nay, đình có kiến trúc kiểu chữ Công gồm 05 gian Tiền tế, kiến trúc kiểu con chồng đấu sen. Trung từ 03 gian, các bộ vì kiểu chồng rường giá chiêng. Hậu cung 03 gian, kết cấu vì đơn giản kiểu chồng rường. Trên các bức cốn, hệ thống đầu dư chạm khắc cầu kỳ, tinh xảo các đề tài tứ linh và quần long,...Đình còn lưu giữ nhiều hiện vật có giá trị như: 18 đạo sắc phong từ thời Lê đến thời Nguyễn, bia đá niên đại năm 1758, phỗng đá, 03 tảng đá hoa sen thời Lê với 09 cánh sen cách điệu rất sinh động. Hằng năm, vào ngày mồng 10 tháng Giêng âm lịch, Nhân dân lại tổ chức lễ hội long trọng để tưởng nhớ ngày mất của tướng quân. Trước kia, trong lễ hội có tổ chức tế lễ, rước kiệu, rước ngai và tượng của thần, rước sắc và có hát trống quân. Ngày nay, lễ hội được tổ chức đơn giản song vẫn đảm bảo các nghi thức văn hoá truyền thống. Với những giá trị tiêu biểu về kiến trúc, đình Đào Quạt đã được Bộ Văn hóa - Thông tin ban hành Quyết định số 141-Quyết Định/Văn Hóa ngày 23/01/1997 xếp hạng là di tích “Kiến trúc - nghệ thuật” cấp Quốc gia. Nguồn Cổng thông tin điện tử huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên.
Hưng Yên
6191 lượt xem
Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia.
Đình Thượng Đào Xá
Đình Đào Xá xây dựng trên một khu đất cao, thoáng đãng ở phía Bắc làng Đào Xá, xã Đào Dương. Vùng đất này do dòng họ Đào khai phá, mở mang từ thủa sơ khai. Đình có mặt tiền của đình quay hướng Nam. Đình Đào Xá thờ Linh Lang Đại Vương là Hoàng tử con Vua Lý Thánh Tông. Ngài có công cùng các tướng sỹ thân chinh cầm quân đánh đuổi giặc giã, giữ yên bờ cõi, bảo vệ cuộc sống bình yên cho Nhân dân. Khi mất, ngài được Nhân dân ở nhiều nơi tôn thờ, trong đó có làng Đào Xá tôn ngài làm Thành hoàng làng. Đình được xây dựng từ thời Hậu Lê, trùng tu thời Nguyễn với kết cấu kiểu chữ Đinh gồm Đại bái 05 gian 02 dĩ và Hậu cung 04 gian. Các bộ vì làm kiểu chồng rường đấu kê. Tại đình còn bảo lưu được nhiều mảng cốn, cấu kiện chạm khắc hoa văn thời Hậu Lê còn rất đậm nét như: long quần tụ, đầu dư, đao lửa,… thể hiện trình độ cao của các nghệ nhân xưa với các chi tiết vô cùng đặc sắc và tinh xảo. Đình còn lưu giữ một số hiện vật, đồ thờ rất có giá trị như: 01 kiệu bát cống thời Lê, ngai thờ, câu đối, đỉnh đồng, bát hương sứ. Hằng năm, vào ngày 10 tháng 3 và ngày 10 tháng 10 âm lịch dân làng tổ chức lễ hội để tưởng nhớ tới công lao của thần là người có công cứu nước giúp dân. Đình Đào Xá được Bộ Văn hóa - Thông tin ban hành Quyết định số 22/1999-Quyết Định - Bộ Văn Hóa Thông Tin xếp hạng là di tích “Kiến trúc nghệ thuật” cấp Quốc gia ngày 6/4/1999. Nguồn Cổng thông tin điện tử huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên.
Hưng Yên
5673 lượt xem
Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia.









