Di tích lịch sử

Xem dạng bản đồHà Nội

Danh sách điểm di tích (127)

Đình Tân Khai

Đình Tân Khai

Đình Tân Khai, còn gọi là đình Thái Cam, nằm tại số 44 phố Hàng Vải, khu vực phố cổ Hà Nội. Theo văn bia, đình được dựng vào năm Minh Mệnh thứ 3 (1822), cùng thời điểm xây dựng chùa Thái Cam. Đình thờ ba vị Thành hoàng là thần Tô Lịch, thần Bạch Mã và thần Thiết Lâm – những vị thần gắn với quá trình hình thành kinh đô Thăng Long và được nhân dân tôn là những vị thần bảo hộ kinh thành. Trong đó, thần Tô Lịch là vị Thành hoàng tiêu biểu của kinh đô; thần Bạch Mã, hay Long Đỗ, gắn với đền Bạch Mã; còn thần Thiết Lâm được cho là bắt nguồn từ tín ngưỡng thờ các lực lượng tự nhiên của người Việt cổ. Trải qua gần hai thế kỷ, đình Tân Khai đã có nhiều thay đổi. Nhà Tiền tế không còn, hiện di tích chủ yếu còn Hậu cung xây theo kiểu chữ Công, cùng sân đình và cổng chung với chùa Thái Cam. Trên cổng có cuốn thư ghi bốn chữ Hán “Tân Khai Linh Từ”. Không chỉ mang giá trị kiến trúc, đình còn là nơi lưu giữ những dấu ấn về tín ngưỡng dân gian và lịch sử Thăng Long, thể hiện lòng tôn kính của người dân đối với các vị thần bảo hộ kinh đô. Nguồn: Tạp chí Người Hà Nội

Hà Nội

96 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Đình làng Phú Lương

Đình làng Phú Lương

Đình làng Phú Lương, xã Quảng Phú Cầu, huyện Ứng Hòa nay là xã Thượng Phúc, Hà Nội, là Di tích lịch sử - văn hóa Quốc gia, được xếp hạng từ năm 1993. Đình là trung tâm sinh hoạt tín ngưỡng, văn hóa của cộng đồng địa phương và gắn với nhiều giá trị lịch sử, nghệ thuật đặc sắc. Đình thờ tướng Bạch Lợi, danh tướng thời Hùng Vương thứ 18. Theo truyền thuyết, ông cùng Tản Viên Sơn Thánh, Cao Sơn và Quý Minh có công đánh giặc Thục, bảo vệ bờ cõi. Trong cuộc hành quân, Bạch Lợi chọn Phú Lương làm nơi đóng quân và hóa tại đây. Để tưởng nhớ công lao của ông, người dân lập đình và tôn làm Thành hoàng làng. Di tích hiện còn lưu giữ thần phả niên hiệu Hồng Phúc năm thứ 3 (1674) cùng 7 đạo sắc phong. Về kiến trúc, đình được xây theo kiểu chữ Đinh, gồm 5 gian đại bái và 3 gian hậu cung. Nổi bật là những mảng chạm khắc gỗ tinh tế với các đề tài tứ linh, tứ quý và “long ngư hí thủy”, thể hiện vẻ đẹp sinh động của nghệ thuật kiến trúc đình làng truyền thống. Hằng năm, vào mùng 7 tháng Giêng, lễ hội đình được tổ chức với nghi thức rước thần, rước Mẫu cùng nhiều trò chơi dân gian như đấu vật, đánh đu, bắt vịt, đấu gà. Nguồn: Tạp chí Người Hà Nội

Hà Nội

123 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Đình Phú Diễn (Đại Thanh)

Đình Phú Diễn (Đại Thanh)

Đình Phú Diễn Nằm tại xã Hữu Hòa, huyện Thanh Trì, bây giờ là xã Đại Thanh, TP Hà Nội. Đình Phú Diễn là di tích lịch sử, kiến trúc nghệ thuật gắn với những dấu ấn quan trọng của vùng đất địa phương. Đình thờ hai Thành hoàng làng là vua Lê Đại Hành và tướng Trần Thông, người quê Phú Diễn. Theo truyền thuyết, trên đường hành quân lên phía Bắc chống giặc, vua Lê Đại Hành từng dừng chân săn bắn tại vùng đất này. Để ghi nhớ sự kiện, làng từng mang tên “Đại Hành”. Đình hiện còn lưu giữ thần phả “Phú Diễn Lê đế phả lục”, do Nguyễn Bính soạn năm 1572 và được sao lại năm 1710, ghi chép về cuộc đời, sự nghiệp của vua Lê Đại Hành. Đình có quy mô không lớn nhưng mang nhiều nét kiến trúc và nghệ thuật đặc sắc. Đại đình gồm 5 gian, phía sau là hậu cung 2 gian. Các cấu kiện gỗ được chạm khắc hình rồng, lá, vân mây và nhiều đề tài tứ linh, tứ quý. Trong khuôn viên còn có các cột biểu, nghê đá, hổ đá, tạo nên vẻ cổ kính và linh thiêng cho di tích. Đình hiện bảo lưu nhiều cổ vật quý như tượng thú đá, hạc gỗ, kiệu, long ngai, hương án, bát hương, bát bửu, 10 đạo sắc phong, thần phả và các bia cổ. Hằng năm, lễ hội diễn ra từ ngày 7 đến 9 tháng 3 âm lịch, với nhiều hoạt động dân gian như múa rồng, đấu vật, bơi chải, ca trù, múa rối nước và các trò chơi truyền thống. Nguồn: Hà Nội Danh thắng và Di tích

Hà Nội

131 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Đình làng Phú Diễn

Đình làng Phú Diễn

Đình làng Phú Diễn Nằm tại làng Phú Diễn, phường Từ Liêm, thành phố Hà Nội, đình làng Phú Diễn là di tích kiến trúc nghệ thuật tiêu biểu, gắn với lịch sử hình thành và truyền thống văn hóa của vùng đất Phú Diễn xưa. Đây cũng là một vùng quê nổi tiếng với truyền thống hiếu học, từng có hai vị Tiến sĩ cùng nhiều người đỗ đạt qua các triều đại. Đình thờ Bạch Hạc Tam Giang, tức tướng Đào Trường, nhân vật được truyền thuyết gắn với thời Hùng Vương, có công chỉ huy thủy quân đánh giặc, bảo vệ đất nước. Trải qua thời gian, hình tượng vị Thành hoàng trở thành biểu tượng gắn kết cộng đồng và được nhân dân Phú Diễn tôn kính, phụng thờ. Về kiến trúc, đình được xây theo kiểu chữ “Công”, gồm đại đình, ống muống và hậu cung. Đại đình 5 gian, hậu cung 3 gian, các cấu kiện gỗ được chạm khắc công phu với những đề tài quen thuộc của nghệ thuật truyền thống như tứ linh, tứ quý, rồng, hoa lá và cảnh sinh hoạt dân gian. Những đường nét chạm khắc không chỉ tạo nên vẻ đẹp cho công trình mà còn phản ánh quan niệm thẩm mỹ và đời sống tinh thần của cư dân vùng đồng bằng Bắc Bộ. Đình hiện còn lưu giữ nhiều di vật có giá trị như sắc phong, thần phả, bia đá, long ngai, kiệu, hạc, hương án, hoành phi, câu đối và cửa võng. Hằng năm, lễ hội đình được tổ chức vào ngày 14 và 15 tháng 3 âm lịch, với nghi thức rước kiệu, lấy nước tại giếng cổ cùng nhiều hoạt động văn hóa truyền thống. Với sự kết hợp hài hòa giữa giá trị lịch sử, tín ngưỡng và nghệ thuật kiến trúc, đình làng Phú Diễn không chỉ là nơi tưởng nhớ Thành hoàng mà còn là một không gian lưu giữ ký ức, truyền thống và bản sắc văn hóa của làng Phú Diễn trong dòng chảy lịch sử Thăng Long – Hà Nội. Nguồn: Báo và Phát thanh, Truyền hình Hà Nội

Hà Nội

139 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Chùa Bát Tháp

Chùa Bát Tháp

Chùa Bát Tháp – Nét cổ kính giữa lòng Hà Nội. Nằm tại số 209 phố Đội Cấn, phường Ba Đình, Hà Nội, chùa Bát Tháp, còn gọi là chùa Vạn Bảo, là một di tích kiến trúc Phật giáo có lịch sử lâu đời, gắn với vùng đất Thăng Long xưa. Tên gọi Bát Tháp được cho là bắt nguồn từ hình dáng đặc biệt của một ngọn tháp có phần đế giống chiếc bát. Chùa tọa lạc trên khu đất cao, không gian rộng rãi và thoáng đãng. Nổi bật là tam quan hai tầng tám mái, tiền đường 7 gian và hậu cung 3 gian. Các cấu kiện gỗ được chạm khắc tinh tế với hình rồng, hổ phù, cây cỏ, tạo nên vẻ đẹp vừa chắc khỏe vừa mềm mại cho công trình. Chùa hiện còn lưu giữ hệ thống tượng Phật, tượng Mẫu có niên đại từ cuối thời Lê đến thời Nguyễn, nổi bật là bộ tượng Tam thế. Ngoài ra còn có nhiều di vật quý như đôi hạc đồng, bát hương và đặc biệt là chuông đồng “Bát Tháp tự chung”, đúc năm Gia Long thứ 2, tức năm 1803. Với giá trị về lịch sử, kiến trúc và nghệ thuật, chùa Bát Tháp là một dấu tích quan trọng góp phần phản ánh diện mạo văn hóa của Thăng Long xưa, đồng thời là điểm đến để du khách tìm hiểu vẻ đẹp của kiến trúc Phật giáo giữa lòng Hà Nội. Nguồn: Bảo tàng Lịch sử Quốc gia

Hà Nội

185 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Đình Ngọc Khánh

Đình Ngọc Khánh

Nằm bên hồ Ngọc Khánh, thuộc phường Ngọc Khánh, quận Ba Đình, Hà Nội, đình Ngọc Khánh là một di tích kiến trúc nghệ thuật có giá trị, được xây dựng khoảng thế kỷ XVIII và được thành phố Hà Nội xếp hạng di tích năm 2006. Đình thờ Tam vị Thượng đẳng thần, gồm Hà Hải thái giám Hoàng Phúc Trung, Linh Lang đại vương và Thành hoàng Uy linh. Đây là những vị thần gắn với quá trình bảo vệ đất nước, khai phá vùng đất phía Tây kinh thành và lập nên hệ thống “Mười ba làng trại” xưa. Không chỉ có giá trị về lịch sử, đình Ngọc Khánh còn lưu giữ nhiều hiện vật và tư liệu Hán Nôm quý như kiệu, long ngai, cửa võng, hoành phi, câu đối, chuông, khánh đồng, đỉnh đồng và lư hương. Đặc biệt, đình còn bảo lưu 4 đạo sắc phong, trong đó đạo sắc có niên hiệu Minh Mệnh năm thứ 2, tức năm 1821, là sắc phong sớm nhất. Trải qua nhiều lần tu bổ, đình Ngọc Khánh ngày nay vẫn giữ được vẻ trang nghiêm, là nơi sinh hoạt tín ngưỡng của người dân và điểm đến giúp du khách tìm hiểu lịch sử, văn hóa của vùng đất Ba Đình. Nguồn: Hà Nội Danh thắng và Di tích

Hà Nội

180 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Đình Đại Yên

Đình Đại Yên

Đình Đại Yên thuộc phường Ngọc Hà, quận Ba Đình, Hà Nội, là một di tích gắn với khu “Thập tam trại” phía Tây kinh thành Thăng Long từ thời Lý. Đình thờ Ngọc Hoa công chúa, tương truyền là một cô bé mới 9 tuổi nhưng đã lập công trong cuộc chiến chống quân Chămpa năm 1104. Giả trai theo cha ra trận, Ngọc Hoa đã cải trang thành người bán trầu cau, thuốc lào để thâm nhập doanh trại địch, thu thập tin tức và làm ám hiệu giúp quân ta đánh tan quân giặc. Sau khi khải hoàn, nàng trở về Đại Yên và hóa tại nơi dựng đình ngày nay. Đình được đại tu lớn vào năm 1886, gồm cổng đình, tả hữu vu, tiền tế, đại bái và hậu cung. Trong hậu cung hiện còn khám thờ, tượng, long ngai, bài vị cùng các đạo sắc phong qua các triều đại. Hằng năm, hội làng Đại Yên được tổ chức vào ngày 14 tháng Ba âm lịch, với nhiều nghi lễ và đặc biệt là điệu múa “Dâng hoa” tưởng nhớ Ngọc Hoa công chúa. Với những giá trị lịch sử, văn hóa và kiến trúc nghệ thuật, Đình Đại Yên được xếp hạng di tích lịch sử, kiến trúc, nghệ thuật năm 1990. Nguồn: Hà Nội Danh thắng và Di tích

Hà Nội

260 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Đình Phú Đa

Đình Phú Đa

Đình Phú Đa là một ngôi đình cổ thuộc xã Bình Phú, thành phố Hà Nội, được Bộ Văn hóa và Thông tin xếp hạng Di tích kiến trúc nghệ thuật năm 1993. Đây cũng là nơi gắn với truyền thống múa rối nước nổi tiếng của làng Gia, tên Nôm của thôn Phú Đa, từng thường xuyên biểu diễn rối nước tại chùa Thầy. Đình có kiến trúc một tòa nhà ngang gồm 5 gian 2 chái, bốn mái đao cong và hệ thống 7 bộ vì theo kiểu thượng rường, hạ bẩy. Các cấu kiện gỗ trong đình còn lưu giữ nhiều dấu tích kiến trúc cổ. Đặc biệt, những mảng chạm khắc rồng, hình người cưỡi ngựa, thiếu nữ ca hát thể hiện trình độ nghệ thuật tinh tế, tiêu biểu cho mỹ thuật thế kỷ XVIII. Hình tượng rồng với mắt lồi, mũi lớn, tai dơi, bờm lưỡi mác, thân uốn cong sinh động mang đậm phong cách nghệ thuật thời Hậu Lê. Đình Phú Đa thờ Đào Khang, một vị tướng thời Hai Bà Trưng. Theo truyền thuyết, ông có công giúp Hai Bà Trưng đánh giặc Tô Định, đồng thời lập trang trại tại vùng Phú Đa, dạy dân canh tác, khơi mương, đào ngòi, góp phần xây dựng cuộc sống của cư dân địa phương và được tôn làm phúc thần. Bên cạnh giá trị lịch sử và kiến trúc, đình còn lưu giữ nhiều đồ thờ có giá trị nghệ thuật thời Lê và thời Nguyễn, đặc biệt là bộ tượng rối nước cổ từng được sử dụng trong các buổi biểu diễn. Bàn thờ tổ nghề múa hát, tục gọi là Đức Thánh Nhà Trò, cũng là minh chứng cho truyền thống nghệ thuật dân gian lâu đời của làng. Hằng năm, hội làng được tổ chức vào mùng 3 tháng 4 âm lịch, với các nghi lễ tưởng niệm Đào Khang cùng các hoạt động múa gậy và múa rối nước tại ao trước đình. Nguồn: Hà Nội Danh thắng và Di tích

Hà Nội

309 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Bích Câu Đạo Quán

Bích Câu Đạo Quán

Bích Câu Đạo Quán, nằm trên phố Cát Linh, Hà Nội, là một di tích văn hóa – lịch sử gắn với những huyền tích về Trần Tú Uyên, nơi được ví như một “bồng lai tiên cảnh” giữa kinh thành Thăng Long xưa. Theo truyền thuyết, xưa kia Trần Tú Uyên là một chàng thư sinh dựng quán đọc sách trên gò cao đầu phố Bích Câu. Trong một lần đi dự hội, chàng gặp một cô gái xinh đẹp rồi đem lòng tương tư. Sau đó, chàng mua một bức tranh tố nữ giống người con gái ấy về nhà. Kỳ lạ thay, từ trong tranh bước ra một tiên nữ tên Giáng Kiều. Hai người nên duyên, cùng nhau bốc thuốc cứu người, tu tiên học đạo và làm nhiều việc thiện. Sau khi đắc đạo, Trần Tú Uyên được vua Lê Thánh Tông truy phong là “An Quốc chân nhân”. Từ cuối thế kỷ XV, đầu thế kỷ XVI, nơi đây được phát triển thành một đạo quán mang đậm dấu ấn Đạo giáo. Bích Câu Đạo Quán từng là nơi các đạo sĩ tu luyện, đồng thời cũng là chốn tao nhân mặc khách, quan lại và nho sinh tìm đến thưởng cảnh, ngâm vịnh thơ ca. Trải qua nhiều biến động, di tích từng xuống cấp và bị tàn phá, nhưng sau đó được nhân dân nhiều lần tu bổ. Ngày nay, Bích Câu Đạo Quán có kiến trúc gồm Nghi môn, tiền tế, hậu cung, nhà Mẫu và nhà khách, đồng thời lưu giữ nhiều tượng thờ, bia đá và hiện vật có giá trị. Nguồn: Báo Dân Việt

Hà Nội

297 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Đền Đống Nước

Đền Đống Nước

Đền Đống Nước thuộc làng Ngọc Hà, nay là phường Ngọc Hà, Hà Nội. Theo truyền thuyết, xưa kia vùng đất này thường xuất hiện những mạch nước từ lòng đất phun lên thành từng đống nước, nên dân gian gọi là Đống Nước. Ngọc phả kể rằng, nơi đây thờ Ngọc Nương công chúa – người được cho là con gái Long Vương, từng hiển linh giúp vua Trần Anh Tông đánh giặc. Sau khi thắng trận, nhà vua cho tu sửa miếu và phong thần hiệu cho bà. Ngôi đền hiện nay mang nhiều dấu ấn kiến trúc thời Nguyễn, gồm tam quan, sân vườn, tả mạc, hữu mạc, đền chính và hậu cung. Bên trong, các khám thờ, cửa võng, nhang án được chạm trổ tinh xảo; đặc biệt là không gian thờ Tam Tòa Thánh Mẫu cùng các vị thần trong tín ngưỡng dân gian. Không chỉ có giá trị về kiến trúc và tín ngưỡng, Đền Đống Nước còn là nơi sinh hoạt văn hóa cộng đồng của cư dân làng Ngọc Hà và các làng trại lân cận. Hằng năm, hội đền được tổ chức vào ngày 21 tháng 3 âm lịch với các nghi lễ dâng hương, rước kiệu và các hoạt động văn hóa truyền thống. Với những giá trị tiêu biểu về lịch sử, kiến trúc và văn hóa dân gian, Đền Đống Nước đã được xếp hạng Di tích cấp quốc gia năm 1993. Đây là một trong những di tích góp phần lưu giữ dấu ấn của các làng cổ phía Tây kinh thành Thăng Long xưa. Theo: Hà Nội Danh thắng và Di tích

Hà Nội

366 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Đền Vua Bà

Đền Vua Bà

Đền Vua Bà, còn gọi là đền Vĩnh Bảo Đài, nằm cạnh chùa Láng, trong không gian xanh mát với nhiều cây cổ thụ như muỗm, đại và thông. Đền có kiến trúc truyền thống gồm ba gian, quay hướng Nam, phía trong là hậu cung đặt ngai thờ bà vú nuôi của vua Lý Thần Tông thuở nhỏ. Vì vậy, người dân địa phương từ lâu quen gọi nơi đây là đền Vua Bà. Theo tín ngưỡng dân gian, bà sau khi qua đời vào ngày 3 tháng 12 được triều đình phong hiệu “Từ Phúc Hoa, Lý Mẫu cung thần”. Ngoài nhân vật được thờ chính, đền còn phối thờ Tam Tòa Thánh Mẫu, Thập Nhị Sơn Trang cùng một số nhân vật và ban thờ theo tín ngưỡng dân gian. Đền Vua Bà có mối liên hệ mật thiết với không gian văn hóa và lễ hội chùa Láng. Hằng năm, vào ngày 7 tháng 3 âm lịch, khi kiệu Thánh Láng đi qua, đoàn rước dừng lại để làm lễ bái vọng. Vào ngày mùng Một, ngày Rằm, người dân và du khách đến lễ chùa Láng thường ghé đền Vua Bà như một điểm trình lễ, góp phần gìn giữ nét đẹp tín ngưỡng truyền thống của vùng đất Láng. Với giá trị về lịch sử, tín ngưỡng và sự gắn kết với lễ hội truyền thống, đền Vua Bà là một điểm đến góp phần làm phong phú thêm hệ thống di tích văn hóa của khu vực Láng, Hà Nội. Nguồn: Tạp chí Người Hà Nội

Hà Nội

505 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Đình Tường Phiêu

Đình Tường Phiêu

Đình Tường Phiêu, còn gọi là Đình Cả, nằm trên địa bàn xã Tích Giang, thành phố Hà Nội. Đây là công trình tín ngưỡng lâu đời, thờ bốn vị Thành hoàng, trong đó có ba vị Đức Thánh Tản Viên và Quán Sơn Thành hoàng. Đình được xây dựng theo hướng Tây Nam, hướng về núi Ba Vì – nơi gắn với truyền thuyết và tín ngưỡng thờ Đức Thánh Tản. Công trình có kiến trúc hình chữ “Nhất”, gồm ba gian hai chái, nổi bật với hệ thống mái cong, đầu đao mềm mại cùng nhiều mảng chạm khắc tinh xảo. Các đề tài rồng, phượng, lân, hươu, mây nước và hoa lá được thể hiện sinh động, mang đậm dấu ấn nghệ thuật thời Lê Trung hưng và các thời kỳ tu bổ sau này. Đình hiện còn lưu giữ nhiều di vật quý như kiệu rước, ngai thờ, sắc phong, bát hương cổ và các đồ thờ tự có niên đại từ thế kỷ XVII đến đầu thế kỷ XX. Hằng năm, lễ hội đình được tổ chức vào Rằm tháng Giêng, là dịp người dân tưởng nhớ công đức các vị Thành hoàng và gìn giữ những giá trị văn hóa truyền thống. Với những giá trị nổi bật về lịch sử, kiến trúc và nghệ thuật, năm 2018, đình Tường Phiêu được Thủ tướng Chính phủ xếp hạng Di tích quốc gia đặc biệt. Nguồn: Cục Di sản văn hóa

Hà Nội

486 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia đặc biệt

Mở

Cây đa Bác Hồ trồng ở Tiên Hội

Cây đa Bác Hồ trồng ở Tiên Hội

Địa điểm Cây đa Bác Hồ trồng ở Tiên Hội, nay thuộc thôn Tiên Hội, xã Đông Anh, thành phố Hà Nội, là nơi lưu dấu sự kiện Chủ tịch Hồ Chí Minh về thăm và tham gia Tết trồng cây của nhân dân địa phương. Ngày 31/1/1965, tại gò Đồng Nhân, làng Tiên Hội, Bác Hồ đã trực tiếp trồng một cây đa lưu niệm. Người căn dặn nhân dân khi trồng cây phải chăm sóc để cây sống tốt, đồng thời tích cực trồng thêm nhiều cây xanh, góp phần tạo bóng mát và bảo vệ môi trường. Sau sự kiện, cây đa được chính quyền và nhân dân địa phương chăm sóc, gìn giữ. Địa điểm Bác trồng cây trở thành nơi lưu niệm một sự kiện gắn với phong trào Tết trồng cây do Người khởi xướng, đồng thời mang ý nghĩa giáo dục truyền thống và nhắc nhớ những tình cảm, lời căn dặn của Bác dành cho nhân dân Đông Anh. Ngày nay, Cây đa Bác Hồ trồng ở Tiên Hội vẫn được địa phương bảo tồn như một dấu tích lịch sử, góp phần làm phong phú thêm hệ thống di tích gắn với Chủ tịch Hồ Chí Minh trên địa bàn Hà Nội. Nguồn: Trang thông tin điện tử Đông Anh 360

Hà Nội

315 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Di tích Đình An Hòa

Di tích Đình An Hòa

Đình An Hòa tọa lạc tại thôn An Hòa, phường Yên Hòa, là một di tích lịch sử, kiến trúc nghệ thuật tiêu biểu, gắn với truyền thống văn hiến và yêu nước lâu đời của vùng đất này. Đình thờ Bạch Hạc Tam Giang và vua Lý Thần Tông, những vị được nhân dân tôn kính và phụng thờ làm Thành hoàng. Đặc biệt, Lý Thần Tông có mối liên hệ sâu sắc với vùng đất An Hòa, bởi ông là con của Sùng Hiền Hầu và được cho là sinh ra tại đây. Đình hiện còn lưu giữ nhiều di vật có giá trị như thần tích chữ Hán, 14 đạo sắc phong từ thời Cảnh Hưng đến Khải Định, cùng các kiệu long đình, kiệu bát cống và bài vị chạm rồng. Những hiện vật này không chỉ có giá trị về lịch sử mà còn thể hiện nghệ thuật chạm khắc tinh xảo của cha ông. Hằng năm, đình tổ chức lễ hội với nghi thức rước kiệu thánh cùng nhiều hoạt động văn hóa dân gian, góp phần gìn giữ những nét đẹp truyền thống của làng An Hòa. Nguồn: Hà Nội Danh thắng và Di tíc

Hà Nội

446 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Đền Dầm

Đền Dầm

Đền Dầm – Ngôi đền thờ Mẫu linh thiêng ở Hà Nội. Đền Dầm (hay đền Xâm Dương) nằm tại thôn Xâm Dương, xã Ninh Sở, huyện Thường Tín cũ, thành phố Hà Nội. Đây là một trong những ngôi đền tiêu biểu thờ Mẫu Thoải (Thủy Cung Thánh Mẫu) trong tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt. Theo truyền thuyết, Mẫu Thoải là con gái Long Vương, đã hiển linh giúp vua Trần Nhân Tông đánh thắng quân Nguyên – Mông. Sau chiến thắng, nhà vua cho lập đền để tưởng nhớ công lao của bà. Trải qua nhiều triều đại, đền được ban nhiều sắc phong và trở thành một di tích tâm linh nổi tiếng của vùng Thường Tín. Đền Dầm có không gian cổ kính với hồ nước, nhiều cây cổ thụ cùng các hạng mục như chính điện thờ Mẫu, cung Trần triều, động Sơn Trang, lầu Cô và lầu Cậu. Hằng năm, lễ hội đền diễn ra vào tháng 2 âm lịch với các nghi lễ dâng hương, rước nước cùng nhiều hoạt động văn hóa dân gian đặc sắc, thu hút đông đảo du khách và nhân dân thập phương. Nguồn: Focus Asia Travel

Hà Nội

660 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Đền Đại Lộ

Đền Đại Lộ

Đền Đại Lộ (còn gọi là đền Mẫu Đại Lộ, đền Lộ) tọa lạc tại xã Ninh Sở, huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội. Di tích được khởi dựng từ khoảng thế kỷ XVII, ban đầu thờ Tứ vị Thánh Nương nhà Tống, nhưng qua quá trình hình thành và phát triển đã trở thành một trong những ngôi đền thờ Mẫu tiêu biểu của vùng đồng bằng Bắc Bộ. Đền có quy mô kiến trúc khá hoàn chỉnh với các hạng mục như nghi môn, đền thờ Đức Thánh Trần, tiền bái, phương đình, trung cung, hậu cung, gác chuông, tả - hữu hành lang, lầu Cô và lầu Cậu. Trong đó, phương đình chồng diêm hai tầng tám mái là hạng mục nổi bật nhất với nghệ thuật chạm khắc tinh xảo, mang đậm phong cách kiến trúc thời Nguyễn. Di tích còn bảo lưu nhiều hiện vật có giá trị như sắc phong, đại tự, câu đối, long ngai, bài vị và hệ thống tượng thờ. Không gian thờ tự của đền phản ánh đầy đủ tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ, Tứ phủ truyền thống của người Việt. Ngoài Tứ vị Thánh Nương, đền còn thờ Đức Thánh Trần cùng nhiều vị Thánh trong hệ thống tín ngưỡng dân gian, là nơi diễn ra các nghi lễ hầu đồng và sinh hoạt tín ngưỡng đặc sắc của cộng đồng. Nguồn: Cục Di sản văn hóa

Hà Nội

683 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Đình - Chùa Mai Phúc

Đình - Chùa Mai Phúc

Đình - Chùa Mai Phúc (Long Biên, Hà Nội) Đình - Chùa Mai Phúc tọa lạc tại phường Long Biên, thành phố Hà Nội, được khởi dựng từ thế kỷ XVII thời nhà Lê. Đây là di tích lịch sử, kiến trúc nghệ thuật có giá trị, thờ hai vị phúc thần Xuân Vinh Đại Vương và Luân Nương Công Chúa cùng các danh tướng có công dẹp loạn 12 sứ quân. Theo thần tích, Xuân Vinh và em gái Luân Nương là hai anh em có tài văn võ, chiêu mộ nghĩa quân, góp sức cùng Đinh Tiên Hoàng thống nhất đất nước. Sau khi lập nhiều chiến công, Xuân Vinh được phong là Xuân Vinh Đại Vương, còn Luân Nương được phong là Luân Nương Công Chúa. Khi hai anh em qua đời, nhân dân lập đền thờ để tưởng nhớ công lao và tôn làm thành hoàng của địa phương. Đình Mai Phúc hiện còn lưu giữ nhiều hiện vật quý, nổi bật là 28 đạo sắc phong từ các triều đại phong kiến, trong đó sắc phong sớm nhất có niên đại năm 1674. Đặc biệt, đình còn bảo tồn được đôi chân đèn thời Mạc có niên hiệu Diên Thành thứ 7 (1583) do người dân Bát Tràng cung tiến. Những hiện vật này cho thấy ngôi đình được xây dựng từ khoảng thế kỷ XVI. Trải qua nhiều biến cố lịch sử và chiến tranh, đình từng bị hư hại nhưng đã được trùng tu nhiều lần. Hiện nay, đình quay hướng Nam, vẫn là nơi sinh hoạt tín ngưỡng, gìn giữ những giá trị văn hóa truyền thống của người dân địa phương. Nguồn: Hà Nội Danh thắng và Di tích

Hà Nội

467 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Bến đò Tứ Tổng

Bến đò Tứ Tổng

Nằm bình yên bên dòng sông Hồng cuộn đỏ phù sa, bến đò Tứ Tổng (nay thuộc Tứ Liên, phường Tây Hồ, Hà Nội) là một chứng nhân lịch sử, ghi dấu những trang sử hào hùng của Thủ đô trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp. Trước Cách mạng Tháng Tám, vùng đất Tứ Tổng xưa đã là một trong những trung tâm của phong trào cách mạng ở Hà Nội, nơi nuôi giấu và bảo vệ nhiều cán bộ. Khi tiếng súng Toàn quốc kháng chiến bùng nổ, bến đò Tứ Tổng nhanh chóng trở thành mạch máu giao thông chiến lược nối liền nội đô với vùng căn cứ địa an toàn Đông Anh. Đỉnh cao chiến công nơi đây diễn ra vào đêm 15/1/1947, khi lực lượng tự vệ và nhân dân Tứ Tổng bất chấp hiểm nguy, dũng cảm chèo thuyền chở cán bộ, chiến sĩ và vũ khí vượt sông Hồng an toàn dưới làn mưa đạn của kẻ thù. Sự hy sinh thầm lặng cùng tinh thần “quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh” của người dân nơi đây đã góp phần quan trọng bảo vệ lực lượng cốt lõi của cách mạng trong những ngày đầu gian khổ. Giờ đây, chiến tranh đã lùi xa, bến đò xưa đã được Nhà nước gắn biển lưu niệm di tích lịch sử cách mạng kháng chiến. Nơi đây trở thành một "địa chỉ đỏ" linh thiêng, nhắc nhở thế hệ trẻ hôm nay về lòng yêu nước và truyền thống cách mạng kiên cường của cha ông. Theo: Báo Hà Nội mới

Hà Nội

658 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp tỉnh

Mở

Di tích nổi bật

Xem tất cả
Hoàng Thành Thăng Long

Hoàng Thành Thăng Long

Di tích lịch sử và khảo cổ Khu Trung tâm Hoàng thành Thăng Long - Hà Nội với diện tích quy hoạch bảo tồn vùng lõi là 18,395 ha (bao gồm Khu di tích thành cổ Hà Nội và Khu di tích khảo cổ học 18 Hoàng Diệu) và diện tích vùng đệm là 108ha. Năm 1009, Lý Công Uẩn lên ngôi hoàng đế, lập nên vương triều Lý. Năm 1010, Lý Thái Tổ rời đô từ Hoa Lư về thành Đại La, đổi tên kinh đô mới là Thăng Long và xây dựng nơi đây thành một trung tâm kinh tế, chính trị và văn hóa lớn nhất của đất nước. Trải qua các triều đại Lý, Trần, Lê Sơ, Mạc và Lê Trung Hưng, thành Thăng Long luôn giữ vị trí “Quốc đô”, là nơi ở và làm việc của Vua và Hoàng tộc. Khu vực này cũng còn là nơi cử hành các nghi lễ quan trọng của đất nước. Sau khi nhà Nguyễn định đô ở Huế (1802), vai trò kinh đô của Thăng Long mới bị giải thể… Từ sau năm 1954, khu vực thành Thăng Long trở thành trụ sở làm việc của Bộ Quốc phòng. Chính tại khu vực này, nhiều quyết định quan trọng của Đảng và Nhà nước đã được ra đời, góp phần tạo ra những thắng lợi lớn trong công cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước giành độc lập dân tộc, thống nhất đất nước. Trải qua thời gian và những biến cố của lịch sử, thành Thăng Long đã có nhiều thay đổi, biến dạng…, nhưng đến nay vẫn còn lưu giữ được một số di tích lịch sử và khảo cổ học, tiêu biểu như: Kỳ đài (Cột cờ Hà Nội): xây dựng vào năm 1812, dưới thời vua Gia Long, cao 33,4m, gồm ba tầng: đế, thân cột và vọng canh. Đoan môn: là cửa thành phía Nam, xây theo kiểu vòm cuốn. Đoan môn được bố cục theo chiều ngang, gồm cửa chính giữa dành riêng cho vua, hai bên có 4 cửa nhỏ hơn, dành cho các quan và hoàng tộc. Điện Kính thiên: nằm ở vị trí trung tâm của hoàng thành (thời Lê Sơ), được xây dựng năm 1428, ngay trên nền cũ của điện Càn Nguyên thời Lý (sau đổi tên là điện Thiên An). Năm 1886, điện này đã bị thực dân Pháp phá để xây dựng Sở Chỉ huy Pháo binh quân đội Pháp. Hiện nay, chỉ còn lại dấu tích của nền móng của điện Kính thiên. Đặc biệt, khu vực này còn lưu giữ được hai bậc thềm rồng bằng đá, có niên đại thế kỷ XV. Hậu lâu (Lầu Công chúa): xây dựng năm 1821, được sử dụng làm nơi nghỉ ngơi của các cung nữ trong đoàn hộ tống các Vua nhà Nguyễn khi xa giá ra Bắc. Cuối thế kỷ XIX, Hậu lâu bị hư hỏng nặng, thực dân Pháp đã cho cải tạo, xây dựng lại như hiện nay. Chính Bắc môn (Cửa Bắc): là cổng thành phía Bắc, được xây dựng năm 1805, gồm hai tầng, tám mái, với đầu đao cong, theo kiểu truyền thống. Tường bao và 8 cổng hành cung thời Nguyễn: năm 1805, nhà Nguyễn đã cho xây dựng tường bao từ cửa Đoan môn quanh nội điện, làm hành cung để vua làm việc và nghỉ ngơi mỗi khi Bắc tuần. Hiện nay, trong khu thành cổ còn 8 cổng thành cùng với hệ thống tường bao xung quanh hành cung bằng gạch vồ. Di tích nhà và hầm D67: được xây dựng vào năm 1967, trong khu A. Đây là nơi Bộ Chính trị, Đảng ủy Quân sự Trung ương, Bộ Tổng Tư lệnh đã đưa ra nhiều quyết định mang tính lịch sử, đánh dấu những mốc son của cách mạng Việt Nam: Tổng tiến công Tết Mậu Thân 1968, chiến dịch năm 1972, Cuộc tổng tiến công năm 1975 và đỉnh cao là Chiến dịch Hồ Chí Minh… Những công trình kiến trúc Pháp: được xây dựng từ cuối thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX theo kiểu Vauban, bao gồm tòa nhà Sở Chỉ huy Pháo binh Quân đội Pháp; một tòa nhà 2 tầng, xây dựng năm 1897, nay dùng làm trụ sở của Cục Tác chiến; hai tòa nhà một tầng, xây dựng năm 1897. Phía Đông của tòa nhà Cục Tác chiến có một nhà khách, xây dựng năm 1930. Cây xanh trong khu di tích: được trồng với mật độ dày, đa dạng về chủng loại, đã góp phần tạo ra môi trường trong lành và cảnh quan hài hòa cho khu di tích. Di tích khảo cổ tại 18 Hoàng Diệu: nằm cách nền điện Kính Thiên khoảng 100m về phía Tây, có diện tích 4,530ha, bắt đầu khai quật từ tháng 12 năm 2002, được phân định làm 4 khu (A, B, C, D). Khi tiến hành khai quật tại đây, các nhà khảo cổ học đã phát hiện dấu tích nền móng của các công trình kiến trúc cổ thuộc Hoàng thành Thăng Long cùng nhiều hiện vật có giá trị, như vật liệu trang trí kiến trúc bằng đất nung, cột gỗ, đồ gốm sứ của các triều đại phong kiến Việt Nam và nhiều đồ dùng, vật dụng của nước ngoài, như các loại đồ sứ của Tây Á, Trung Quốc, Nhật Bản… Thành cổ Thăng Long - Hà Nội là di tích lịch sử và khảo cổ tiêu biểu, là bằng chứng vật chất phản ánh trình độ kỹ thuật cao, chứa đựng các giá trị về lịch sử, kiến trúc và nghệ thuật. Đồng thời, phản ánh sự giao thoa văn hóa với các nước trong khu vực và trên thế giới trong một quá trình lịch sử lâu dài, thể hiện qua rất nhiều hiện vật lịch sử, công trình kiến trúc, cảnh quan đô thị mang bề dày hàng ngàn năm lịch sử. Với những giá trị lịch sử, văn hóa và khoa học đặc biệt của di tích, Thủ tướng Chính phủ đã quyết định xếp hạng Di tích lịch sử và khảo cổ Khu Trung tâm Hoàng thành Thăng Long - Hà Nội là di tích quốc gia đặc biệt ngày 12/8/2009. Nguồn: Cục Di sản văn hóa

Hà Nội

11874 lượt xem

Xếp hạng : Di tích quốc gia đặc biệt

Mở

Chùa Một Cột

Chùa Một Cột

Chùa Một Cột là một quần thể kiến trúc gồm ngôi chùa và toà đài giữa hồ, vốn có tên là chùa Diên Hựu và đài Liên Hoa. Đài này từ lâu quen gọi là chùa Một Cột. Chùa xưa nằm ở phía Tây thành Thăng Long, thuộc thôn Ngọc Thanh, Ngọc Hà, nay là địa điểm phía sau Lăng Bác. Chùa được dựng trên một hồ hình vuông, giữa hồ có một cột đá, cao chừng hai trượng, chu vi chín thước, đầu trụ đặt một toà chùa ngói nhỏ, hình như một đoá hoa sen dưới nước mọc lên vì thế chùa có tên là chùa Nhất Trụ hay chùa Một Cột. Chùa được xây dựng từ năm 1049, tức năm đầu niên hiệu Sùng Hưng Đại Bảo vua Thái Tông nhà Lý. Tục truyền khi ấy vua Thái Tông tuổi đã cao mà chưa có con trai nên thường đến cầu tự ở các chùa. Một đêm vua nằm chiêm bao thấy đức phật Quan Âm hiện trên đài hoa sen trong một cái hồ vuông ở phía Tây thành, tay bế một bé trai đưa cho nhà vua. Sau đó quả nhiên nhà vua sinh con trai. Thấy ứng nghiệm, vua liền sai lập chùa để thờ phật Quan Âm. Khi chùa làm xong vua triệu tập toàn bộ các tăng ni phật tử ở kinh thành đứng chầu xung quanh, tụng kinh suốt bảy ngày đêm và lập thêm một ngôi chùa lớn bên cạnh để thờ phật, gọi là chùa Diên Hựu. Năm 1105, vua Lý Nhân Tông cho sửa lại chùa, dựng lên một cây tháp bằng đá trắng trước chùa Diên Hựu gọi là tháp Bạch Tuynh. Tháp cao 13 trượng. Từ tháp vào chùa Một Cột đi bằng một hành lang cầu vồng. Mỗi tháng hai ngày Rằm, mồng Một, nhà vua cùng các hậu, phi, cung tần và cận thần tới chùa lễ phật. Đặc biệt cứ đến ngày 8 tháng Tư âm lịch hàng năm là ngày Phật sinh, nhà vua lại ngự ra chùa trước một đêm, giữ mình chay tịnh để làm lễ tắm phật ngày hôm sau. Ngày này rất đông các tăng ni phật tử và nhân dân các nơi tới dự, làm nên ngày hội lớn ở kinh đô. Trong ngày này, tại chùa có lễ phóng sinh. Lễ phóng sinh bắt đầu ngay sau lễ tắm phật, nhà vua đứng trên đài cao, tay cầm một con chim thả cho bay đi, sau đó đến các tăng ni và các thiện nam tín nữ đua nhau mỗi người thả một con, bóng chim bay rợp trời. Sử cũ chép vào năm Long phù thứ tám (1108), nhà vua cho xuất kho một vạn hai ngàn cân đồng để đúc một quả chuông lớn gọi là Giác thế chung (chuông thức tỉnh người đời), để treo ở chùa Diên Hựu. Lại xây một toà Phương đình bằng đá xanh cao tám trượng, trên nóc đình đóng những gióng sắt to để treo chuông. Nhưng chuông đúc xong đánh lại không kêu nên đành bỏ ngoài ruộng. Lâu ngày bị lãng quên, chuông thành tổ của rùa, vì thế chuông có tên Quy điền. Năm 1922 trường Viễn đông Bác cổ có sửa chữa lại chùa và giữ đúng theo kiến trúc cũ. Đêm 11-9-1954, bọn tay sai thực dân Pháp trước khi giao trả Thủ đô cho Chính phủ và nhân dân ta đã cố tình đặt mìn phá hoại chùa. Sau ngày tiếp quản Thủ đô, Chính phủ đã cho chiếu theo đồ dạng cũ, sửa chữa lại. Tháng 4-1955, chùa Một Cột được dựng hoàn nguyên như cũ. Cho đến năm 1958, nhân dịp Hồ Chủ Tịch đi thăm Ấn Độ, nhân dân Ấn Độ đã kính tặng người cây Bồ đề của đất Phật và đã được trồng tại sân chùa. Chùa Một Cột được công nhận là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia đợt đầu tiên năm 1962. Nguồn: Cổng thông tin điện tử Quận Ba Đình

Hà Nội

11860 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Chùa Thanh Nhàn

Chùa Thanh Nhàn

Chùa Thanh Nhàn (Linh Sơn Tự) là cơ sở cách mạng bí mật của Đảng, nhà thờ Tổ là nơi hội họp, in truyền đơn, ăn ở của cán bộ cách mạng hoạt động trong thời kỳ trước cách mạng tháng Tám năm 1945 và khi Pháp tạm chiếm Hà Nội (1947- 1949). Một số cán bộ đã hy sinh anh dũng tại Chùa vào tháng 3/1949, đã được an táng tại nghĩa trang Mai Dịch- Hà Nội. Chùa Thanh Nhàn hiện nằm ở số 68, ngõ 318 đường La Thành, Đống Đa, Hà Nội. Chùa đã được Bộ Văn hóa thông tin công nhận là di tích lịch sử văn hóa vào năm 1989. Chùa Thanh Nhàn nằm trong một tổng thể di tích gồm Đình Lạc Nghiệp ở phía Đông gần kề với chùa, xa hơn chút là Đình An Cư, Đình Lương Yên. Chùa Thanh Nhàn có quy mô lớn. Tam quan cấu trúc được thể hiện theo kiểu cột trụ, có một cổng chính. Chùa chính tọa lạc trên vị trí cao nhất so với các công trình kiến trúc phụ trợ và quay hướng nam nhìn ra khoảng sân và ao sen của chùa. Chùa có kết cấu hình chữ “Đinh”, kiểu tường hồi bít đốc, mái lợp ngói ta. Bờ nóc và bờ dải đắp nhô cao, trên có trang trí thành dải các hình hoa thị, chính giữa bờ nóc đắp bức đại tự “Linh Sơn Tự”. Phần trang trí trong kiến trúc chùa chính nhẹ nhàng, các chủ đề và họa tiết chủ yếu mang phong cách nghệ thuật thời Nguyễn, như: Thân trúc mai, hoa văn triện, được tập trung trên các phần cuốn mê. Cùng với kiến trúc chùa chính, có nhà tổ, kiến trúc năm gian. Trong chùa còn có nhà điện mẫu. Hiện nay, chùa Thanh Nhàn còn bảo lưu được khối lượng di vật phong phú cả về số lượng và giá trị nghệ thuật. Điển hình là các tấm bia đá cổ (9 tấm bia). Hệ thống tượng Phật, tượng Mẫu, tượng Tổ gồm 61 pho tượng lớn nhỏ. Hai quả chuông đồng được đúc vào năm Tự Đức nguyên niên (1848). Các hiện vật khác: hoành phi, câu đối… là sản phẩm của thời Nguyễn. Vào những năm đầu của cuộc kháng chiến chống thực dân pháp xâm lược, chùa Thanh Nhàn là cơ sở nuôi dấu các đồng chí cách mạng nằm vùng, nơi in ấn, cất dấu tài liệu, truyền đơn của Đảng, trong cuộc đấu tranh bền bỉ ác liệt, có các đồng chí đã anh dũng hy sinh tại ngôi chùa này, một số các đồng chí khác về sau đã lãnh trách nhiệm của Đảng và Nhà nước, họ đã trở thành những nhân chứng về thời kỳ lịch sử, đồng thời cũng là nhân chứng khẳng định sự đóng góp tích cực của chùa Thanh Nhàn trong sự nghiệp đấu tranh bảo vệ Thủ đô Hà Nội, bảo vệ Tổ quốc, tạo thêm động lực thúc đẩy cuộc cách mạng nhanh chóng đến thắng lợi rực rỡ. Ngày nay, chùa còn là địa chỉ để những phật tử có tấm lòng hảo tâm đóng góp, chia sẻ với nhiều hoàn cảnh khó khăn trong xã hội bằng những việc làm từ thiện hết sức thiết thực và đậm tính nhân văn như: nấu cơm, cháo từ thiện cho các bệnh nhân ung thư có hoàn cảnh khó khăn tại hai bệnh viện K (địa chỉ Quán sứ và Thanh trì). Tổ chức những chương trình phát quà kết hợp với khám chữa bệnh cho đồng bào vùng sâu, vùng xa; chương trình mổ mắt cho người nghèo; phát xe lăn cho người tàn tật. Phối hợp với phòng Y tế tổ chức phòng khám từ thiện cho người nghèo ngay tại chùa. Nguồn: Trang thông tin điện tử Phường Thanh Nhàn

Hà Nội

11549 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Đình, chùa Đại Lan

Đình, chùa Đại Lan

Cụm di tích Đình, chùa Đại Lan ở thôn Đại Lan, xã Duyên Hà, huyện Thanh Trì, TP Hà Nội được xây dựng vào khoảng thế kỷ XVII. Đình Đại Lan, nằm ở sát bên trái tòa tam bảo của ngôi chùa làng, có kiến trúc hình chữ “Đinh” gồm 3 gian tiền đình và 2 gian hậu cung. Tòa Đại bái đình Đại Lan được chia làm 3 gian 2 dĩ với 4 mái đao cong, bờ nóc đắp lưỡng long chầu hổ phù đội mặt trời cách điệu, hai đầu bờ nóc là hai con rồng ngậm bờ nóc, các mái đao được đắp đầu rồng cong hướng vào đình. Vào bên trong các bộ vì đỡ mái được làm theo kiểu thượng giá chiêng rường nách, hạ cốn, bẩy hiên, bẩy hậu trên mặt bằng bốn hàng chân cột. Trang trí trên kiến trúc tại đình Đại Lan chủ yếu tập trung vào các đầu dư, cốn chạm rồng, tứ linh, tứ quý là các đề tài quen thuộc trong kiến trúc tín ngưỡng dân gian truyền thống. Đình Đại Lan thờ 4 vị Thành hoàng làng (3 vị thời Hùng Vương là Linh Hồ, Minh Châu và Chà Lục có công dẹp giặc và Nguyễn Như Đổ, 1 đại thần nhà Lê, làm quan tới chức Thượng thư, ba lần đi sứ Trung Quốc). Đình Đại Lan hiện còn lưu giữ được khá nhiều hiện vật có giá trị gồm 11 đạo sắc phong của triều Lê, Nguyễn, cuốn thư, cửa võng, long ngai, bài vị, hương án, án văn, nhất là bốn bộ kiệu được làm từ thế kỷ XVII-XVIII. Đáng chú ý là hoành phi lớn dạng cuốn thư, bên dưới là cửa võng chạy suốt gian nhà, đây là hai di vật được trang trí bằng kỹ thuật chạm thủng, sơn son thếp vàng. Rồng chầu mặt trời, rồng cuốn thủy, long mã tranh châu…..được trang trí ở diềm bức hoành phi. Phần trên cửa võng là đôi rồng lớn chầu mặt hổ phù, hai bên trang trí các hình rồng phun nước, phượng, long mã…bên dưới hai hiện vật này là một phương án gỗ được trang trí tỉ mỉ bằng kỹ thuật chạm nổi các hình rồng lá cách điệu chầu hổ phù, chính giữa là rồng, phượng, hướng về hình mặt trời ở giữa…Chính điện có bức hoành phi làm theo dạng cuốn thư treo trên một cửa võng được đục chạm tinh xảo. Các mảng trang trí ở đó đều thể hiện những đề tài chạm khắc truyền thống: lưỡng long triều nhật, rồng cuốn thủy, long mã tranh châu, phượng múa… Phía dưới là một hương án với những mảng điêu khắc kín xung quanh diềm. Hai gian bên có treo hoành phi trên lối vào cung cấm. Trong hậu cung còn có một khám lớn đặt các long ngai và bài vị của 4 vị Thành hoàng làng. Hội làng Đại Lan diễn ra vào ba ngày mồng 6, mồng 7 (chính hội) và mồng 8 tháng Giêng. Trong ngày hội hằng năm không thể thiếu môn đánh gậy để tưởng nhớ công lao các vị thần, đồng thời cũng để rèn sức, rèn trí giữ yên xóm làng. Chùa Đại Lan Chùa Đại Lan (Phổ Huệ Tự), vốn là nghè của làng Đại Lan, xã Duyên Hà. Bởi trước đây, chùa đã nhiều lần di chuyển và lần gần đây nhất vào năm 1959 khi sông Hồng đổi dòng, đất chùa bị sụt nên dân làng đã chuyển tượng Phật và đồ thờ vào nghè để thờ, từ đó nghè đã được chuyển thành chùa. Xưa kia công trình nghè có quy mô kiến trúc lớn với kết cấu “tiền Nhất hậu Đinh”. Tiền đường gồm năm gian và ba gian Thượng điện. Chùa xây tường gạch bao quanh, tường hồi bít đốc, cuối bờ chảy xây tay ngai giật cấp, hai mái lợp ngói ri, chính giữa bờ nóc đắp bức cuốn thư, bên trong đắp nổi chữ Hán ghi tên chữ của chùa, hai đầu bờ nóc đắp hai con rồng lá ngậm bờ nóc, hai tường hồi được xây tường lửng nối với hai cột trụ, đỉnh trụ đắp tứ phượng chụm đuôi vào nhau, xuống dưới là ô lồng đèn bên trong đắp nổi tứ linh (long, ly, quy, phượng), thân trụ được đắp các gờ nổi bên trong viết các đôi chữ Hán có nội dung ca ngợi cảnh đẹp của chùa và lòng từ bi hỷ xả, bác ái của đạo Phật. Vào bên trong, bộ vì đỡ mái tòa Tiền đường được làm theo kiểu: Thượng giá chiêng chồng rường, hạ cốn, kẻ hiên, bẩy hậu trên mặt bằng bốn hàng chân cột. Trang trí trên kiến trúc nhà Tiền đường được tập trung trên các đầu dư, con rường, kẻ và các bức cốn với đề tài trang trí chủ yếu là rồng, tứ linh, tứ quý, hoa cúc, bát bửu của đạo Nho…Đáng lưu ý nhất là hai bức cốn nách ở hai bên hồi thể hiện rồng mây bằng kỹ thuật chạm lộng. Rồng mây thể hiện quan niệm truyền thống của Nho giáo long vân khánh hội, Vân tòng long, phong tòng hổ là hình tượng cho sự gặp gỡ vua tôi. Sự có mặt của hai bức cốn trang trí long vân là rất phù hợp trong một kiến trúc nghè thờ các vị khoa bảng trước đây. Hậu cung chùa Đại Lan được xây các bệ cao dần từ ngoài vào trong, trên bệ có đặt các pho tượng. Trên cùng là bộ tượng Tam Thế. Lớp thứ hai là bộ tượng Di Đà Tam Tôn, với tượng A Di Đà ngồi giữa, hai bên là tượng Quan Thế Âm và tượng Đại Thế Chí. Lớp tiếp theo là tượng Di Đà Tiếp Dẫn, hai bên là tượng Thị Giả. Lớp thứ tư gồm cá tượng Quan Âm Chuẩn Đề, hai bên là tượng Kim Đồng, Ngọc Nữ. Ngoài cùng là tượng Ngọc Hoàng và Phạm Thiên, Đế Thích, rồi đén tòa Cửu Long và tượng Thích Ca Sơ Sinh. Hai bên hồi Thượng điện có các tượng Quan Âm Tọa Sơn, Thổ Địa, Giám Trai, bộ tượng Thập Điện Diêm Vương. Ngoài nhà Tiền đường là hai ban thờ Đức Ông, Thánh Tăng và tượng Hộ Pháp Khuyến Thiện, Trừng Ác. Bên cạnh hệ thống tượng Phật, chùa Đại Lan còn lưu giữ được một số hiện vật có giá trị: Cửa võng, hương án, bát hương thời Lê; 1 đôi lọ sứ thời Thanh, 2 quả chuông, 4 bức hoành phi và 2 đôi câu đối. Năm 1989, cụm di tích đình, chùa Đại Lan được Bộ Văn hóa – Thông tin công nhận là di tích lịch sử-văn hóa cấp quốc gia. Nguồn: Sở Văn hóa và Thông tin Hà Nội

Hà Nội

11274 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Đình Hoàng Xá

Đình Hoàng Xá

Đình Hoàng Xá, thị trấn Vân Đình, huyện Ứng Hòa, Hà Nội được xây dựng từ thế kỷ XVII, đã được Bộ Văn hóa xếp hạng Di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia trong đợt đầu tiên vào năm 1962. Đình Hoàng Xá thờ đức Thành hoàng Quý Minh, theo huyền sử nước ta là một trong 3 vị Thánh của núi Tản Viên (Ba Vì) sống vào cuối thời vua Hùng. Tên đình được lấy theo tên làng Hoàng Xá trước thuộc xã Liên Bạt, sau mới sáp nhập vào thị trấn Vân Đình. Cuối thời Lê, làng Hoàng Xá thuộc xã Hoa Đình, tổng Phương Đình, huyện Sơn Minh, trấn Sơn Nam Thượng. Đình được dựng vào ngày tốt tháng 5 Giáp Tuất niên đại Chính Hòa thứ 15 thời Lê Trung Hưng (1694). Việc xây cất và trang trí kéo dài trên 40 năm đến thời Lê Vĩnh Hựu (1735-1740) mới hoàn thành. Lúc đầu đình chỉ có một tòa nhà theo hình chữ “Nhất”. 166 năm sau, dân làng Hoàng Xá cho tiến hành sửa chữa nhỏ và xây cất thêm Trung cung, Hậu cung theo kiểu kiến trúc hình chữ “Công”. Trên cột hiên đầu phía bắc sau đình vẫn còn một dòng chữ Hán ghi rõ “Tự Đức thập tam niên thập nhất nguyệt, nhật, bản thôn tu trợ đình sở” (năm Canh Thân 1860). Trong đình hiện đang lưu giữ những mảng chạm khắc đạt đỉnh cao nhất của nghệ thuật thời Lê Trung Hưng. Đình Hoàng Xá tọa lạc trên một khu đất rộng giữa làng, gọi là thế đất “Tả kỳ hữu kiếm” (bên trái có cờ, bên phải có kiếm). Mặt đình nhìn về hướng tây - tây bắc. Nghi môn được thiết kế theo kiểu trụ biểu. Đầu trụ có hình lồng đèn, phía trên đắp đôi lân chầu nhau. Lòng thân trụ có ghi các câu đối. Sát với trụ biểu là hai lối đi kiểu cổng vòm với hai tầng mái, đao cong, đắp ngói ống. Năm 1995 dân làng xây thêm ở 2 bên sân đình 2 nhà giải vũ gồm 4 gian tường hồi bít đốc. Tòa Đại bái xây trên nền hình chữ nhật rộng 200m2, gồm 3 gian lớn và 2 chái, không đều nhau. Gian giữa là nơi hành lễ, các gian bên trước lát gỗ làm nơi sinh hoạt cộng đồng, nay xây 4 bệ lát gạch. Bộ khung gỗ được làm vững chắc trên các hàng cột to, tròn. Cột cái của hai bộ vì giữa có chu vi 1,85m, cột quân có chu vi 1,25m. Bốn bộ vì chính được làm theo hai thức khác nhau. Hai bộ kết cấu theo kiểu “Thượng rường hạ bẩy”, hai bộ chính bên lại có kết cấu theo kiểu “Thượng chồng rường hạ kẻ”. Đỡ phần trên hai mái hồi là hệ thống chồng rường đặt trên thanh xà ngang to. Xà có một đầu ăn mộng qua thân cột cái với hai vì bên, đầu kia đặt trên cột quân phía gian hồi. Tòa Hậu cung gồm 1 gian 2 dĩ, xây trên nền hình vuông, có 4 lá mái và các góc đao cong. Giữa bốn cột cái đặt một sập lớn, bên trên là cỗ khám thờ hình khối hộp vuông được sơn son thếp vàng, trong khám có long ngai bài vị của Thành hoàng Quý Minh. Nằm vuông góc nối liền Hậu cung với Đại bái là tòa nhà Trung cung gồm 3 gian xây dọc, tạo thành 3 tầng cửa võng. Trong đình Hoàng Xá có các tác phẩm điêu khắc đầy tính nghệ thuật được thể hiện trên các thân bẩy, kẻ, ván bưng, các bức cốn, chồng rường, các đầu dư… Nhiều nhất là các bức chạm rồng với đề tài Độc Long, Long Vân, Long Ổ, Long Ly... Bốn con kìm được chạm thành những hình rồng có đầu thon, đuôi dài ẩn phía sau cột cái, mặt ngựa với trán dô, mũi hếch, miệng cười, râu, bờm đua ra sau như những đao mác dài che kín phần cổ, hai chân choãi ra vững chắc. Trên khắp bộ khung của đình, hình rồng được tạo ở các tư thế khác nhau theo phong cách chạm lọng, chạm bong nhiều lớp của nghệ thuật thời Lê Trung Hưng. Đan xen với rồng là các bức chạm với nhiều đề tài sinh hoạt của người và thú như cảnh các tiên nữ múa hát, nhạc công đánh trống, hát cửa đình, chèo thuyền, đấu vật, chọi gà… cảnh voi đi cày, ngựa hoặc cảnh cưỡi voi cưỡi ngựa, táng mả hàm rồng… Ngoài chạm khắc, trong đình Hoàng Xá hiện còn giữ được một khám thờ lớn với ngai vị, bàn thờ và các sắc phong từ thời vua Quang Trung đến Khải Định, rồi kiệu rồng, bát bửu, cùng hoành phi, câu đối. Trong 3 gian chính của tòa Đại bái, ở giữa hai xà dọc thượng có ba bức hoành phi lớn. Gian giữa là bức “Sơn anh hải tú” (chữ “tú” rất đẹp với lớp thếp vàng bị bong dần theo năm tháng), gian phải đề “Ích thi vô phương”, gian trái là “Cực hữu qui hội”. Trung cung có 3 tầng cửa võng long chầu phượng vũ. Phía trước là bức hoành phi “Thánh cung vạn tuế” (hiện nay bức này và cửa võng không còn). Qua cửa võng là bức hoành phi “Thân tích vô cương” cùng với đôi câu đối “Hoàng Xá xuân hùng đoan hữu cực/ Phương Đình nhật lệ điện hành quy”. Trong Hậu cung, trước khám thờ Thành hoàng là bức hoành phi “Hiển linh từ”, bên phải khám có lá cờ “Khâm ban thượng đẳng”. Nguồn: Sở Du lịch Hà Nội

Hà Nội

11249 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Đền Voi Phục Hà Nội

Đền Voi Phục Hà Nội

Đền được lập từ thời Lý Thái Tông (1028-1054) ở góc phía tây nam thành Thăng Long cũ thuộc địa phận làng Thủ Lệ nay là công viên Thủ Lệ. Thờ hoàng tử Linh Lang, con của vua Lý Thái Tông, và bà phi thứ 9 Dương Thị Quang, nhưng tương truyền vốn là con của Long Quân, tên gọi là Hoàng Châu, thác sinh, là người có công trong cuộc kháng chiến chống quân xâm lược nhà Tống. Sau khi mất, được người dân Thủ Lệ lập đền thờ và được nhà vua sắc phong là Linh Lang đại vương thượng đẳng phúc thần. Thần đã nhiều lần âm phù giúp nhà Trần trong cuộc chiến chống quân xâm lược Nguyên - Mông, và nhà Lê trong cuộc phục hưng. Vì trước cửa đền có đắp hai con voi quỳ gối nên quen gọi là đền Voi Phục và vì đền ở phía tây kinh thành nên còn gọi là trấn Tây hoặc trấn Đoài (Đoài, theo bát quái thuộc phương Tây). Đền Voi Phục hiện nay nằm tại phường Ngọc Khánh, quận Ba Đình, Hà Nội. Đền còn được gọi là Đền Voi Phục Thủ Lệ để phân biệt với Đền Voi Phục Thụy Khuê tại số 251 đường Thụy Khuê, quận Tây Hồ, Hà Nội. Trước đây, đền nằm trong hệ Tứ Trấn, "giữ" phía Tây kinh thành. Nơi đây vốn là đất lắm hồ ao, lầy lội, là một trong Thập tam trại có từ thời Lý. Đương thời, thuộc tổng nội, huyện Quảng Đức, phủ Phụng Thiên. Tương truyền, đền Voi Phục được xây dựng năm Chương Thánh Gia Khánh thứ 7 (năm 1065) đời vua Lý Thánh Tông trên một khu gò cao thuộc vùng đất của trại Thủ Lệ -một trong 13 làng trại ở phía tây kinh thành Thăng Long. Mở đầu cho đền, hiện nay là cổng tứ trụ, như những trục vũ trụ đem sinh khí từ tầng trên truyền xuống trần gian (đây là sản phẩm của thế kỷ XIX - XX), hai bên cổng có bia hạ mã và đôi voi chầu phục (hiện mới được xây thêm nghi môn tứ trụ nữa, ở sát với đường lớn). Cũng chính vì điều này mà đền mang tên Voi Phục. Mới

Hà Nội

9908 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Đền thờ Nguyễn Trãi .

Đền thờ Nguyễn Trãi .

Nhà thờ Nguyễn Trãi thuộc xã Nhị Khê, huyện Thường Tín, Hà Nội. Nguyễn Trãi (1380 - 1442), người anh hùng dân tộc, nhà văn hoá kiệt xuất, là danh nhân văn hoá thế giới, đã được Tổ chức-giáo dục Khoa học và Văn hoá của Liên hợp quốc (UNESCO) công nhận năm 1980. Nhà thờ Nguyễn Trãi được xây dựng ở thôn Nhị Khê, xã Nhị Khê, huyện Thường Tín. Ở Côn Sơn (Hải Dương) và các nơi khác cũng có đền thờ danh nhân - anh hùng dân tộc Nguyễn Trãi. Cổng làng Nhị Khê đắp nổi bốn chữ Hán lớn: “Như kiến đại tân” (như thấy người khách lớn). Đó là tấm lòng của cổ nhân quý khách đến làng. Cổng này còn có tên gọi là “Cổng Quốc” - tương truyền gọi như vậy là để tưởng nhớ vị khai quốc công thần Nguyễn Trãi. Qua Cổng Quốc một đoạn đường ngắn là tới khu vực nhà thờ Nguyễn Trãi có tượng đài Nguyễn Trãi, nhà thờ, nhà trưng bày “Thân thế sự nghiệp Nguyễn Trãi”, thư viện Nhị Khê. Từ đó đến nay nhà thờ đã đón tiếp hàng triệu lượt khách đến tham quan chiêm ngưỡng và mọi người cùng có cảm tình với một tác phẩm có nội dung tốt, đã khắc họa chân dung Nguyễn Trãi - con người văn võ toàn tài. Qua khu tượng đài là đến nhà thờ. Phía trước nhà thờ có hồ bán nguyệt. Nhà thờ có hệ thống cột trụ, tường bao, cổng pháo... được đắp vẽ công phu theo kiểu đình làng. Qua một sân gạch nhỏ là tới Đại bái, nhà thờ Nguyễn Trãi được xây dựng bằng gỗ tứ thiết, đầu hồi bít đốc, trên lợp ngói ri cổ. Nhà thờ mang dáng dấp kiến trúc thời Nguyễn - kết quả của những tu bổ ở thế kỷ XIX. Nghệ thuật kiến trúc thiên về bền chắc, bào trơn, đóng bén. Nét nổi bật ở tòa Đại bái là các bức đại tự, hoành phi và câu đối đều được sơn son thếp vàng hoặc thếp bạc phủ hoàn kim thể hiện lòng tôn kính, biết ơn đối với bậc công thần, đại thi hào Nguyễn Trãi. Đó là các hoành phi: Khai quốc nguyên huân, Bình Ngô khai quốc, Bình dị cận dân.. Trên ban thờ Nguyễn Trãi ở Hậu cung có bức tranh chân dung Nguyễn Trãi, hòm sắc phong của các triều Lê và Nguyễn. Đặc biệt có một biển để trang trọng lời vua Lê Thánh Tông, năm Quang Thuận thứ 5 (1464) “Ức Trai tâm thượng quang khuê tảo” (tấm lòng Nguyễn Trãi sáng đẹp như sao khuê). Đó là lời minh oan của nhà vua đối với Nguyễn Trãi. Đến thăm nhà thờ Nguyễn Trãi, khách sẽ được giới thiệu “Trại Ổi”, “Ao Huệ” nói về thân phụ của Nguyễn Trãi là Nguyễn Phi Khanh đã mở trường dạy học. Sự nghiệp vĩ đại của Nguyễn Trãi in đậm lên mảnh đất Nhị Khê. Nhà thờ Nguyễn Trãi đã được tu sửa nhiều lần. Nhân Đại lễ 1000 năm Thăng Long - Hà Nội, thành phố Hà Nội và huyện Thường Tín đã đầu tư kinh phí để trùng tu, tôn tạo lại toàn bộ khu tưởng niệm Nguyễn Trãi. Nhà thờ Nguyễn Trãi đã được Bộ Văn hoá và Thông tin xếp hạng di tích lịch sử lưu niệm danh nhân năm 1964. Nguồn Cổng thông tin điện tử huyện Thường Tín , thành phố Hà Nội .

Hà Nội

8418 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Chùa Bà Đá

Chùa Bà Đá

Chùa Bà Đá nguyên là chốn tổ của Thiền Phái Lâm Tế, một trong hai Thiền Phái lớn của Phật giáo ở miền Bắc Việt Nam. Chùa Bà Đá (Linh Quang tự) tọa lạc tại số 3 phố Nhà Thờ, Phường Hàng Trống, Quận Hoàn Kiếm, Hà Nội, cách khu vực Hồ Hoàn Kiếm chỉ khoảng 100m. Nơi đây khi trước thuộc thôn Tiên Thị, phường Báo Thiên, tổng Tiên Túc, huyện Thọ Xương, phủ Phụng Thiên, kinh đô Thăng Long. Chùa Bà Đá là một trong bốn ngôi chùa Bà cổ kính bậc nhất Thủ đô cùng với chùa Bà Đanh, chùa Bà Nành và chùa Bà Ngô. Chùa Bà Đá nguyên là chốn tổ của Thiền Phái Lâm Tế, một trong hai Thiền phái lớn của Phật giáo ở miền Bắc Việt Nam. Chùa cũng gắn với nhiều chứng tích của hai cuộc kháng chiến cứu nước của nhân dân Hà Nội. Trong cuộc kháng chiến chống Pháp, chùa Bà Đá là cơ sở đi lại của cán bộ Việt Minh. Sau ngày thành lập Hội Phật giáo Thống nhất Việt Nam (5/1958), chùa Bà Đá là trụ sở Ban liên lạc Phật giáo Hà Nội. Sau khi Giáo hội Phật giáo Việt Nam thành lập (11/1981), chùa trở thành Trụ sở Thành hội Phật giáo Hà Nội. Từ năm 1992 tại chùa Bà Đá khai giảng lớp Trung cấp Phật học Hà Nội khóa đầu tiên (1989 – 1992). Cuối đời Lê Trịnh (1767 - 1782), khi người dân đào đất chung quanh vườn chùa để lấy đất đắp thành Thăng Long đã tìm thấy pho tượng đá. Người ta cho rằng đây là tượng của Phật bà nên rước vào thờ phụng trong chùa, từ đấy mới gọi là chùa Bà Đá. Tháng 6 năm Bính Ngọ (1786), quân Tây Sơn tiến vào Thăng Long, trong cuộc binh đao, ngọn lửa vô tình đã làm cho chùa Bà Đá hóa tro tàn. Chùa bị cháy chỉ còn một nền đất không, cỏ mọc rêu phong. Bấy giờ quan trên bắt dân làm cỏ vườn hoang ấy để sửa sang lại cảnh điêu tàn. Dân làng lại làm nên một ngôi chùa toàn bằng tranh tre để tỏ lòng kính Phật để có chỗ lễ bái. Năm Quý Sửu (1793), sư tổ Khoan Giai trụ trì chùa, dần dần dựng lên một ngôi chùa ba gian lợp ngói. Năm Tân Tỵ (1821), tổ Giác Vượng kế đăng, được thập phương công đức, bèn lập nên một ngôi chùa rộng lớn hơn, lại làm thêm mấy dãy hành lang và tăng phòng khách xá. Tiếp đấy là tổ Phổ Sĩ lên kế đăng… Từ đây trở đi, chùa Bà Đá hồi phục lại cái vẻ danh lam thắng tích như xưa. Chùa ngày nay có quy mô tương đối lớn với 5 gian tiền đường, 4 gian thượng điện và khu nhà thờ Tổ, thờ Mẫu nằm gọn trong một khuôn viên khép kín. Chùa không có tam quan như các chùa khác, lối vào là một ngõ hẹp sâu khoảng 9 mét. Mặt chùa hướng về phía Bắc. Kiến trúc độc đáo nhất của ngôi chùa này chính là mái hiên thấp được đỡ bằng bốn chiếc cột đá có kích thước khiêm nhường, tương xứng. Trên cột có các họa tiết chạm khắc rất tinh xảo và mềm mại, miêu tả cảnh bốn mùa và tứ quý. Trong chùa có nhiều tượng gỗ sơn son thép vàng, trên cao có tượng Tam thế, dưới là tượng Di Đà tam tôn. Sau đó là tượng Đức Phật Thích Ca niêm hoa, có tượng hai ngài Bồ tát Văn Thù và Bồ tát Phổ Hiền ở hai bên. Hàng dưới là Toà Cửu Long, các tượng đều có kích thước lớn hơn so với chùa khác, những pho tượng ở đây mang dáng vẻ riêng rất đẹp và cổ kính. Đặc biệt, nhà Bái đường không có Tượng Hộ Pháp như ở các chùa khác, nhưng có nhiều bia hậu gắn ở tường hai bên. Chùa cũng còn lưu giữ được một số hiện vật quý như hai quả chuông đồng đúc vào năm 1873 - 1881; khánh đồng đúc năm 1842. Chùa Bà Đá đã được UBND Thành phố Hà Nội xếp hạng di tích lịch sử - văn hoá năm 2006./. Nguồn Cổng thông tin điện tử quận Hoàn Kiếm , thành phố Hà Nội.

Hà Nội

7767 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Đình Hạ Thái

Đình Hạ Thái

Di tích kiến trúc nghệ thuật đình Hạ Thái, xã Duyên Thái, huyện Thường Tín, Hà Nội là một trong số 15 di tích của cả nước được Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch xếp hạng di tích quốc gia trong đợt 1/2017. Bộ VHTTDL vừa có quyết định số 824/QĐ- BVHTTDL công nhận Di tích kiến trúc nghệ thuật đình Hạ Thái, xã Duyên Hải, Thường Tín, Hà Nội là di tích quốc gia. Đình Hạ Thái, xã Duyên Thái, huyện Thường Tín mang đậm nét kiến trúc của đồng bằng Bắc bộ với cây đa, bến nước, sân đình. Đây là nơi thờ hai vị thành hoàng làng là quan võ thời Lê Bùi Sĩ Lương và bà Đinh Thị Trạch (hay còn gọi là bà Lạy) người đã hy sinh tính mạng của mình để cho dân làng thoát nạn cống nạp người. Thần phả ghi lại rằng: trước đây vùng đất này hoang vu, cây cối um tùm và dân cư thưa thớt. Lúc đó trong rừng có một con hổ dữ, dân làng gọi là hổ lang thường tìm về bắt người và gia súc ăn thịt. Không thể thu phục được con hổ đã thành tinh này nên hàng năm dân làng đành phải cống nạp cho hổ một người vào ngày 10/11. Trong làng có bà Lạy, một người đàn bà không chồng, không con, thấu hiểu nỗi đau và mất mát của dân làng, bà đã tự nguyện dâng mình cho hổ với mong muốn việc cống nạp này sẽ chấm dứt. Lời khấn cầu nguyện của bà trước trời đất có vẻ linh thiêng và ứng nghiệm, bởi kể từ ngày 10/11 năm đó khi hổ đến vồ bà Lạy và đưa đi mất, người dân không còn thấy hổ quay lại quấy phá nữa. Để tưởng nhớ công ơn của bà, người dân đã xây miếu thờ, sau này bà được tôn làm thành hoàng làng và miếu đó trở thành đình làng Hạ Thái và lấy ngày 10/11 hàng năm là ngày hội làng truyền thống. Đình làng Hạ Thái còn liên quan đến quan võ thời Lê Bùi Sĩ Lương (1544-1597), ông làm đến chức Thái sư kiêm Điện Tiền Chỉ Huy Sứ. Là người thông minh văn võ song toàn, ông có công lớn trong phò Lê, diệt Mạc. Khi đến Hạ Thái, nhận thấy vùng đất nơi này có thế rồng chầu hổ phục, ông đã chọn Hạ Thái để lập gia trang và dạy dân lập nghiệp, vì vậy sau khi mất, ông cũng được tôn là Thành hoàng làng. Lễ hội làng Hạ Thái diễn ra từ ngày 9 đến 11/11 âm lịch hàng năm và thu hút được đông đảo du khách thập phương về tham dự. Nguồn Sở văn hóa và thể thao thành phố Hà Nội.

Hà Nội

7645 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Chùa Đậu

Chùa Đậu

Chùa Đậu (Thường Tín, Hà Nội) được công nhận hai kỷ lục quốc gia: Là nơi có tượng nhục thân đầu tiên ở Việt Nam và sở hữu cuốn sách ghi lịch sử chùa bằng đồng có nhiều trang và cổ xưa nhất Việt Nam. Tọa lạc trên một gò đất cao giữa cánh đồng làng Gia Phúc (xã Nguyễn Trãi, huyện Thường Tín, Hà Nội), Chùa Đậu - Đệ nhất danh lam cổ tự - trong hơn 1.800 năm qua vẫn luôn trầm mặc dưới bóng những hàng cây xanh mát, xung quanh là các hồ nước bao bọc và dòng sông Nhuệ hiền hòa chảy phía sau. Chùa Đậu có tên chữ là Thành Đạo Tự hoặc Pháp Vũ Tự, dân gian thường gọi là chùa Vua, chùa Bà, hay chùa Đậu, mỗi tên gọi đều gắn với một huyền tích. Theo cuốn sách cổ bằng đồng hiện vẫn đang được lưu ở Chùa Đậu, chùa được khởi công xây dựng từ thời Sỹ Nhiếp vào thế kỷ thứ III sau Công nguyên, cùng thời điểm xuất hiện sự tích về Phật mẫu Man Nương và hệ thờ Phật Tứ Pháp (bao gồm Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi, Pháp Điện). Ban đầu, chùa có tên là Thành Đạo Tự, sau khi chùa rước Đại thánh Bồ tát Pháp Vũ (vị nữ thần cai quản mưa) về thờ thì được gọi là Pháp Vũ Tự. Thời phong kiến, ngôi chùa chủ yếu dành cho các vị vua đến lễ Phật, còn người dân chỉ được vào lễ bái khi có lễ hội nên dân gian gọi là Chùa Vua. Chùa thờ Bồ tát Pháp Vũ hiện thân là nữ nên người dân cũng gọi là chùa Bà. Ngôi chùa nổi tiếng linh thiêng, các bậc chí sỹ cầu nghiệp lớn ở đây đều thi đậu khoa bảng, công thành danh toại; người làm nông cầu mùa màng bội thu cũng được như ý nguyện nên dân gian gọi tên khác là Chùa Đậu. Dưới thời vua Lê Thần Tông (thế kỷ XVII), chùa bị xuống cấp, sau đó được trùng tu lại, uy nghiêm và khang trang hơn. Sau đó, Vua ban sắc phong chùa là “An Nam đệ nhất danh lam” tức "Danh lam số một của nước Nam." Phật tử và nhân dân quanh vùng coi là đất Phật bởi sự linh ứng mà chùa mang lại. Chùa Đậu không chỉ có địa thế tuyệt đẹp như đang ngự trên bông hoa sen đang nở, mà còn là một quần thể kiến trúc nguy nga mang những nét nghệ thuật kiến trúc đặc trưng của các vương triều Lý-Trần-Lê-Nguyễn. Đặc biệt, chùa nổi tiếng với nhục thân Bồ tát của hai vị thiền sư tu hành đắc đạo Vũ Khắc Trường và Vũ Khắc Minh. Đây là hai trường hợp cực kỳ hiếm gặp trong chặng đường tu tập Phật giáo của các bậc thiền sư trong nước và trên thế giới. Với bề dày lịch sử, lưu giữ nhiều giá trị văn hóa, kiến trúc, nghệ thuật, Chùa Đậu đã được Nhà nước xếp hạng Di tích lịch sử, nghệ thuật loại A từ năm 1964. Hai pho tượng nhục thân của hai vị thiền sư được Nhà nước công nhận là Bảo vật Quốc gia năm 2016; Chùa Đậu cũng được xác lập kỷ lục là ngôi chùa có tượng nhục thân đầu tiên tại Việt Nam. Nguồn Cổng thông tin điện tử huyện Thường Tín , thành phố Hà Nội.

Hà Nội

7568 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

×
Hỏi AI