Di tích lịch sử

Việt Nam
Chùa Kênh ( Chùa Hưng Phúc )

Chùa Kênh ( Chùa Hưng Phúc )

Nằm trong chùa Hưng Phúc, còn gọi là chùa Kênh (xã Quảng Hùng, TP Sầm Sơn), được xây dựng vào cuối mùa đông năm Giáp Tý, niên hiệu Khai Thái nguyên niên (1324) thời vua Trần Minh Tông (1314-1329), tấm bia là tài liệu gốc duy nhất ghi chép về một “hương” chiến đấu dưới thời Trần có sự đoàn kết đánh bại đội quân xâm lược Nguyên - Mông do Toa Đô chỉ huy. Chùa được xây dựng ở hương Yên Duyên để thờ Phật và thờ Thượng tướng minh tự Lê An, người có công lớn trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên - Mông lần thứ nhất (năm 1258), đồng thời được vua Trần Thái Tông phong tướng và cho gả công chúa. Là tướng cận kề Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn, nên khi mất, tướng Lê An được triều đình gia phong “Đô Nguyên súy vĩ thống quản, Đại thần trụ quốc, Đại tướng quân” - một tước hiệu rất lớn dưới triều nhà Trần. Xuất phát từ tấm lòng từ bi, hiếu thuận, Lê Bằng - con thứ của Thượng tướng minh tự Lê An, đã khởi công xây dựng chùa năm 1264. Công việc chưa hoàn thành thì Lê Bằng mất, người con thứ là Lê Mạnh tiếp tục công việc và xây lại chùa rộng lớn, đẹp đẽ hơn. Năm 1326 chùa hoàn thành, gồm 11 toà nhà ngói và hai gian thảo lư khang trang, toạ ngự trên thế đất đẹp vừa trang nghiêm vừa thanh nhã. Chùa bị quân Minh xâm lược phá hủy hoàn toàn vào thế kỷ XV, chỉ còn lại tấm bia ghi chiến công của quân dân Đại Việt do tướng Lê Mạnh chỉ huy. Cụ thể, năm 1285, Lê Mạnh chỉ huy dân binh địa phương phục kích cánh quân Toa Đô từ phía Nam đi tắt qua Cổ Khê, tiến vào Thanh Hoá, đánh một trận thắng lớn ở vùng Cổ Bút. Chiến công ấy được ghi tạc trên tấm bia dựng trong chùa, một di vật quý của văn hoá Lý - Trần. Bia cao 1,5 m, rộng 0,6 m, dày 0,25 m, dựng trên lưng rùa đang xoạc chân vươn cổ về phía đông. Trán bia tạc đôi rồng chầu mặt trời uốn khúc cuồn cuộn, khỏe mạnh. Thân rồng để trơn, giản dị, đặc trưng rồng thời Lý - Trần. Bốn chữ Hưng phúc tự bi viết theo lối chữ triện trên trán bia. Hai bên là hai đường viền hoa văn cúc dây và phía dưới là sóng nước được cách điệu cao. Văn bia được soạn khắc năm khánh thành chùa, tức năm Khai Thái thứ 3 (1326), do Đô tướng quân Trần Quốc Chính đại phu soạn. Đây là một trong hơn mười tấm bia thời nhà Trần duy nhất còn lại ở Việt Nam. Bài văn bia có 2 phần: phần trên kể lại việc dựng chùa và thuật lại công tích của Lê Mạnh, phần dưới là bài minh 24 câu, ca ngợi công đức họ Lê. Với giá trị nhiều mặt về lịch sử, văn hóa, nghệ thuật và tư tưởng của tấm bia cổ, ngày 4-9-1995 Bộ Văn hóa - Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) đã xếp hạng cấp Quốc gia Di tích bia chùa Kênh. Nguồn Cổng thông tin điện tử tỉnh Thanh Hóa .

Thanh Hóa

6506 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Đền Đề Lĩnh

Đền Đề Lĩnh

Đền nằm trên một gò đất cao, tương truyền là nơi an táng của ông và hai người con gái. Đền hướng tây nam, phía trước là cánh đồng sen bát ngát, xa xa là dòng sông Đơ hiền hòa ngày đêm chảy về với biển. Đề Lĩnh người làng Bồng Báo, xã Vĩnh Hùng (Vĩnh Lộc), có tước quan xếp vào hạng tứ đại triều đình dưới thời Vua Lê Tương Dực (1510 -1516), là người tài trí hơn người, văn võ song toàn. Theo sử sách, từ khi được nhà vua giao trấn giữ vùng xung yếu cửa biển Sầm Sơn, ông đã tiến hành khai hoang mở đất, luyện binh, lập trại ngày đêm rèn luyện võ nghệ và chăm lo đời sống yên vui cho Nhân dân nên được mọi người rất mực ca ngợi. Trong một lần quân Minh tràn vào nước ta bằng đường biển, chúng giết dân cướp đất, tướng công Đề Lĩnh đã chiêu mộ binh sỹ đem quân đánh giặc nhưng thế trận chênh lệch lại bị cô lập không có người ứng viện kịp thời nên quân ta đã bị giăc vây hãm. Hai cô con gái của ông vì muốn báo thù cho cha nên đã cầm quân giải vây cho cha. Ba cha con chiến đấu ngoan cường cho tới giây phút cuối cùng. Ghi nhớ công lao to lớn của tướng Đề Lĩnh và hai ái nữ của ông, Nhân dân đã xây mộ, lập đền để ngày đêm kính cẩn hương khói người anh hùng dân tộc. Ngôi đền được nằm trên khoảng đất cao ráo tương truyền là phần đầu rồng linh thiêng, xung quanh là cảnh quan đẹp mắt, non nước hữu tình. Phần mộ Đề Lĩnh được xây dựng kiên cố bên trong ngôi đền.Phần mộ được ốp bới những lớp đá cổ đẹp mắt. Nơi đây còn lưu giữ 9 sắc phong cổ, được xem là báu vật của địa phương. Ngoài ra, còn có nhiều di vật cổ như: Bia ký, khánh đá, lư hương...Bảng văn chỉ có tuổi đời hàng trăm năm cũng được gìn giữ cẩn thận. Vào ngày 17 tháng giêng hằng năm, người dân địa phương lại tổ chức tế lễ hương và mở hội đấu vật để ghi nhớ công ơn đối với vị công thần của đất nước, ông tổ nghề võ vật. rải qua nhiều thế kỷ với không ít thăng trầm nhưng ngôi đền vẫn được Nhân dân chăm lo hương khói và tỏ lòng ngưỡng mộ. Năm 1993 đền đã được công nhận là di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia. Nguồn Cổng thông tin điện tử tỉnh Thanh Hóa .

Thanh Hóa

7095 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Đền Tô Hiến Thành

Đền Tô Hiến Thành

Nằm trên núi Trường Lệ, đền thờ Tô Hiến Thành là một ngôi đền cổ nổi tiếng của thị xã Sầm Sơn nói riêng và tỉnh Thanh Hóa nói chung. Đền còn có tên gọi là Đền Đệ Nhị hay đền Trung, là một ngôi đền trong hệ thống ba đền của làng Núi hay Sầm Thôn (Đền Độc Cước là đền Thượng, đền Đệ Nhất; Đền Hoàng Minh Tự là đền Đệ Tam hay đền Hạ). Tương truyền ngôi đền đã có lịch sử trên 800 năm, là nơi thờ Tô Hiến Thành - quan đại thần phụ chính nhà Lý dưới hai triều vua Lý Anh Tông và Lý Cao Tông. Ông là viên quan văn võ song toàn, nổi tiếng là công minh chính trực, được vua phong tước vương mặc dù không phải tôn thất nhà Lý. Trải qua các thăng trầm lịch sử, ngôi đền đã trải qua nhiều lần trùng tu và xây mới. Hiện tại ngôi đền có cấu trúc hình chữ Đinh, gồm 3 cung: Bái đường, Trung đường và Hậu cung. Bái đường có ba gian thờ cộng đồng các quan, là nơi tổ chức các thể thức tế lễ vào ngày lễ hội, giỗ Ngài… Trung đường có gian, là nơi đặt khám thờ và tượng ngài Tô Hiến Thành. Hậu cung đặt khám thánh vị, sắc phong. Khuôn viên đền rộng rãi, có nhiều cây xanh che bóng. Nét cổ kính, rêu phong của ngôi đền. Nguồn Cổng thông tin điện tử tỉnh Thanh Hóa .

Thanh Hóa

6854 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Đền Cô Tiên

Đền Cô Tiên

Đền Cô Tiên nằm trên đỉnh hòn Đầu Voi cuối dãy núi Trường Lệ về phía Tây Nam. Hòn đầu voi là hòn thứ năm trong hệ thống phân loại dân gian. Nó có tên chữ là "Tượng Đầu Sơn" cũng có nghĩa núi Đầu Voi, vì dãy núi Trường Lệ đang chạy dài đến chỗ này chợt nhô ra một hòn hình dáng như đầu con voi đang cúi mình uống nước. Đền Cô Tiên được xây dựng vào thời Lý theo kiểu kiến trúc cổ, gồm 3 lớp: Tiền Đường, Trung Đường và Hậu Cung. Kiểu kiến trúc hình chữ Đinh (hay kiến trúc chuôi vồ). Trải qua bao độ mưa nắng, gió bão và sự tàn phá của chiến tranh ngôi đền đã bị hư hỏng nặng. Ngôi đền đã qua nhiều lần trùng tu tôn tạo. Những năm 90 của thế kỷ XX, Ban quản lý di tích thành phố Sầm Sơn cho sửa chữa lại một số hạng mục. Lần tu sữa gần đây nhất vào năm 2010 Thành phố Sầm Sơn đã trùng tu tôn tạo lại toàn bộ ngôi đền nhưng vẫn giữ nguyên nét cổ kính. Kinh phí xây dựng Đền là từ nguồn tiền công đức của nhân dân và du khách thập phương. Ngôi đền đã được xếp hạng Di Tích quốc gia năm 1962. Nguồn Cổng thông tin tỉnh Thanh Hóa .

Thanh Hóa

6928 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Đền Độc Cước

Đền Độc Cước

Đền Độc Cước là đền thờ vị thần mang cùng tên, một vị thần trong tín ngưỡng dân gian Việt Nam. Đền Độc Cước nằm trên đỉnh núi mang tên hòn Cổ Giải thuộc dãy núi Trường Lệ ở thành phố Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hóa, ngay cạnh bãi biển Sầm Sơn. Đền được xây dựng vào thời nhà Trần, sang đến thời nhà Lê được được trùng tu lại nhiều lần. Đường lên đền là 45 bậc bằng đá. Tượng thần Độc Cước bằng gỗ chỉ có một tay, một chân. Phía sau đền có Môn Lâu dựng năm 1863 bằng gỗ. Năm 1962 đền được Bộ Văn hóa, Thông tin Việt Nam xếp hạng di tích cấp quốc gia. Nguồn Cổng thông tin điện tử tỉnh Thanh Hóa .

Thanh Hóa

7363 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Chiến khu Ba Đình

Chiến khu Ba Đình

Khởi nghĩa Ba Đình (1886 – 1887) là một trong những cuộc đấu tranh lớn và tiêu biểu nhất trong phong trào Cần Vương chống thực dân Pháp xâm lược cuối thế kỷ XIX. Di tích lịch sử Ba Đình đã được công nhận là Di tích lịch sử cấp Quốc gia từ năm 1992. Tháng 3 năm 1886 các lãnh tụ phong trào Cần Vương ở Thanh Hóa tổ chức cuộc họp tại Đồng Biên (Bồng Trung nay thuộc xã Vĩnh Tâm, huyện Vĩnh Lộc, Thanh Hóa) bàn kế hoạch chống Pháp. Hội nghị đã quyết định giao cho Phạm Bành, Đinh Công Tráng, Hoàng Bật Đạt phụ trách xây dựng căn cứ Ba Đình ở vùng đồng bằng phía bắc huyện Nga Sơn. Căn cứ Ba Đình là nơi bảo vệ cửa ngõ miền Trung và là bàn đạp tỏa ra đánh địch ở đồng bằng. Ba Đình nằm ở phía Tây Bắc huyện Nga Sơn, gồm ba làng là: Thượng Thọ, Mỹ Khê, Mậu Thịnh nằm liền nhau. Mỗi làng có một ngôi đình và có chung một ngôi nghè. Ba Đình nằm giữa cánh đồng chiêm trũng và hai con sông là sông Hoạt, sông Chính Đại biệt lập với khu dân cư lân cận, nhất là vào mùa mưa. Đóng quân ở Ba Đình, nghĩa quân Cần Vương có thể kiểm soát được dòng sông, dễ dàng kéo lên Bỉm Sơn, Đồng Giao để khống chế quốc lộ 1. Địa thế Ba Đình rất thuận lợi cho việc xây dựng pháo đài phòng ngự vững chắc, Phạm Bành, Đinh Công Tráng, Hoàng Bật Đạt được phân công xây dựng và chỉ huy căn cứ Ba Đình. Chỉ trong 1 tháng, căn cứ Ba Đình đã được xây xong, bao quanh ba làng là một hệ thống thung lũng bằng đất, có nơi chân thành rộng 9-10 mét, mặt thành xếp bằng cọc tre, bên trong tạo lớp bùn và rơm rạ tạo thành chiếc bia đỡ đạt rất công hiệu. Bên ngoài không thể nhìn thấy được vào bên trong, phía trong có hào rộng 4m, sâu 3m, cắm cọc nhọn chông chà bằng tre. Qua cánh đồng trũng là một lũy tre dày đặc bao bọc cả 3 phía Bắc, Tây, Tây nam. Lúc đầu nghĩa quân Ba Đình chỉ có khoảng 300 người, nhưng sau đó được bổ sung thêm. Vũ khí của nghĩa quân là súng hỏa mai, súng trường, cung, nỏ, vài khẩu súng thần công tổ chức cho 10 cơ đội, mỗi cơ đội khoảng 30 người do một hiệp quân chỉ huy. Lãnh đạo tối cao của căn cứ Ba Đình là Cán lý quân vụ Phạm Bành, còn người trực tiếp chỉ huy là Đinh Công Tráng được coi là linh hồn của khởi nghĩa Ba Đình. Lực lượng nghĩa quân Ba Đình có lúc đông tới hai vạn người, tuyển từ ba làng và các vùng Thanh Hóa, bao gồm cả người Kinh, Thái, Mường. Nghĩa quân có 10 toán, mỗi toán có một hiệp quản chỉ huy. Về vũ khí, nghĩa quân tự trang bị bằng súng hỏa mai, giáo mác, cung nỏ. Năm 1886, nghĩa quân liên tiếp tiến công các phủ, thành, huyện lỵ, chặn đánh các đoàn xe, các toán quân lẻ, gây cho quân Pháp nhiều thiệt hại. Ngày 12 tháng 3 năm 1886 lợi dụng phiên chợ đã tấn công Tòa Công sứ Thanh Hóa. Và tiếp đó, nghĩa quân đã tấn công nhiều phủ thành, chặn đánh các đoàn xe, gây cho quân Pháp nhiều thiệt hại. Từ 18 tháng 12 năm 1886 đến 20 tháng 1 năm 1887 Đại tá Brissand thống lĩnh 76 sĩ quan và 3.500 quân vây hãm và tiến đánh căn cứ Ba Đình. Quân Pháp đã nã tới 16.000 quả đại bác trong vòng một ngày trời, biến căn cứ Ba Đình thành biển lửa. Nghĩa quân Ba Đình đã chiến đấu trong suốt 32 ngày đêm chống lại đối phương đông gấp 12 lần, được trang bị vũ khí tối tân hiện đại. Trong trận chiến đấu vô cùng ác liệt này, nghĩa quân đã tỏ ra mưu trí dũng cảm, nhưng vì hỏa lực mạnh của đối phương nên nghĩa quân Ba Đình bị thương vong nhiều. Để tránh khỏi bị tiêu diệt hoàn toàn, nghĩa quân Ba Đình đã mở một con đường máu vượt qua vòng vây dày đặc của quân Pháp, rút lên căn cứ Mã Cao. Đến sáng ngày 21 tháng 1 năm 1887, quân Pháp mới chiếm được Ba Đình. Sau đó, quân Pháp đã triệt hạ hoàn toàn cả ba làng của căn cứ Ba Đình, tiếp tục cho quân truy kích nghĩa quân ở Mã Cao, rồi triệt hạ luôn đồn này vào 2 tháng 2 năm 1887. Sau đó, một số đông nghĩa quân rút lên Thung Voi, Thung Khoai, rồi lên miền Tây Thanh Hóa sáp nhập với đội nghĩa quân của Cầm Bá Thước. Kết cục, thủ lĩnh Nguyễn Khế tử trận. Phạm Bành, Hà Văn Mao, Lê Toại tự sát... Hoàng Bật Đạt sau bị bắt và bị Pháp chém đầu vì tinh thần bất khuất, không hàng giặc. Đinh Công Tráng thì chạy về Nghệ An. Quân Pháp treo giải cái đầu ông với giá trị tiền thưởng rất cao. Tháng 10 năm 1887, vì tham tiền thưởng, viên lý trưởng làng Chính An đã mật báo cho quân Pháp đến bắt và sát hại Đinh Công Tráng. Cuộc khởi nghĩa Ba Đình và các lãnh tụ Ba Đình được lịch sử đánh giá rất cao. Chủ tịch Hồ Chí Minh sau này đã chọn tên Ba Đình để đặt cho Quảng trường Ba Đình, nơi đọc Tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Nguồn: Báo điện tử Thanh Hoá

Thanh Hóa

7411 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Đền thờ Chu Văn Lương

Đền thờ Chu Văn Lương

Đền thờ Chu Văn Lương (còn gọi là đình làng Nam Ngạn), xưa thuộc xã Nam Ngạn, tổng Thọ Hạc, huyện Đông Sơn, phủ Thiệu Thiên, nay là phường Nam Ngạn, thành phố Thanh Hóa. Đền thờ quan Đốc học Liệt hầu đồng bình chương sự Chu Văn Lương, người có công dạy chữ, bốc thuốc chữa bệnh, khai phá đất đai lập ra ấp Nam Sơn, trại Nam Ngạn và tổ chức nhân dân nơi đây đánh giặc giữ làng, có nhiều công trạng trong cuộc khánh chiến chống quân Nguyên Mông đầu thế kỷ XIII. Sau khi ngài mất, vua Trần đã ban sắc phong cho ngài là “Thượng đẳng Phúc thần” và y chuẩn cho nhân dân trại Nam Ngạn giữ gìn cúng tế. Dân làng suy tôn ông làm Thành Hoàng làng. Đền được khởi dựng từ thời Trần ở ngoài đê sông Mã, đến năm Bảo Thái thứ 4 triều Lê Dụ Tông (1723) được di dời cùng với chùa Mật Đa vào khu đất hiện nay. Trải qua các triều đại, ngôi đền đều được triều đình quan tâm tu sửa, ban thêm sắc phong, mỹ tự cho thần. Đền thờ Chu Văn Lương đã được Bộ Văn Hoá-Thể Thao xếp hạng di tích Lịch Sử Văn Hoá cấp Quốc gia ngày 6/11/1989. Hiện nay, đền thờ còn lưu giữ được nhiều mảng chạm độc đáo, đặc sắc có phong cách nghệ thuật thời Nguyễn (thế kỷ XIX), cùng nhiều hiện vật đồ thờ thời Lê, Nguyễn có giá trị lịch sử văn hóa như: Sắc phong, ngai thờ bài vị, bảng văn, bia đá… Lễ hội được tổ chức vào ngày sinh nhật 18 tháng 2 âm lịch và ngày giỗ 12 tháng 9 âm lịch của ngài, với nhiều trò chơi, trò diễn dân gian đặc sắc. Hiện nay, đền thờ có vị trí địa lý như sau: Phía bắc giáp đường ngõ Đúc Tiền, phía nam giáp chùa Mật Đa và nhà dân, phía đông và phía tây giáp nhà dân. Tổng diện tích đất theo biên bản khoanh vùng các khu vực bảo vệ của di tích đền Chu Văn Lương là 0,140 hét ta. Diện tích đất nghiên cứu Quy hoạch dự kiến là 0,142 hét ta. Nguồn: Trang thông tin điện tử thành phố Thanh Hoá

Thanh Hóa

7822 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Chùa Mật Đa

Chùa Mật Đa

Chùa Mật Đa thuộc cụm Di tích lịch sử Nam Ngạn, phường Nam Ngạn (TP Thanh Hóa), đã được công nhận là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia năm 1989. Theo văn bia còn lưu giữ thì chùa Mật Đa lúc đầu ở ngoại đê sông Mã, thuộc ấp Hòa Bình, xã Nam Ngạn, được xây dựng vào thời Hậu Lê - đời Bảo Thái năm thứ tư, tức năm Quý Mão 1723. Thuở ban sơ, ngôi chùa chỉ là nhà tranh vách đất, dùng để thờ Phật. Tượng Phật được tôn tạo bằng đất nung rất đẹp, cung kính, trang nghiêm. Chùa Mật Đa là một ngôi chùa cổ của Thanh Hóa còn giữ được nguyên vẹn với kiến trúc đặc trưng của những ngôi chùa vùng đồng bằng Bắc bộ. Chữ “Mật Đa tự” mang hàm nghĩa là nơi có hoa thơm, quả ngọt của đất Phật, có nhiều phúc đức nên từ xa xưa chùa đã thu hút rất đông khách thập phương về chiêm bái, thể hiện tâm linh, cầu phúc, làm việc thiện giúp đời. Cảnh chùa phong quang, hoa văn trang trí rất độc đáo. Quy mô ngôi chùa mang kiến trúc hình chữ Đinh, gồm 5 gian tiền đường, 2 gian hậu cung. Bên trong chính điện có treo một bức đại tự sơn son thếp vàng chạm 3 chữ “Mật Đa tự”. Ở gian giữa có 4 chữ “Pháp giới mông huân”. Gian ngoài cùng treo một bức có 4 chữ “Tam giới độc tôn”. Hậu cung là cung Tam bảo nơi đặt tượng Phật. Phía Tây Nam ngôi chùa là nhà Tăng và nhà Tổ. Kết cấu của chùa với bộ khung gỗ vững chắc, cột bằng gỗ lim, chùa lợp bằng ngói đất nung mái cong. Trong chùa bài trí tượng pháp khá đầy đủ. Đặc biệt chùa có hai tượng hộ pháp khuyến thiện và trừ ác cao hơn 3m. Sau khi xây dựng tôn tạo nhiều lần, về mặt kiến trúc điêu khắc của chùa đã có sự thay đổi hài hòa đan xen giữa các nền nghệ thuật của các thời Trần, Lê, Nguyễn... Chùa có 4 pho tượng rất đẹp do thập phương công đức. Tại bia số 2 bên trái chùa có ghi ngôi chùa này được trùng tu vào thời Bảo Đại năm thứ 3 Mậu Thìn 1928. Mật Đa tự không chỉ là một ngôi chùa đẹp linh thiêng trong tâm nguyện của Nhân dân, mà còn mang dấu ấn của một di tích lịch sử, có công trong cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ xâm lược. Cán bộ, chiến sĩ và Nhân dân Hàm Rồng - Nam Ngạn không bao giờ quên hình ảnh các nhà sư trong chùa đã tích cực tham gia chiến đấu. Chùa Mật Đa trở thành sở chỉ huy của trận địa bảo vệ cầu Hàm Rồng, là nơi tập kết lương thực, thực phẩm, đạn dược, nơi cấp cứu nuôi dưỡng ban đầu cho thương binh. Chỉ nằm cách cầu Hàm Rồng gần 2km theo đường chim bay, nên chùa Mật Đa đã trở thành địa điểm cứu chữa thương binh quan trọng của trận địa bảo vệ cầu Hàm Rồng. Chùa Mật Đa sẽ sống mãi với những trang sử hào hùng của dân tộc và trong tâm thức tăng ni, đồng bào phật tử và Nhân dân cả nước cũng như của Nam Ngạn - Hàm Rồng, Thanh Hóa. Nguồn: Báo Thanh Hoá

Thanh Hóa

7706 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Thái miếu nhà Hậu Lê

Thái miếu nhà Hậu Lê

Tọa lạc tại phố Kiều Đại, phường Đông Vệ, thành phố Thanh Hóa, Thái miếu nhà Hậu Lê nằm tĩnh lặng, yên bình bên những bóng cây cổ thụ hơn 200 năm tuổi. Nơi hậu thế tỏ lòng kính ngưỡng với vương triều Hậu Lê - một triều đại phong kiến dài nhất trong lịch sử Việt Nam. Thái miếu nhà Hậu Lê hay còn gọi là Đền Lê, Miếu Bố Vệ được xây dựng vào năm Gia Long thứ 4 (1805) là nơi thờ tự chung của các đời vua, các vị Hoàng hậu, Hoàng Thái hậu, Triệu tổ, Hiển tổ, Tuyên tổ cùng các vị vương công, đại thần triều hậu Lê. Điểm nhấn của Thái miếu được thể hiện ở lối kiến trúc nghệ thuật độc đáo, mang phong cách kiến trúc Hậu Lê và thời Nguyễn, với các công trình: Nghinh môn, sân điện, tiền điện, hậu điện. Qua Nghinh môn là bức cuốn thư (xây dựng năm 1805) một trong những hiện vật cổ còn lưu giữ. Thái miếu gồm 2 tòa: Tiền điện và Hậu điện được bố trí liền nhau theo lối trùng thềm (kiểu chữ Nhị) gồm 7 gian, mái được lợp ngói mũi hài, phía trên nóc được trang trí công phu với biểu tượng "lưỡng long chầu nguyệt". Phía trước Tiền điện có 2 cột nanh cao 6m và các con Nghê làm từ chất liệu gỗ mít, được chạm khắc tinh xảo, mang đậm chất nghệ thuật điêu khắc cổ. Tại gian giữa của Tiền Điện treo một bức hoành phi lớn có khắc 6 chữ: "Nam quốc sơn hà tự thử" (có nghĩa là nước Nam ta có từ đây), bên cạnh có hàng chữ nhỏ ghi năm dựng miếu là 1805. Trải qua biến thiên của thời gian cùng nhiều lần trùng tu, nhưng Thái miếu nhà Lê còn lưu giữ được nhiều hiện vật giá trị. Nơi đây hiện đang lưu thờ bài vị của 27 vua, Hoàng Thái Hậu cùng các vương công nhà Hậu Lê. Trong đó có 4 thánh vị cổ của các vua Lê Thái Tổ, Lê Thần Tông, Lê Huyền Tông và Lê Gia Tông. Với những giá trị về văn hóa, lịch sử, năm 1995, Thái miếu nhà Hậu Lê được công nhận là Di tích lịch sử văn hoá và kiến trúc nghệ thuật Quốc gia. Hơn 200 năm đã trôi qua, Thái miếu nhà Hậu Lê uy nghi đứng đó, cổ kính và linh thiêng, là nơi để hậu thế tìm về, chiêm ngắm, tỏ lòng tri ân các bậc tiền nhân, là nơi lưu giữ những giá trị lịch sử, văn hóa giúp hậu thế phần nào hiểu được về một chặng đường phát triển của lịch sử để từ đó thêm tự hào và yêu hơn mảnh đất nơi mình được sinh ra và lớn lên. Nguồn: Đài phát thanh và truyền hình Thanh Hoá

Thanh Hóa

7925 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Đền thờ Mai An Tiêm

Đền thờ Mai An Tiêm

Đền thờ Mai An Tiên thuộc xã Nga Phú, huyện Nga Sơn, cách huyện lỵ Nga Sơn 5km về phía Đông Bắc. Ngôi đền nhỏ đơn sơ nép mình bên sườn núi nhưng chứa đựng cả một huyền thoại đẹp được lưu truyền bao đời nay. Kiến trúc của ngôi đền khá đơn giản, đền được kết cấu theo hình chữ Đinh gồm 5 gian Tiền Bái và 4 gian Hậu cung được mô phỏng theo kiến trúc đình, đền Việt Nam, có cổng tứ trụ truyền thống. Nội thất trong đền được bố trí trang nghiêm, gọn gàng. Đến thăm ngôi đền của nhân vật huyền sử - Mai An Tiêm, người khai sinh ra quả dưa hấu đỏ ai cũng có tâm trạng xúc động về một biểu tượng về tinh thần vượt khó, cần cù, sáng tạo trong lao động. Tương truyền: Vào thời vua Hùng Vương thứ 6, Mai Yển - hiệu An Tiêm nguyên Thượng thư Lại Bộ Xuân Thu, do có nhiều công trạng nên được nhà vua rất yêu mến và gả con gái cho. Được vua yêu quý nên chàng bị các lạc hầu, lạc tướng ghen ghét, gièm pha tìm cách hãm hại;một lần vì làm phật ý vua nên chàng và gia đình bị đày ra đảo hoang sinh sống. Nhờ có loài quạ tha quả về ăn, Mai Yển đã tìm cách đuổi quạ đi và ăn thử thấy ngon, ngọt lạ thường bèn đem hạt gieo, mùa đầu đã cho nhiều quả và thứ quả đó đã nuôi sống gia đình Mai Yển, sau này người ta gọi đó là quả dưa hấu. Vụ này tiếp nối vụ kia, dưa hấu ngày càng nhiều, gia đình Mai Yển dùng không hết liền nghĩ cách, khắc chữ vào vỏ quả, bỏ xuống biển, thủy triều đã đẩy những quả dưa vào bờ, quan quân thấy vậy liền tâu lên nhà vua, mọi người cùng ăn và vui mừng khen ngon. Vua biết Mai Yển và vợ con không chết mà còn nhớ đến nhà vua, tìm cách dâng quả ngon; vua liền ra lệnh đưa Mai Yển về đất liền để phong lại chức tước. Với ý nghĩa dân gian sâu sắc, vào năm Duy Tân thứ nhất, vua sắc phong cho thôn Ngoại, huyện Nga sơn thờ phụng Mai Yển hiệu An Tiêm Dực Bảo Trung Hưng linh phù chi thần. Đến năm Khải Định thứ 9, vua gia phong Đoan túc tôn thần, sắc cho thôn Ngoại tiếp tục thờ phụng. Đặc biệt chuẩn phong cho phép phụng thờ, dùng theo lễ quốc khánh. Năm 1989, đền thờ Mai An Tiêm thuộc xã Nga Phú, huyện Nga Sơn đã được xếp hạng di tích lịch sử văn hóa cấp tỉnh. Hàng năm, vào ngày 12 đến 15 tháng 3 âm lịch, tại đền thờ Mai An Tiêm, chính quyền và nhân dân địa phương thường tổ chức lễ hội để tưởng nhớ, tri ân Mai An Tiêm, người có công khai phá, mở mang bờ cõi, thủy tổ của nghề canh nông cho dân trong vùng. Hình ảnh Mai An Tiêm và sự tích quả dưa hấu là sức sống mãnh liệt của dân tộc ta trong buổi đầu dựng nước. Nguồn: Du lịch Thanh Hoá

Thanh Hóa

8261 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp tỉnh

Mở