Di tích lịch sử

Xem dạng bản đồHà Nội

Danh sách điểm di tích (127)

Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam

Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam

Thành lập ngày 17/7/1956 với tên gọi ban đầu là Bảo tàng Quân đội, có địa điểm bên cạnh Cột cờ Hà Nội, mở cửa đón khách tham quan từ ngày 22/12/1959. Trải qua quá trình xây dựng, phát triển và không ngừng lớn mạnh, Bảo tàng được đổi tên thành Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam vào năm 2002 và chính thức đón khách tham quan tại vị trí Đại lộ Thăng Long, Phường Đại Mỗ, Tây Mỗ, Quận Nam Từ Liêm, Thành phố Hà Nội (nay là Phường Xuân Phương, Thành phố Hà Nội) vào tháng 11/2024 . Bảo tàng có chức năng nghiên cứu, sưu tầm, kiểm kê, bảo quản, trưng bày, tuyên truyền giá trị các di sản văn hóa quân sự Việt Nam. Hệ thống trưng bày giới thiệu hàng nghìn hiện vật, được tổ chức, sắp xếp hiện đại, khoa học, phong phú, ứng dụng công nghệ hiện đại và trang thiết bị tiên tiến, phản ánh toàn diện lịch sử đấu tranh chống giặc ngoại xâm, giành độc lập của dân tộc Việt Nam; sự hình thành và phát triển của lực lượng vũ trang nhân dân, nòng cốt là Quân đội nhân dân Việt Nam trong các thời kỳ cách mạng. Thông qua hệ thống trưng bày cũng như các hoạt động giáo dục, Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam góp phần giúp quý khách tham quan hiểu thêm về kho tàng di sản văn hóa quân sự Việt Nam, cảm nhận sự kết nối mạnh mẽ với quá khứ, hiểu thêm về lịch sử hào hùng của dân tộc Việt Nam, trân trọng những giá trị đang có và hướng tới tương lai tươi sáng tốt đẹp hơn.

Hà Nội

1686 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Thám hoa Giang Văn Minh – Sứ giả kiên cường trên mặt trận đối ngoại

Thám hoa Giang Văn Minh – Sứ giả kiên cường trên mặt trận đối ngoại

Thám hoa Giang Văn Minh – Sứ giả kiên cường trên mặt trận đối ngoại Làng cổ Đường lâm được mệnh danh là vùng đất “Địa linh nhân kiệt ”, nơi sản sinh ra những vị anh hùng dân tộc, danh nhân, khoa bảng, hiền tài. Họ là những người đã có đóng góp xuất sắc cho sự nghiệp dựng nước và giữ nước của dân tộc. Thám hoa Giang Văn Minh - vị sứ thần tài ba là một trong những người con ưu tú ấy của quê hương Đường Lâm. Giang Văn Minh sinh năm 1573 tại Ấp Mông Phụ. Ông thi đỗ Thám hoa khoá Mậu Thìn, đời Vua Lê Thần Tông năm 1628. Khoa thi này không có người đỗ danh hiệu Trạng nguyên hay Bảng nhãn chỉ có danh hiệu Thám hoa. Ông là người học rộng, tài cao, là nhà ngoại giao uyên bác, khảng khái, dũng cảm. Sau một thời gian được Triều đình cử đi trấn thủ ở vùng đất Nghệ An đến năm 1637. Vua Lê cử Thám hoa Giang Văn Minh dẫn đầu đoàn đi sứ Trung Hoa. Trải qua một quãng đường hành trình vất vả, đoàn đi sứ đã đến được Bắc Kinh. Ông và những người tháp tùng phải ở lại dịch xá một thời gian dài. Nhờ vào tài thao lược thông minh nên ông mới được vào yết kiến vua Minh. Khi vào yết kiến, Vua Minh có ý thử tài sứ thần nước Việt nên ra một vế đối: “Đồng trụ chí kim đài dĩ lục” (Dịch nghĩa: Cột đồng đến nay đã phủ kín rêu phong). Vế đối của Vua Minh có ý ngạo mạn, nhắc đến việc Mã Viện xưa sang xâm lược nước ta, sau khi đàn áp cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng đã cho dựng cột đồng khắc 6 chữ “Đồng trụ chiết, Giao Chỉ diệt” (nghĩa là: cột đồng mà gãy thì dân Giao Chỉ diệt vong) như một lời nguyền nhân dân ta. Nghe xong, Thám hoa Giang Văn Minh rất căm giận nhưng ông vẫn bình tĩnh đối lại: “Đằng giang tự cổ huyết do hồng” (Dịch nghĩa: Sông Bạch Đằng từ ngàn xưa máu vẫn còn đỏ). Vế đối đanh thép, tỏ rõ khí phách anh hùng và lòng tự hào dân tộc, nhắc cho Vua Minh nhớ lại ba lần sông Bạch Đằng nhuốm máu quân xâm lược phương Bắc: Chiến thắng quân Nam Hán của Ngô Quyền (năm 938), chiến thắng quân Tống của Lê Đại Hành (năm 981) và chiến thắng quân Nguyên Mông của Trần Hưng Đạo (năm 1288). Tưởng làm nhục được sứ thần nước Việt, ngờ đâu bị Giang Văn Minh làm nhục. Bất chấp luật lệ bang giao, vua Minh đã hèn hạ sai quân lính mổ bụng ông xem “Sứ thần An Nam to gan lớn mật thế nào”. Sau khi giết hại ông, vua Minh lại khen ông là người tiết tháo, bèn sai lấy thủy ngân ướp xác, cho ngậm nhân sâm và cho vào quan tài đóng kín giao cho phái bộ nước Nam chuyển thi hài ông về nước. Được tin Thám hoa Giang Văn Minh chết một cách anh dũng, Vua Lê và Chúa Trịnh vô cùng thương tiếc. Đích thân vua đã về quê ông ở làng Mông Phụ (Đường Lâm) dự lễ an táng và tặng ông mấy chữ: Sứ bất nhục quân mệnh, khả vi thiên cổ anh hùng có nghĩa là “Đi sứ mà chẳng làm nhục mệnh vua, xứng đáng là bậc anh hùng thiên cổ” và truy phong cho ông chức “Công bộ Tả thị lang, tước Vinh quận công”. Hiện nay, ngôi mộ của Thám hoa Giang Văn Minh vẫn được họ tộc chăm chút cẩn thận tại xứ đồng Gò Đống - thôn Mông Phụ, được xây bệ gạch tay ngai, xung quanh có tường hoa bảo vệ. Còn ngôi quán, nơi làm lễ an táng ông, được nhân dân địa phương gọi là quán Giang để ghi nhớ sự tích của vị sứ thần khảng khái đã làm vẻ vang cho đất nước. Năm 1845, nhân dân trong vùng lập nhà thờ Thám hoa Giang Văn Minh để tưởng nhớ công lao của ông. Khu nhà thờ có diện tích khoảng 400 m2, được kiến trúc theo kiểu chữ nhị gồm tiền đường và hậu đường. Các tòa nhà đều xây gạch, lợp ngói cổ; phần mái bằng gỗ bào trơn, đóng bén, không trạm khắc cầu kỳ. Cổng nhà thờ kiểu mặt bia, xây bằng gạch, trên đắp nổi dòng chữ Hán “Giang Thám hoa công từ” (Nhà thờ Công bộ Tả thị lang Thám hoa Giang Văn Minh). Hậu Đường là nơi thờ chính, 3 gian đều có bệ thờ với các đồ thờ được sơn son thếp vàng đẹp đẽ. Trong nhà thờ còn lưu giữ một số di vật quý như: 4 bức hoành phi, 20 đôi câu đối chữ Hán (10 đôi viết trên gỗ sơn son thếp vàng, 10 đôi viết trên cột tường), 3 tấm bia đá. Nhà thờ Thám hoa Giang Văn Minh được xếp hạng Di tích lịch sử văn hóa cấp Quốc gia năm 1991, là nơi linh thiêng ghi công trạng của Thám hoa và cũng là nơi giáo dục truyền thống yêu nước cho thế hệ trẻ. Tại nhà thờ này, ngoài là nơi tôn vinh tri ân công đức của Thám hoa cũng là nơi tôn thờ, vinh danh nhiều vị họ Giang quá cố qua các thời kỳ đã đỗ khoa bảng được bổ nhiệm làm quan lại và giữ các vị trí quan trọng có nhiều công lao lớn cho các triều đại phong kiến. Lần gần đây nhất Nhà thờ đã được tu sửa tổng thể bằng nguồn vốn của Nhà nước, công trình được thi công hoàn thành dưới sự giúp đỡ về kỹ thuật của các chuyên gia và tình nguyện viên thuộc cơ quan hợp tác quốc tế Nhật Bản tại Việt Nam (JICA), công trình tu bổ này cũng vinh dự được nhận giải thưởng về kỹ thuật thi công chất liệu gỗ của Ủy ban UNESCO Châu Á – Thái Bình Dương trao tặng vào năm 2013. Ngày lễ tưởng niệm ngày mất của Sứ thần, ngoài những phần nghi thức trang nghiêm, thành kính về sự hy sinh cao cả của ông, thì dòng họ còn tổ chức buổi lễ khuyến học nhằm tôn vinh và động viên các con cháu họ Giang đỗ đạt và giành các giải cao thuộc các cấp học. Nằm ở vị trí trung tâm làng cổ Mông Phụ gần với đình làng và UBND xã, hiện nay nhà thờ họ Giang đang là điểm tham quan thu hút đông đảo du khách trong và ngoài nước.

Hà Nội

2523 lượt xem

Xếp hạng : Đang cập nhật

Mở

GIẾNG CỔ ĐÁ ONG Ở ĐƯỜNG LÂM

GIẾNG CỔ ĐÁ ONG Ở ĐƯỜNG LÂM

GIẾNG CỔ ĐÁ ONG Ở ĐƯỜNG LÂM Trong hệ thống tổ chức làng xã tại Việt Nam, nhất là ở khu vực đồng bằng Bắc Bộ, giếng cổ đã trở thành một công trình thiết yếu, gắn bó hữu cơ mật thiết với cộng đồng dân cư có đời sống chính là sản xuất nông nghiệp. Cùng với hình bóng của cây đa cổ thụ, khoảng sân đình hút gió thoáng đãng, giếng làng và hình ảnh giá trị của nó đã ăn sâu vào ký ức của mọi người, mọi nhà. Giếng là một người bạn không thể thiếu tại mỗi công trình tâm linh của đình làng. “Bộ ba di sản văn hóa” này luôn được nhân dân đặt ở những vị trí thuận lợi giúp cho việc quy tụ, tập hợp mọi người trong làng một cách dễ dàng. Vùng đồng bằng Bắc Bộ có nhiều ngôi làng gắn liền với đó là những giếng cổ. Nhắc đến những địa danh ấy, người ta không thể không nhắc đến Làng cổ ở Đường Lâm (Sơn Tây, Hà Nội). Ở đó, ngoài những công trình giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể nổi tiếng quý báu trong đó có những giếng cổ đá ong nổi tiếng một thời, luôn tạo ra những ký ức không thể nhạt phai của các thế hệ dân làng, những kỷ niệm vui buồn, niềm kiêu hãnh, tự hào về quê hương, xứ sở địa linh nhân kiệt cổ kính. Giếng đá ong ở Làng cổ Đường Lâm được phân bố ở khắp mọi nơi: nơi tín ngưỡng tâm linh (đình, đền, chùa, miếu, nhà thờ), nơi ở của các hộ gia đình. Tùy từng vị trí mà người ta thăm dò và cho đào giếng. Các mạch nước được phun qua những vỉa đá ong tạo độ trong, sạch, mát, lược bỏ được các tạp chất gây hại. Những viên đá ong được đào lên từ lòng đất, đào đến đâu thì đá cứng đến đó (không vỡ hay bị méo hình tròn của giếng khi những thớ đất đã đào xong). Chính vì thế, đào giếng ở Đường Lâm không phải kè thành, xây tang giếng tròn sẵn rồi thả xuống gắn kết vít mạch (như các vùng chiêm trũng hay trung du Bắc Bộ). Giếng của đình hay chỗ tâm linh thường rộng từ 3 – 5m, sâu 7 – 10m; miệng giếng được đặt những viên đá ong to nguyên khối hoặc từng tảng ghép lại vừa bền, chắc, sạch. Giếng tại gia đình thì có đường kính nhỏ hơn, chỉ từ 1,2 – 1,5m, độ sâu cũng tùy thuộc 5 – 7 – 9m. Giếng ở nơi công cộng như: đầu làng, xóm thì không có gầu múc, ai muốn sử dụng phải mang theo gầu. Giếng tại gia đình lúc chưa có tời kéo thì người ta phải dùng sức người kéo gầu (cũng mất nhiều sức). Sau này, khi có các ròng rọc dây cáp mềm thì nước được múc với năng suất cao hơn, mà người dân lại đỡ tốn sức. Giếng xuất hiện ở nơi công cộng hay di tích thường được đặt tên gắn với địa điểm này như: giếng Đình, giếng Đồng, giếng Chùa. Giếng khơi, có một số tên giếng gắn với các xóm như: ở thôn Mông Phụ có giếng xóm Đình, xóm Sui, xóm Sải, xóm Giang. Riêng giếng ở hai bên ngách đình Mông Phụ được ví như hai mắt rồng thiêng, giếng xóm Giang nổi tiếng là trong mát, pha chè ngon, uống ngọt “Nước giếng xóm Giang, khoai lang đồng Bường”. Giếng nằm ở trước cửa đình, chùa, miếu làm minh đường cho di tích theo thuyết phong thủy của đạo Nho, xung quanh thường được trồng một số cây cổ thụ như: đa, gạo, muỗm. Xung quanh tang giếng hình tròn, phần nhô lên mặt đất, trải qua thời gian, mặt đá ong phủ bóng rêu phong cũng là môi trường tốt để cho loài cây dây leo có tên là cỏ bíu (cây vẩy ốc, vẩy rồng) phát triển, tạo ra hệ thống thân rễ chằng chịt, bám chắc vào mặt tường đá ong. Có những giếng xưa đào hình vuông (tượng trưng cho đất mẹ luôn nuôi nấng, thương yêu đàn con và in bóng những công trình cổ) và giếng hình tròn (giống hình mặt trời) có ý nghĩa ngày ngày luôn soi rọi ánh dương tỏa chiếu hòa khí âm dương. Việc đào giếng được người dân trong làng xem xét, bàn bạc rất kỹ, như phải xem vị trí địa lý, phong thủy nơi đặt thấu đáo để chọn được mạch nước trong mát, ngọt ngào, không đục, không hôi, không mặn; mạch nước phải đảm bảo tuôn chảy quanh năm, suốt tháng. Đầu năm, người ta có phong tục tát giếng để tiếp nhận sinh khí, thịnh vượng mới và cũng vào sáng sớm mồng 1 Tết, nhiều nhà ra giếng làng gánh nước đổ đầy các bể, chum, vại, thùng dự trữ để hy vọng vào một năm gia đình, dòng họ có thật nhiều phúc đức, đại lộc, vì theo phong tục tín ngưỡng của làng thì giếng làng là nơi sâu nhất, nơi hội tụ, chứa đựng sức sống, tài lộc (mạch nước ngầm chảy mãi). Theo tâm sự của nhiều cụ già thì lòng giếng là tấm lòng của con người , của dân làng, cũng như bản chất là: con người bao dung, nhân ái, giếng làng không chất chứa thù hận với những gì đã trải qua. Ở làng cổ còn có một giếng cổ vô cùng nổi tiếng và đã đi vào huyền thoại của biết bao thế hệ dân làng và những vùng lân cận, đó là giếng Sữa hay còn gọi là giếng Chuông Sa ở thôn Cam Lâm, gần khu vực đền – lăng thờ Vua Ngô Quyền. Đó là một giếng nhỏ và nông, đường kính rộng 0,7 – 0,8m, sâu hơn 1m, lòng giếng được kè bằng những viên gạch đá ong. Nước trong giếng Sữa có vị ngọt mát lành hết sức đặc biệt. Nước trong vắt bốn mùa và có thể nhìn thấu đáy. Nói đến giếng Sữa là người ta hồi tưởng đến một câu chuyện truyền thuyết rất ly kỳ về một em bé mới chào đời bị bỏ rơi và một bà lão có tấm lòng nhân hậu, bao dung. Khi gặp em bé này, bà bế đứa trẻ với tiếng khóc như xé lòng, đang nhớ về dòng sữa mẹ. Hai bà cháu đi tìm nhà dân ven đường để xin nước và đi mãi cũng không thấy bóng nhà, bóng người. Tới một thung lũng dưới chân đồi Cấm, hai bà cháu tìm được một mạch nước róc rách chảy từ hang đá, bé đã được bà mớm cho miếng nước trong, bé ngưng khóc và ngủ ngon trên tay bà. Từ ấy, bà dựng lều tại đây nuôi cháu. Khi bà mất, người dân trong vùng lập miếu thờ bà, người ta gọi là Miếu Mẹ bên mạch nước thiêng gọi là giếng Sữa. Khi vào mùa khô, tất cả giếng làng, giếng nhà đều cạn nước thì mạch nước giếng sữa vẫn đầy tràn, dân làng đã đến xin nước ở đây về ăn, uống, sinh hoạt. Ngày nay, giếng Sữa còn được nhiều người mẹ đang thời cho con bú biết đến với phép màu, kỳ lạ đó là mỗi khi người mẹ chảng may bị mất sữa thì nhờ người thân đến đây làm lễ và xin nước mang về uống, ắt nguồn sữa của các bà mẹ lại được hồi phục kỳ lạ. Lối xuống xóm Sải (thôn Mông Phụ) có giếng cổ gần nhà thờ họ Hà, phía trước có một bia đá khắc 4 chữ Hán cổ “Nhất phiến băng tâm”, bia nằm trên lưng một con rùa, và ghi niên đại 1933. Hay giếng Nghè ở thôn Cam Lâm (Nước giếng Nghè, chè Cam Lâm Nước giếng Giang, khoai lang đồng Bường) Đây là hai giếng nổi tiếng là trong, sạch, mát, uống ngon, ngọt Giếng đá ong ở Làng cổ tuy không còn nhiều và được sử dụng thường xuyên nhưng vẫn còn đó các giếng cổ ở những điểm tâm linh tín ngưỡng quý giá và một số khuôn viên các nhà cổ, gia đình truyền thống. Một số giếng còn được nhân dân làm cây hương thờ cúng. Giếng trong các gia đình vẫn được bơm lên sử dụng hàng ngày (tuy không còn nhô lên mặt đất để lộ cái tang giếng tròn bằng đá ong, do muốn tiết kiệm diện tích nên giếng vẫn còn nằm chìm, được che đậy bằng nắp bê tông, lấy nước lên bằng đường ống máy bơm hút chân không). Tuy không có những giếng mới được đào nhưng mỗi lần về thăm di sản văn hóa Làng cổ ở Đường Lâm, nhất là vào dịp mùa hè, thu, sau khi có chuyến tham quan quanh làng, lưu chân tại nhà cổ, không ai có thể bỏ qua phút giây cảm nhận nguồn nước giếng đá ong trong mát từ những chum nước do gia chủ để sẵn phục vụ du khách (rửa mặt mũi, tay chân, thậm chí là uống một ngụm nước giếng đá ong). Chắc chắn du khách sẽ cảm nhận được vị ngọt ngào, mộc mạc, cao quý của mạch nước trong mát, mãi tuôn chảy giống như truyền thống cần cù, hiếu khách, chịu thương, chịu khó của người dân quê hương.

Hà Nội

491 lượt xem

Xếp hạng : Đang cập nhật

Mở

Bảo tồn “giếng sữa” ở Đường Lâm

Bảo tồn “giếng sữa” ở Đường Lâm

Bảo tồn “giếng sữa” ở Đường Lâm Trong không gian văn hóa Làng cổ ở Đường Lâm, giếng làng là bộ phận không thể thiếu của di sản văn hóa vật thể, tạo nên nét đặc sắc rất riêng trong đời sống người dân nơi đây. “Giếng sữa” ở thôn Cam Lâm xã Đường Lâm được nhiều người biết đến bởi đây là chiếc giếng thiêng, đã mang lại điều kì diệu cho những người phụ nữ đang nuôi con nhỏ bị tắc sữa hoặc mất sữa. “Giếng sữa” là cách gọi dân gian, còn người dân nơi đây vẫn gọi là giếng Chuông Sa. Tương truyền, vào thời loạn lạc, khi nơi đây vẫn là vùng núi hoang sơ không bóng người, một em bé mới chào đời bị bỏ rơi khát sữa khóc ngằn ngặt dưới chân đồi. Một bà lão đi ngang qua chứng kiến nhưng không biết làm thế nào để cháu bé nín. Bà chỉ biết bế cháu bé trên tay đi dọc đường với hy vọng tìm được nhà dân để xin nước. Đi mãi cũng không thấy bóng người, tới một thung lũng dưới chân đồi Cấm, bà thấy một mạch nước róc rách chảy từ trong hang đá bèn mớm miếng nước cho cháu bé uống. Đứa bé bỗng nhiên ngừng khóc và thiếp ngủ trên tay bà. Từ đó, bà dựng lều ở tại đây nuôi đứa trẻ. Khi mất, người dân trong vùng lập miếu thờ bà và gọi là “miếu mẹ” bên mạch nước thiêng gọi là “giếng sữa”. Mạch nước sau đó trở nên thiêng liêng và được nhiều người biết đến. Khi vào mùa khô, tất cả giếng làng đều bị cạn trơ đáy thì thấy mạch nước vẫn đầy ăm ắp, trong vắt. Họ cùng nhau ra gánh nước về ăn, càng lấy nước càng trong càng đầy. Giếng Chuông Sa nằm dưới chân núi Cấm. Tương truyền đây là vùng đất của vua Ngô Quyền nên không ai dám làm nhà trên đất của vua, vì vậy nơi này vẫn còn nguyên vẹn sự cổ kính, rậm rạp. Giếng sữa nằm cạnh con đường mòn dưới chân đồi Nghẽn và núi Cấm thuộc thôn Cam Lâm. Để đến được “giếng sữa” phải đi qua đền thờ Phùng Hưng và lăng Ngô Quyền. Cách vài trăm mét từ Lăng Ngô Quyền theo hướng Nam, vào sâu con đường đất đỏ sẽ bắt gặp “giếng sữa”. Trên thực tế, chiếc “giếng thiêng” này cũng không khác gì những chiếc giếng cổ ở những vùng quê khác. Đó là một giếng nhỏ và nông, khẩu giếng khá hẹp với đường kính rộng ước chừng 70 - 80cm, sâu hơn 1m, lòng giếng được kè bằng đá ong. Đặc biệt, nước trong “giếng sữa” có vị ngọt mát lành hết sức đặc biệt. Nước trong vắt suốt bốn mùa và có thể nhìn thấu đáy có một tảng đá ong cổ đã bạc màu. Ngày nay “giếng sữa” thôn Cam Lâm được nhiều người biết đến bởi nước giếng có khả năng chữa được bệnh mất sữa cho sản phụ mới sinh. Người tới xin sữa chỉ cần thành tâm đọc rõ tên tuổi, địa chỉ bố mẹ và cháu bé thiếu sữa kèm theo thẻ hương trái oản và vài đồng tiền lẻ. Ông bố thì để lại 7 đồng, bà mẹ thì để lại 9 đồng tiền lẻ tại miếu và ra giếng tự tay múc nước cho vào chai. Lễ sau khi cúng không ai được mang về. Các bậc cao niên trong làng chia sẻ: mọi người tuân thủ qui ước này với suy nghĩ rằng lộc được thụ hưởng sau khi làm lễ phải được “tán” cho lũ trẻ quanh vùng. Có như vậy, lời nguyện cầu của họ mới được linh ứng. Nước xin ở “giếng sữa” mang về rót một lần ra cốc cho sản phụ uống hết không được đổ bỏ. Số còn lại mang đi nấu cháo hoặc đun lên cho sản phụ dùng. Một hai ngày sau, sữa mẹ sẽ về. Chuyện giếng Chuông Sa giúp sản phụ có sữa khiến nhiều người về thăm Đường Lâm đều tò mò và muốn đến tận nơi chiêm ngưỡng di tích này. Có thể vì điều này mà bất cứ ai đứng trước chiếc giếng cổ ở Cam Lâm đều có cảm giác khác hẳn với những giếng khác ở làng cổ Đường Lâm. Trong khung cảnh âm u, tĩnh mịch, mỗi người đều tự ý thức cần nói năng nhẹ nhàng nơi bờ giếng. Trong quần thể di tích ở vùng đất hai vua, giếng Chuông Sa như là một bảo vật của làng. Những giọt nước mát lành từ chiếc “giếng sữa” này đã đem lại sự bình yên trong tâm hồn của những người mẹ trẻ, giúp họ cân bằng cuộc sống và ở góc độ nào đó, đã đạt được ước nguyện của mình. Với người dân Đường Lâm, giếng làng lại là bộ phận không thể thiếu của di sản văn hóa vật thể của làng cổ, tạo nên nét đặc sắc rất riêng trong đời sống người dân nơi đây. Thiết nghĩ, việc gìn giữ và bảo tồn hình ảnh những chiếc giếng cổ sẽ làm tăng thêm giá trị di sản của ngôi làng Việt cổ Đường Lâm. Điều này đòi hỏi quyết tâm cùng sự chung tay nỗ lực của người dân cùng chính quyền địa phương để giếng cổ - nét độc đáo của văn hóa Đoài sẽ tồn tại mãi với thời gian.

Hà Nội

2466 lượt xem

Xếp hạng : Đang cập nhật

Mở

Nét độc đáo kiến trúc nhà cổ ở Đường Lâm

Nét độc đáo kiến trúc nhà cổ ở Đường Lâm

Nét độc đáo kiến trúc nhà cổ ở Đường Lâm Đến thăm quần thể di tích làng cổ ở Đường Lâm, ngoài việc được chiêm ngưỡng tìm hiểu các loại hình di tích lịch sử văn hóa kiến trúc nghệ thuật quý báu như: đình, đền, chùa, miếu, lăng, quán, điếm, văn chỉ, võ chỉ…, hòa mình trong các lễ hội làng linh thiêng, rộn rã hay thưởng thức các món ăn văn hóa ẩm thực độc đáo thì du khách còn không thể bỏ qua việc đến tham quan các ngôi nhà cổ tiêu biểu đang tồn tại trong ngôi làng cổ tiêu biểu của vùng đồng bằng Bắc Bộ này. Nhà cổ ở Đường Lâm được xây cất bằng các loại truyền thống đặc trưng của vùng xứ Đoài bao gồm đá ong, gỗ, tre, nứa, rơm rạ, bùn non, đất sét mịn, mùn cưa, trấu, gạch nung các loại. Đá ong là loại vật liệu chính để xây các bước tường, đầu hồi, cổng hay tường rào, ngoài dùng để xây nhà ở, loại đá ong này còn được dùng để xây các công trình công cộng, văn hóa tín ngưỡng như: cổng làng, đình, chùa, miếu, điếm, quán, giếng cổ… Với đặc điểm là nhà xây xong bảo đảm khí hậu thông thoáng, ấm áp về mùa đông, mát mẻ về mùa hạ, chính vì thế người ta còn gọi ngôi làng này là “làng Việt cổ đá ong”. Gỗ để làm nhà nếu xưa là nhà có kinh tế, vai vế trong làng thì họ cất bằng loại tứ thiết (đinh, lim, sến , táu). Còn thông thường những nhà có kinh tế vừa phải thì làm bằng gỗ xoan là chính. Xoan được trồng ở gò đồi. Tre, vầu cũng được trồng ở gần rạch, mương, rãnh; thường là loại tre gai già, không gãy ngọn. Gỗ xoan – tre thường được ngân dưới đáy ao hồ thành bè, nơi đáy ao hồ có nhiều bùn nhằm chống lại sự gặm nhấm xâm hại của mọt. Việc ngâm thường diễn ra càng lâu càng tốt, 6 – 8 tháng hay 1 năm, lúc vớt lên bóc vỏ xoan để phơi chúng ra nắng ráo cùng với tre nó bốc mùi rất khó chịu mới được coi là ngâm kỹ bảo đảm. Mái nhà được lợp bằng các loại ngói như mũi ri, mũi hài, vảy cá, thông thường là người ta lợp một lớp ngói lót trước (còn gọi là gạch lót) và lợp từ dưới giọt gianh lợp lên. Loại ngói này xưa thường được mua qua thuyền bè chở ngược sông Hồng từ các địa phận làm gốm nổi tiếng như: Bát Tràng (Hà Nội), Chu Đậu (Hải Dương), Giếng Đáy (Đông Triều – Quảng Ninh), Phù Lãng (Bắc Ninh). Các loại vật liệu như tre được làm đòn tay dui mè, cũng có nhà làm bằng gỗ xoan, hay gỗ pha từ các tấm lớn. Đinh chốt các điểm mấu quan trọng cũng làm bằng cột tre già, phía mặt đằng trước nhà trên cùng giáp cửa là hàng con tiện có thể làm vuông, tròn… Nhà cổ thường quay mặt về hướng Nam, thiết kế theo kiểu 5 gian 2 dĩ, hay 7 gian 2 dĩ, được bố trí nhiều cửa quay vào trong. Cửa được làm chủ yếu 2 loại là bức bàn và cảnh phố. Loại kiểu bức bàn tạo cảnh tiện lợi khi nhà có việc lớn cần không gian thì gia chủ thường nhấc ra cho rộng rãi thêm và đặt cửa xuống làm phản ngồi, ăn cỗ. Nhà được bố trí 5 – 7 hàng chân, 2 cột cái và cái cột quân. Mỗi cột được đứng trên bệ kê đá xanh, phía giáp đất có hình vuông, phía đỡ cột có hình tròn (tượng trưng cho tư duy của người Á Đông – trời tròn đất vuông). Một số nhà cổ nhìn lên trần nhà cái dui, mè, đòn tay và kèo, xà nóc hay ngả màu, bồ hóng đen ấy là do xưa kia các nhà thường đốt lửa bằng bếp củi để sưởi ấm cho mùa đông, nhất là những dịp có người sinh nở, hay cụ già yếu, ốm… Nền nhà thường sử dụng chính là nền đất được nện, đầm cho chắc chắn. Một số nhà dùng sỉ vôi sau đó họ chặt đôi những hạt trám đóng xuống nền theo các ô hình tứ giác, bình hành, ngách cửa để thông cách ô cho thoáng nhà, cũng như dễ quan sát phòng bị khi có kẻ trộm (nhìn thấy chân của chúng) muốn đột nhập vào nhà. Gian giữa là nơi đặt các ban thờ người cao nhất trong 3 đời, 2 gian bên cạnh cũng đặt các ban thờ người quá cố trong dòng họ xếp theo thứ bậc (nếu là vị trưởng họ). Ban thờ có thể có nhiều bát hương và nhân vật hơn dưới bàn thờ các bộ sập hay phản bằng gỗ lim loại to bản, dày, 2 gian trái phải thường được kê các bộ trường kỷ: 1 bàn 2 ghế dài để tiếp khách bằng ấm trà pha chè xanh, thường là tích nước ủ vào hũ kèm 6 cái bát xứ nâu xỉn, bình vôi, ăn trầu, cái điếu bát, ống đựng đóm. Phía dưới bàn là một vài thứ như cơi trầu, chén phụ, ấm pha trà tàu (chè búp khô), bình đựng vôi nhỏ, điếu bát hay một thùng gỗ nhỏ dựng chiếc điếu cày được làm bằng dóng tre giữ lại cái mấu. Hai gian buồng dành cho con gái hoặc con dâu, ngoài ra cũng là kho đựng thóc, nồi niêu, bát đũa, hòm rương nhỏ. Ngoài hiên nhà có đặt 1 hay 2 chõng tre (một vài nhà hiện còn giữ chiếc hòm gian kê ngay dưới bàn thờ chính). Hòm này xưa đựng 1 vài thứ quý, tư trang dụng cụ đắt tiền, nông sản giống (thóc nếp, tẻ, lạc đỗ…) tránh được chuột bọ xâm nhập. Các công trình khác liên quan đến nhà cổ cũng không thể không kể đến là nhà ngang, bếp, giếng nước, sân, vườn, bình phong, chuồng trại nuôi gia súc gia cầm, cổng vào, cây hương. Trong đó, bình phong và cây hương cũng có vai trò tâm linh quan trọng trong gia đình. Bình phong đắp ở bờ tường, đối diện gian thờ - cửa chính, có thể bằng khảm trai hai vỏ trứng, đồ sành sứ nổi men ngọc bóng. Cây hương được xây ở góc sân hay chếch với gian đầu, cuối nhà, giếng nước đá ong xưa cũng có vai trò không nhỏ trong sinh hoạt của gia đình và chăn nuôi gia súc, gia cầm. Giếng được đào khá sâu. Ở những thôn có vị trí cao như Mông Phụ, Cam Lâm, mạch nước được thẩm thấu qua các vỉa đá ong nên đã khử lọc được các tạp chất độc hại, đạt độ trong sạch, không gây hại cho sức khỏe của con người. Việc lấy nước từ giếng lên cũng trải qua nhiều thời kỳ, bằng các dụng cụ khác nhau (vì giếng phải đào sâu). Lúc đầu, người dân dùng gầu và dây thừng múc từng gầu. Sau cải tiến, dùng tời quay bằng dây cáp bôi mỡ công nghiệp (loại dây nhỏ). Lúc này, gầu được thiết kế to và cong suất vì thế cũng tăng lên, không hao tổn sức người nhiều như trước nữa. Rồi khi có điện và khoa học phát triển tiến bộ, mọi nhà dùng máy bơm hút chân không, xây bể lọc nên nước được dự trữ, tách lọc qua cát sỏi hay than hoạt tính, càng bảo đảm hơn. Ngày nay, tuy đã có hệ thống nước máy bao phủ nhưng nhiều gia đình vẫn còn giữ lại giếng đá ong nhưng là giếng chìm (không để nhô tang giếng lên bề mặt để tiết kiệm diện tích và thay thế bằng nắp bê tông kiên cố phủ kín bề mặt). Giếng nước vẫn được sử dụng, là nguyên liệu quý để làm tương, pha trà… Riêng cổng được làm 2 mái, lập ngói vẩy cá, có hai cách quay vào trong, mỗi cách có 1 tay nắm hình trọn được chế tác bằng gỗ mộc. Trong nhà cổ mỗi gia đình còn lưu giữ được nhiều hiện vật quý như: gia phả, tài liệu Hán Nôm, đồ thờ, hiện vật liên quan đến cuộc sống sinh hoạt của mỗi thành viên như: đám cưới xưa, trang phục, tranh ảnh, dụng cụ sản xuất. Đặc biệt trên mái nhà hầu như nhà nào cũng có thước lỗ ban gác trang trọng ở gian giữa, ngoài vườn luôn xanh mát 4 mùa bởi những cây ăn trái lâu năm mùa nào thức ấy như lựu, doi, hồng xiêm, ổi, mít, bưởi, chanh, nhãn, vải, chuối… Nhiều nhà rộng hơn còn có cả ao, góc sân có để một số chum vại sành để ủ tương bần. Những chum tương ấy được ví như cái “tủ lạnh” quý khi xưa sau mỗi ngày gia chủ có sự kiện như tiệc, giỗ, cưới, chay. Họ thường ủ vào đó những khẩu thịt lợn luộc gần chín tới (khi không dùng hết) hay những quả cà bát. Lúc mang ra ăn chất lượng của nó càng ngon và hấp dẫn hơn. Những quả cà bát to ủ trong đó ngấm thấu hết những cái ngon tinh túy của tương bần, gắp ra xé phay nó ngả màu hổ phách, thêm vào tý dấm, đường, tỏi là ăn thay thức ăn được. Các dòng họ trong làng cổ thường hẹn nhau xum họp ngày chạp tổ, thông thường nó diễn ra vào dịp cuối năm, hay Tết đến xuân về, hội đình làng hay Tết Thanh minh. Ở Đường Lâm có những họ nổi tiếng như họ Phan, Hà, Giang, Đỗ, Kiều, Cao. Người trong khu vực làng cổ thường có quan hệ khăng khít với nhau. Họ thường dùng tên con trưởng (con trai đầu) để gọi thay tên cho bố mẹ đẻ, nhà ai có người mất phải có lệ mời anh em họ hàng đến thăm viếng, và viếng xong phải ra mâm ăn cơm chia buồn với gia đình. Bà cụ cao tuổi trong nhà còn được gọi là “gổ”. Mỗi di tích trong làng thường cử ra một người có uy tín trông coi còn gọi là cụ từ. Cụ này phải là người có uy tín trong làng (con cháu nếp tẻ đầy đủ, gia đình gương mẫu, không ai vi phạm pháp luật hay tệ nạn xã hội). Ông chủ tế của đình – đền phải là người có đủ tiêu chuẩn trên, nếu đang làm nhiệm vụ mà cụ từ có anh em trong 3 đời mất (người ta gọi là có cớ, có bụi) phải dừng và trả lại nhiệm vụ cho làng ngay. Bữa tiệc của đình, làng, xóm hay họ, gia đình thường phải có đủ các món như xôi, thịt gà trống, chè kho, bánh gai… Riêng ở làng Đông Sàng có tiếng là nơi nấu cỗ ngon, bày trang trí mâm cỗ đẹp. Những sản vật trong làng thì có vừng trồng ở Lồ Cang, khoai lang Đồng Bường, kẹo lạc dồi ở Đông Sàng, gà Mía, bánh rán nước, xôi đồ chim ngói mùa tháng 9 âm lịch, cá kho tương, tương bần làng Mông Phụ… Nhà cổ thường chia quyền sở hữu cho các cho các con trai trong nhà tùy theo nhà có từ 2, 3 hay 4…Có những nhà chỉ có duy nhất một anh con trai, còn lại toàn các chị em gái thì vai trò của anh này càng lớn. Các cháu nội ngoại dù đông bao nhiêu nhưng vai trò của cháu nội, là nam luôn được chú ý đề cao và nhấn mạnh. Nên một trong những người này muốn lấy lại phải thương thảo với những người kia (do bố mất để lại di chúc) nên một số nhà cổ hiện nay mặc dù chỉ có một gia đình ở nhưng lại là quyền sở hữu của vài người anh em ruột. Mỗi ngôi nhà lại có những nét kiến trúc cổ, lối bố trí không gian trong và ngoài khác nhau như: nhà ông Nguyễn Văn Hùng khác nhà ông Hà Hữu Thể, nhà bà Lan khác với nhà ông Hà Nguyên Huyến, nhà ông Hà Vĩnh, nhà ông Nguyễn Văn Vững, dáng dấp cả phương Đông lẫn Tây Âu (Pháp), kiến trúc nội tự ngoại khách…Trong vườn nhà khi chưa phải chia cho các con là lúc lập gia đình, sinh con thì đó cũng là môi trường tốt để cho gia đình trồng các loại cây hoa, ăn quả như: xoài, nhãn, ổi, mít, chuối, na, thị, vải, lựu, bưởi, khế, quất….Các loại hoa như: mộc, giấy, đỗ quyên, quỳnh, nhài, ngâu, sói,…các loại gia vị như: hành, tỏi, ớt, hẹ, gừng, giềng,….tạo màu sắc xanh tươi, mùi thơm bốn mùa trong không gian nhà cổ như: dịp đông xuân là mùi thơm thoang thoảng, dịu ngọt của hoa mộc, đầu thu là mùi quả thị, hương lá nếp, mùa hè là sắc đỏ của những chùm vải, chùm quất đen bóng dưới cái nắng đặc trưng của vùng xứ Đoài ấp cổ. Trong số lượng nhà cổ 97 cái còn tồn tại ở di tích làng cổ thì có 2 thôn là có số lượng nhà cổ nhiều nhất là Mông Phụ và Đông Sàng. Một số hộ gia đình đang sở hữu nhà cổ đã biết tận dụng lợi thế để khai thác đón khách tham quan, tạo ra các sản phẩm dịch vụ phục vụ nhu cầu của khách trong và ngoài nước đã mang lại kết quả khá cao. Họ giữ nguyên hiện trạng không gian cổ kính, hình thành các khu dịch vụ ra bên cạnh nhưng cách lắp ghép, xây dựng cũng phù hợp với cảnh quan chung, tự sưu tầm bổ sung những hiện vật có niên đại liên quan đến phong tục, tín ngưỡng tập quán để trưng bày trong không gian nhà cổ. Điều đó càng làm tăng thêm sự hấp dẫn và thu hút khách mỗi khi đến thăm. Tuy nhiên trong số đó vẫn còn nhiều nhà cổ đã trải qua niên đại lâu đời chịu sự tác động của khí hậu, côn trùng, nên các cấu kiện bằng gỗ, các hạng mục khác đều bị mai một xuống cấp rất cần sự bảo tồn phục dựng hỗ trợ của các cấp lãnh đạo chính quyền cũng như sự chủ động của nhân dân – qua đó góp phần vào công tác bảo tồn và phát huy các giá trị của di tích làng cổ ở Đường Lâm một cách bền vững hiệu quả.

Hà Nội

514 lượt xem

Xếp hạng : Đang cập nhật

Mở

ĐÌNH ĐOÀI GIÁP

ĐÌNH ĐOÀI GIÁP

ĐÌNH ĐOÀI GIÁP – DI SẢN VĂN HÓA QUÝ TRONG LÀNG CỔ Ở ĐƯỜNG LÂM Theo dân gian truyền thống cũng như một số nguồn sử liệu thì đình Đoài Giáp được cất dựng từ thời vua Ngô Quyền thế kỷ thứ X, khi đó di tích chỉ là một ngôi miếu nhỏ do nhân dân trong làng dựng lên để tưởng nhớ công đức của Bố Cái Đại Vương Phùng Hưng và suy tôn ông là vị Thành Hoàng làng của cả làng. Ngoài tên gọi là đình Đoài Giáp, đình còn có tên gọi khác là “Đoài Giáp từ” – chữ Hán Nôm (đền Đoài Giáp). Đình được tọa lạc trên một thế đất đẹp, thoáng đãng giữa trung tâm làng, phía trước mặt đình là một hồ nước rộng hình tứ giác, quay mặt ra hướng Tây Nam, người xưa rất khéo khi chọn không gian cảnh quan, phong thủy hợp với tâm linh tín ngưỡng và ý nguyện của dân làng phía sau đình là khu vườn rộng để nhân dân trồng cây ăn trái, 2 bên đầu trái phải của đình là 2 giếng nước được dân làng đào và xây các thành giếng bằng đá ong (loại vật liệu đặc trưng của vùng xứ Đoài), nước ở giếng được dân làng sử dụng sinh hoạt hàng ngày và quanh năm không bao giờ cạn, dân làng xưa vẫn quen gọi đây là “giếng mắt rồng”, đầu rồng hướng về hướng đông “xóm Hớm”, đuôi rồng hướng về hướng Bắc (đường liên thôn), phía xung quanh là một số ngôi nhà cổ có niên đại hàng mấy thế kỷ với mái ngói rêu phong cổ kính trầm mặc. Dù trải qua thời gian dài chịu sự tác động không nhỏ của những yếu tố như: chiến tranh, khí hậu, sự xâm hại của côn trùng mối mọt nhưng trong các hạng mục kiến trúc kết cấu của Đình vẫn giữ lại được những nét chạm trổ, điêu khắc cổ mang đậm dấu ấn của những ngôi đình làng cổ Việt Nam. Đình gồm những hạng mục công trình như “Tiền tế”, “Hậu cung” bố trí song song theo hình chữ “nhị” ngăn cách nhau bằng một sân rộng có chiều dài 7,2m, được lát bằng gạch Bát Tràng, 2 hạng mục trên có độ cao gần bằng nhau, song hậu cung có kích thước rộng hơn nhà tiền tế, hậu cung gồm 3 gian, bộ vì có kết cấu “chuồng rường giá chiêng”. Tường đốc giá ngoài xây kiểu bổ trục giật tam cấp, các hệ thống cột quân, cột cái, cửa khám, cửa ra vào hậu cung đều được làm bằng gỗ (loại tứ thiết) vững chắc, bờ nóc là cột trục biểu vuông đầu đắp đèn lồng và “đôi Nghê” chầu cách điệu, linh vật “Nghê” có đôi mắt tròn, lồi, mũi sư tử, khoằm miệng mở rộng nhìn xuống, lông chân sau là những vằn xoắn lớn. Theo quan niệm của người Việt xưa, Nghê biểu hiện cho sức mạnh của thiên nhiên, phần bờ dải, bờ guột đắp nổi hình “dơi vũ cách” và đề tài “Phúc – Lộc – Thọ” mang nhiều ý nghĩa tâm linh sâu sắc, mái đình dốc ngắn được lợp ngói mũi hài nay như trên mình lớp rêu phong cổ kính, tàu mái hơi vuốt cong được cài then con sỏ vào xà hạ với chiều dài 9,6 m, lòng nhà 8 m, cao 5,2 m và nền nhà hậu cung cao hơn sân trong sân ngoài gần 1m. Ngoài đôi trục tay ngai còn có 4 trụ vuông tạo sự vững vàng, trên các mặt trụ vuông có những câu đối bằng chữ Hán, sơn son thiếp vàng tăng vẻ cổ kính và giá trị của di tích, hệ thống thờ tự trong đình được bài trí rất quy mô, cân xứng, đảm bảo tôn nghiêm trang trọng. Gian bên trái Đình là ban thờ : “Bản thần thổ đất” (Thần Đất), nơi đây được bài trí một số đồ thờ quý được chế tác bằng các chất liệu như: đồng, gỗ, gốm, vải, giấy, nổi bật là bộ lư hương đồng được đúc tỉ mỉ công phu hình “đôi sư tử quả địa cầu” thể hiện ước mơ, tài năng sáng tạo của các nghệ nhân xưa, niên đại của cổ vật này có cách đây 2 thế kỷ, gian bên phải là ban thờ “Bộ hạ thần vị”, 2 bên ban trang trí hình “Rùa đội hạc”, mỏ hạc ngậm hoa sen gợi lên vẻ đẹp thanh tao nơi cửa thánh hiền, các đồ thờ khác ở đây cũng rất đa dạng, độc đáo, đáng lưu ý là bát hương được làm bằng gốm sành đất ở giữa ban thờ, giữa trán bát hương đắp nổi hình linh vật “lưỡng long chầu nguyệt” (2 linh vật rồng chầu mặt nguyệt) ở giữa bát hương có hình chữ “thọ” biểu hiện sự trường tồn vĩnh cửu với thời gian, bát nhang này có niên đại vào giữa thế kỷ XVIII. Nổi bật nhất giữa hậu cung là khám thờ Bố Cái Đại Vương Phùng Hưng. Khám thuộc loại lớn được chạm trổ công phu với nhiều linh vật quý, thiêng, trong khám có đặt bài vị, trên đỉnh khám treo một dòng chữ Hán cổ sơn son thiếp vàng là “Thánh cung vạn tuế” khẳng định người sống mãi trong tâm khảm của mỗi người dân trong làng. Bộ khám này được chế tác vào khoảng đầu thế kỷ XVIII, các đồ thờ trong khám cũng rất phong phú, bằng các chất liệu khác nhau có niên đại cuối đời nhà Lê đầu nhà Nguyễn. Nhà tiền tế đã được sửa chữa lại vài lần, lần bị hư hỏng nặng nhất là trong cuộc kháng chiến chống Pháp. Trong Đình hiện còn lưu giữ 1 quả chuông đồng đề 4 chữ Hán “Đoài Giáp từ chung” (chuông đình Đoài Giáp) đúc năm Tự Đức thứ 13 – 1861. Ngoài ra trong đình hiện còn lưu giữ được 6 đạo sắc phong quý có niên đại từ đời vua Minh Mệnh đến Khải Định (Đây là di tích rất tiêu biểu của vùng còn lưu giữ được các sắc phong), một số bia đá được tạc đời Hồng Đức thứ 4 (1474) ghi lại tiểu sử và công trạng của vua Phùng Hưng, long ngai bài vị, giá văn (thế kỷ XVIII), kiệu bát cống… đó là những nguồn sử liệu vô giá để cho các thế hệ sau này nghiên cứu và minh chứng về công lao của người với dân với nước. Điều hiếm thấy ở các di tích không có được là nóc nhà hậu cung là nơi trú ngụ của hàng trăm con dơi (cũng là loại động vật quý). Dơi gắn liền với ngũ phúc là “phú – quý – thọ - khang – ninh”. Với những giá trị văn hóa lịch sử tiêu biểu, đình Đoài Giáp đã được Nhà nước xếp hạng vào năm 2001, lễ hội của Đình diễn ra trong 2 ngày 7 và 8/1 âm lịch. Nhà văn hóa của thôn gần với Đình nên rất thuận tiện cho việc tổ chức các nội dung như lễ hội, hội họp tọa đàm cộng đồng, tuyên truyền, thu hút nhan dân và du khách đến tham dự (do Đình nằm ở vị trí trục đường thuận lợi; dịp lễ hội của Đình luôn thu hút đông đảo nhân dân ở trong và ngoài địa phương tham dự, là ngày hội, là niềm tự hào vinh dự của mỗi người con trong làng. Hiện tại Ban lãnh đạo địa phương cũng cắt cử các cụ cao niên trong làng ra trông coi, dọn dẹp, quản lý di tích, thường xuyên phục vụ nhu cầu hành lễ của bà con trong làng và du khách. Hiện tại, di tích đã được Nhà nước đầu tư kinh phí để tôn tạo, tu bổ lại các hạng mục cũng như: khuôn viên, không gian, cảnh quan bên ngoài, đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu của nhân dân và du khách.

Hà Nội

2398 lượt xem

Xếp hạng : Đang cập nhật

Mở

ĐÌNH CAM THỊNH

ĐÌNH CAM THỊNH

ĐÌNH CAM THỊNH Đình tọa lạc theo hướng Đông Nam thuộc khu vực thôn Cam Thịnh (một trong năm thôn hợp thành di tích Làng cổ ở Đường lâm, thị xã Sơn Tây, Hà Nội). Đình thờ Đức Thành hoàng Bản thổ Kỳ Đại vương và Đức gia hậu Thượng tướng quân Cao Phúc Diễn cùng phu nhân là bà Giang Thị Thắng – người chị gái của sứ thần tài ba Giang Văn Minh. Đình được dựng vào thời vua Lê Thần Tông (1649 – 1662) với phần công đức lớn của vợ chồng tướng quân Phù Việt Hầu (là người làng Cam Thịnh đã có công giúp nước về nội trị và ngoại giao dưới thời vua Lê Trung Hưng). Đến nay, ngôi đình đã được tu bổ 3 lần, lần cuối vào năm Bính Thìn (1916). Ngoài ra còn có một số lần tu sửa nhỏ do nhân dân trong làng tự nguyện làm. Đình Cam Thịnh mang nhiều nét đặc trưng của kiến trúc nghệ thuật thời Nguyễn. Kết cấu kiến trúc của đình gồm 3 phần: Nghi môn, Tả mạc, Đại đình. Ngoài cùng là một Nghi môn trụ có niên đại vào thế kỷ XX. Đây là những trục thông linh, hai trụ giữa lớn hơn ở trên đỉnh là “tứ phượng” và hai trụ nhỏ hơn ở trên đỉnh là đôi lân trong thế ngồi nhìn xuống. Bước qua nghi môn là là một sân rộng, ở phía bên trái là dãy nhà tả mạc 4 gian kiểu “tường hồi bít đốc”. Đại đình Cam Thịnh được làm theo kết cấu chữ Đinh, với tòa Đại bái gồm 3 gian 2 dĩ, mặt bằng 4 hướng chân cột gỗ, 4 bộ. Nối liền với gian giữa Đại bái là một chuôi vồ 3 gian bằng hệ thống kẻ suốt chạy từ nóc xuống mái, bộ vì ngoài cùng của Hậu cung được bưng kín và làm hệ thống cửa ngăn cách Đại bái với cung cấm, bộ vì bên trong được làm theo kiểu “chồng rường” với kỹ thuật bào trươn đóng bén. Cung cấm được bưng kín mặt trên một sàn gác lửng cao 1.8 m, phía trước cung cấm là bộ cửa khảm gỗ có diềm gỗ chạm lộng. Bên ngoài cửa cung cấm là một sàn lửng bài trí đồ tế tự. Đình được xây dựng ở nửa sau thế kỷ XVII nên dấu tích xưa nhất trong điêu khắc đình còn đọng lại ở một số rường nách của các bộ vì đỡ hai mái hồi và 3 đầu dư kìm hình rồng ở 2 nách bộ vì chính. Những đầu rồng này tuy đã bị rụng, hỏng, mất nhiều chi tiết đao mác, chân…nhưng còn nhận rõ những dáng vẻ và điệu bộ như: mũi hếch, trán rô, mắt lồi, tai dơi… Đây alf dạng đặc trưng của điêu khắc cuối thế kỷ XVII đầu thế kỷ XVIII. Các xà nách của đình chủ yếu được bào trơn soi chỉ, duy có một số đầu xà, rường được điểm hình hoa lá cách điệu, ở các thân bẩy, các cành, hoa, lá trang trí được cách điệu thành các hình tượng lá hóa rồng, lân một cách tinh tế. Những mảng chạm này măng đặc trưng của điêu khắc thế kỷ XIX. Trong đình hiện còn lưu giữ một số di vật quý như 5 đạo sắc phong có niên đại sớm nhất mang niên hiệu Cảnh Hưng thứ 28 (1767), 1 tấm bia đá dựng năm Vĩnh Thịnh thứ 8 (1712), cao 132 cm, rộng 80 cm, dày 4 cm có 2 mặt khắc chữ, một bộ kiệu luyện tạo tác ở thế kỷ XVIII. Các đòn cái được cách điệu thành hình rồng, đòn cái dài 4m, đòn ngang dài 2.1 m và mui luyện uốn cong, một bộ long ngai bài vị thờ Đức bản thổ kỳ Đại vương. Đây là tác phẩm điêu khắc cuối thế kỷ XVIII. Lễ hội của đình làng được dân làng và chính quyền tổ chức vào ngày 11, 12 tháng giêng âm lịch. Mọi người con của thôn quê và ở các nơi tụ hội về đình để tưởng nhớ đến công đức của vị Thành hoàng làng, Đức Thánh gia hậu cùng thầy dạy của ông. Trong các ngày này còn diễn ra các trò chơi truyền thống, sinh hoạt văn hóa dân gian như: tế lễ thành hoàng, múa sen, múa sinh tiền, rước kiệu thánh, rước kiệu lễ vật, bịt mắt bắt dê, đấu vật, chơi đu, chọi gà…Đình Cam Thịnh đã được Nhà nước xếp hạng là Di tích lịch sử văn hóa vào năm 2000, nằm trong vùng đất cổ có nhiều di sản văn hóa quý và truyền thống của làng văn hóa tiêu biểu cấp tỉnh. Di tích đình Cam Thịnh cùng một số nhà cổ ở thôn đã trở thành điểm tham quan thu hút đông đảo du khách trong và ngoài nước. Tuy nhiên, trải qua thời gian dài do tác động của người dân và khách tham quan, hiện tại các hạng mục của đình đã được Nhà nước tu bổ, tôn tạo, đáp ứng nhu cầu tham quan tìm hiểu của du khách và Nhân dân.

Hà Nội

2370 lượt xem

Xếp hạng : Đang cập nhật

Mở

Chùa Ón (Ôn Hòa Tự)

Chùa Ón (Ôn Hòa Tự)

Chùa Ón (Ôn Hòa Tự) Ngôi chùa độc đáo của Di tích Làng cổ ở Đường Lâm Chùa Ón nằm ở khu vực giữa cánh đồng, cách cổng làng Mông Phụ vài trăm mét. Nhìn vào tổng thể của di tích này chỉ giống một ngôi nhà nhỏ với mái ngói mũi ri rêu phong cổ kính, tường được xây bằng gạch chỉ mỏng, nung thủ công. Các vật liệu khác cũng được cất dựng bằng các loại vật liệu truyền thống của vùng bán sơn địa. Tên chữ Nôm của chùa được mọi người quen gọi là Ôn Hòa Tự. Cũng không có nguồn tài liệu nào khẳng định mốc thời gian cụ thể mà dân làng gọi tên chùa Ón, và cũng có nhiều câu hỏi đặt ra là Tại sao gọi là chùa mà không có một vị tượng Phật hay hiện vật quý nào được yên vị để thờ phụng. Vào ngày rằm, mùng 1 đầu tháng cũng hiếm khi thấy có người mang lễ vật ra cúng bái, hành hương (chỉ trừ ngày 3/3 và 1/4 âm lịch hàng năm). Dù đã trải qua một vài lần tu bổ, trong đó lần được thực hiện gần đây nhất là vào năm 2010, với sự giám sát của các chuyên gia thuộc cơ quan hợp tác quốc tế Nhật Bản tại Việt Nam (JICA). Trong quá trình tu bổ, các nhà khoa học Nhật Bản và cán bộ theo dõi thi công, giám sát của cơ quan đã thực hiện thành công gia cố bức tường bị nghiêng của chùa đang ở mức nguy hiểm trở về hiện trạng an toàn. Các hạng mục của chùa Ón được tu bổ tổng thể. Giai đoạn vài năm trở lại đây, dân làng cũng gia cố thêm một số hạng mục phụ cận khác như: đường vào, trồng cây xanh ở xung quanh, mở rộng sân trước của Chùa. Mỗi khi đến thăm nơi này, du khách thường được dân làng kể lại một giai thoại liên quan đến Chùa rằng: Ôn Hòa là tên một vị tướng người Tàu (Trung Hoa cổ đại), khi mãn hạn làm quan ở Việt Nam, ông dành chút thời gian để đi vi hành đến đất Đường Lâm thì thấy cảnh đẹp. Ông bèn xin dân làng cho ở lại khai khẩn, trồng cấy nuôi thân. Sau nhiều năm chịu thương chịu khó tích lũy có bát ăn bát để, ông bèn dựng một ngôi nhà để trấn yểm long mạch cho làng. Vì xuất thân là một võ tướng, có tài võ nghệ nên vào những ngày rảnh rỗi, ông thường mời gọi thanh niên trai tráng trong làng ra để dạy truyền võ nghệ. Ngoài mục đích rèn luyện sức khỏe, còn là để đề phòng giặc giã, cướp bóc đến xâm hại làng xóm. Trước khi lâm chung, ông đã cho đúc quả chuông đồng khắc 4 chữ “Hồng chung ôn hòa”. Tương truyền, dân làng Mông Phụ vẫn lưu giữ đến ngày nay. Ngoài ra, trên 2 câu đầu của chùa, hiện vẫn còn lưu giữ những dòng chữ Hán Nom, tạm đọc là “Khởi tạo Bính Dần niên, Quý xuân, Nhâm Tý nhật, Mão khắc động thổ, Bính cơ, Ất Mão nhật, Dậu thời, thu trụ thương lượng cát. Tạm dịch là: chùa được khởi công năm Bính Thân, cuối mùa xuân, ngày Nhâm Tý, giờ Dậu bắc nóc và phú quý thọ khang (giàu sang, sống lâu, khỏe mạnh).Lễ hội ngày 3/3 tại Chùa Ón. Hội chùa diễn ra vào ngày 3/3 âm lịch hàng năm, cũng trùng với ngày tết Hàn thực của người dân nói chung ở các làng quê đồng bằng Bắc Bộ. Ngoài lễ vật được dân làng sửa soạn cũng lễ, bao gồm: xôi, gà thiến, oản quả, hương hoa thì nhất định trai làng phải khiêng quả chuông nặng 145kg từ trong đình Mông Phụ ra đây để đánh 3 hồi 9 tiếng (nhưng tổng cộng phải là 99 tiếng). Người nào được dân làng tín nhiệm sử đánh chuông phải dốc sức tâm niệm mà hoàn thành, nếu không là có lỗi với thánh thần. Sau khi cúng lễ xong, Ban tổ chức tiến hành các thủ tục để khai hội vật chàu Ón. Gọi là “hội” nhưng quãng thời gian tồn tại sôi nổi của nó chỉ kéo dài vài ba tiếng đồng hồ, từ 15h đến lúc xẩm tối là kết thúc. Thông thường, có nhiều người tham gia đấu vật, chủ yếu là trai làng và các vùng lân cận. Theo các cụ kể lại thì những năm đất nước còn chiến tranh thì xới vật vắng bóng trai tráng, chỉ có tầng lớp người cao tuổi và đám trẻ nhỏ. Thời hòa bình, hội vật được tổ chức sôi nổi và có những keo vật hồi hộp hơn, mang lại cảm xúc cho nhiều người xem, thể hiện ý chỉ, sức khỏe. Giải thưởng vì thế cũng được tăng dần. Nguồn phí trao thưởng và tổ chức cũng được nhiều tổ chức, cá nhân trong và ngoài làng tình nguyện ủng hộ thông qua những pha ghì kìm đối thủ, mẹo lừa miếng, kết liễu đối thủ… Vào ngày 1/4 âm lịch, ở nhiều nơi khác, dân làng cũng tổ chức lễ vào hạ tại các di tích, tại làng Mông Phụ, song song với việc tổ chức cúng lễ trong đình Mông Phụ, có món lễ vật là cháo cũng được mang ra đây để dâng quan Thần Ôn. Cháo được múc ra những cái gọi là bù đài lá đa, cầm dọc từ chùa Ón ra đến đường cái chính. Xưa kia, mỗi dịp vào hè, khu vực làng quê thường phải gánh chịu những nạn dịch, sâu bệnh, gây nên thất thu hoa màu, thời tiết nóng bức dễ sinh bệnh, ảnh hưởng đến sức khỏe con người. Thế nên, cũng lễ ở ngày này cũng thể hiện ý nghĩa là cầu mát (một mùa hè ít nóng nực) và cầu an (một mùa hạ an lành). Mỗi lần du khách hành hương về thăm di sản văn hóa Làng cổ ở Đường Lâm, nếu một lần ghé thăm ngôi chùa cổ độc đáo này còn được các cụ cao niên trong làng kể cho nghe một vài giai thoại hấp dẫn khác. Tuy di tích đơn sơ, nhỏ bé nhưng là tài sản văn hóa quý của dân làng, đã được bao thế hệ người dân gây dựng, gìn giữ, trải qua những giai đoạn lịch sử, di sản nay vẫn tồn tại giữa cánh đồng với màu sắc trầm mặc rêu phong cổ kính, di sản ấy đã chứng kiến biết bao đổi thay của cuộc sống, con người làng quê truyền thống, văn hiến.

Hà Nội

2455 lượt xem

Xếp hạng : Đang cập nhật

Mở

Đình Hạ Thái

Đình Hạ Thái

Di tích kiến trúc nghệ thuật đình Hạ Thái, xã Duyên Thái, huyện Thường Tín, Hà Nội là một trong số 15 di tích của cả nước được Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch xếp hạng di tích quốc gia trong đợt 1/2017. Bộ VHTTDL vừa có quyết định số 824/QĐ- BVHTTDL công nhận Di tích kiến trúc nghệ thuật đình Hạ Thái, xã Duyên Hải, Thường Tín, Hà Nội là di tích quốc gia. Đình Hạ Thái, xã Duyên Thái, huyện Thường Tín mang đậm nét kiến trúc của đồng bằng Bắc bộ với cây đa, bến nước, sân đình. Đây là nơi thờ hai vị thành hoàng làng là quan võ thời Lê Bùi Sĩ Lương và bà Đinh Thị Trạch (hay còn gọi là bà Lạy) người đã hy sinh tính mạng của mình để cho dân làng thoát nạn cống nạp người. Thần phả ghi lại rằng: trước đây vùng đất này hoang vu, cây cối um tùm và dân cư thưa thớt. Lúc đó trong rừng có một con hổ dữ, dân làng gọi là hổ lang thường tìm về bắt người và gia súc ăn thịt. Không thể thu phục được con hổ đã thành tinh này nên hàng năm dân làng đành phải cống nạp cho hổ một người vào ngày 10/11. Trong làng có bà Lạy, một người đàn bà không chồng, không con, thấu hiểu nỗi đau và mất mát của dân làng, bà đã tự nguyện dâng mình cho hổ với mong muốn việc cống nạp này sẽ chấm dứt. Lời khấn cầu nguyện của bà trước trời đất có vẻ linh thiêng và ứng nghiệm, bởi kể từ ngày 10/11 năm đó khi hổ đến vồ bà Lạy và đưa đi mất, người dân không còn thấy hổ quay lại quấy phá nữa. Để tưởng nhớ công ơn của bà, người dân đã xây miếu thờ, sau này bà được tôn làm thành hoàng làng và miếu đó trở thành đình làng Hạ Thái và lấy ngày 10/11 hàng năm là ngày hội làng truyền thống. Đình làng Hạ Thái còn liên quan đến quan võ thời Lê Bùi Sĩ Lương (1544-1597), ông làm đến chức Thái sư kiêm Điện Tiền Chỉ Huy Sứ. Là người thông minh văn võ song toàn, ông có công lớn trong phò Lê, diệt Mạc. Khi đến Hạ Thái, nhận thấy vùng đất nơi này có thế rồng chầu hổ phục, ông đã chọn Hạ Thái để lập gia trang và dạy dân lập nghiệp, vì vậy sau khi mất, ông cũng được tôn là Thành hoàng làng. Lễ hội làng Hạ Thái diễn ra từ ngày 9 đến 11/11 âm lịch hàng năm và thu hút được đông đảo du khách thập phương về tham dự. Nguồn Sở văn hóa và thể thao thành phố Hà Nội.

Hà Nội

7640 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

ĐÌNH HẠ, ĐÌNH THƯỢNG

ĐÌNH HẠ, ĐÌNH THƯỢNG

Đình Hạ, đình Thượng thuộc xã Tự Nhiên, huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội. Theo truyền thuyết, thần phả và các đạo sắc phong còn lưu lại thì hai đình thờ Chử Đồng Tử (một trong tứ bất tử của người Việt) cùng hai phu nhân là công chúa Tiên Dung và nàng Hồng Vân. Sau khi công chúa Tiên Dung lấy Chử Đồng Tử làm chồng, hai người đã học được phép tiên trị bệnh cứu người và cùng dân làng cải tạo, mở mang đất đai, trồng trọt, chăn nuôi lập nên xóm làng trù phú. Vua Hùng nghe tin, cả giận sai quân lính bắt về triều đình để trị tội. Biết tin đó, Chử Đồng Tử và Tiên Dung hóa phép bay về trời, mang theo nàng Hồng Vân của đất Tự Nhiên. Nhân dân biết ơn lập đền thờ. Đình Thượng và đình Hạ là hai công trình kiến trúc nằm song song, có niên đại tương đồng nhau, được khởi dựng vào thời Hậu Lê; tôn tạo, tu sửa làm Hậu cung vào cuối triều Nguyễn. Có điểm khác nhau là Đại bái đình Thượng không có tích “Rồng mẫu tử” mà có tích “Độc long”. Đình Thượng có 69 đạo sắc phong nhiều hơn đình Hạ 03 sắc phong. Lễ hội của làng Tự Nhiên diễn ra vào ngày mồng 1 tháng 4 (âm lịch). Vào ngày này, dân làng tổ chức lễ rước Long Ngư bao gồm 07 cỗ kiệu của ba đình: Đình Thượng, đình Hạ, đình Thủy tộc để tái hiện lại thiên tình sử mấy ngàn năm về trước của Chử Đồng Tử và Tiên Dung. Hai ngôi đình đều được xếp hạng di tích cấp Quốc gia: Đình Hạ xếp hạng năm 1988, đình Thượng xếp hạng năm 2002. Nguồn Cổng thông tin điện tử huyện Thường Tín , thành phố Hà Nội.

Hà Nội

6347 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Di tích Đình, Đền, Chùa Đào Xá.

Di tích Đình, Đền, Chùa Đào Xá.

Đến với làng Đào Xá, xã Thắng Lợi, huyện Thường Tín, du khách sẽ được chiêm bái những nét cổ kính, độc đáo của cụm di tích đình, chùa với những nét tinh xảo, độc đáo trong kiến trúc, được hòa mình vào không gian xanh, sạch, đẹp của làng quê yên bình với con người tài hoa, thân thiện, hiếu khách… Xã Thắng Lợi, huyện Thường Tín, nổi tiếng bởi có làng thêu Đào Xá với những sản phẩm có chất lượng nghệ thuật tinh xảo. Nơi đây còn là điểm đến của nhiều du khách xa gần bởi một tổng thể kiến trúc liên hoàn đặc sắc là đình Đông, đình Tây, chùa Đào Xá. Cả 3 di tích này đều được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xếp hạng Di tích lịch sử – văn hóa cấp quốc gia vào năm 2000. Đào Xá sở hữu nét đặc biệt mà ít có địa phương nào có được đó là trong một làng lại có tới 2 ngôi đình liền kề nhau. Hai ngôi đình được phân biệt theo cách gọi mộc mạc, dân dã: Đình Đông và đình Tây. Đình Tây Đào Xá vốn là đền thờ Chử Đồng Tử (một trong Tứ bất tử của người Việt) và Tiên Dung công chúa. Tương truyền, Chử Đồng Tử và Tiên Dung trong một lần đi ngang qua làng Đào Xá thấy phong cảnh hữu tình bèn dừng lại nghỉ chân. Để tưởng nhớ Đức thánh và Công chúa, người dân đã lập đền thờ. Đền được xây dựng thời Chính Hòa nguyên niên (1680-1705), đời vua Lê Hy Tông, có kiến trúc theo kiểu chữ “nhị”. Sau này, đền trở thành đình làng. Trước đại bái đình Tây có đôi sấu đá – linh vật phổ biến thời Lý – Trần, còn nguyên vẹn. Đại bái có 5 bậc lên, mái lợp ngói vảy cá, trên đắp nổi hình lưỡng long tranh châu, hai bên hồi có mái. Khoảng cách nối giữa đại bái và thượng điện khoảng 1m, hai bên cổng đắp hình tờ thánh chiếu đang mở ra. Hai bên vách đại bái có hai tấm bia đá chìm ghi lại sự kiện trùng tu đình. Đại bái có 2 bức đại tự chữ Hán “Nhạc độc chung linh” và “Thượng đẳng linh từ” ca ngợi công đức của đức thánh Chử Đồng Tử. Hệ thống cột gỗ được đặt trên các bệ đá, các đầu bảy được điêu khắc hình rồng tinh xảo cùng các linh vật được điêu khắc rời đặt trên hệ thống xà. Đình Đông Đào Xá trước là đền Lá Cọ, được xây dựng vào đầu thế kỷ XX theo kiểu kiến trúc liên hoàn hình chữ “tam”. Ba nếp nhà cao dần từ ngoài vào trong, nhà tiền tế có 4 hàng cột gỗ đặt trên trụ đá kiểu thắt cổ bồng, bên trái là một con chó đá nằm quay đầu ra ngoài. Ngôi đền thờ ông tổ nghề thêu Lê Công Hành (1606-1661), quê gốc ở làng Quất Động (nay là xã Quất Động, huyện Thường Tín). Nhờ giá trị tâm linh to lớn, đền được chuyển thành đình và được gọi là đình Đông để phân biệt với đình Tây thờ Chử Đồng Tử – Tiên Dung. Đình Đông có quy mô nhỏ hơn đình Tây. Đình Đông Đào Xá là nơi tổ chức lễ giỗ tổ nghề thêu Lê Công Hành vào ngày 12 tháng Sáu (âm lịch) hằng năm. Nằm giữa hai ngôi đình là chùa Đào Xá (Vân La tự), có quy mô nhỏ, với 36 pho tượng được bài trí theo từng lớp từ bái đường đến thượng điện. Trước sân chùa có cây hương chạm chữ Hán: “Vĩnh Khánh nguyên niên tuế tại Ất Dậu ngũ nguyệt cốc nhật” (dựng năm 1729, thời vua Lê Duy Phường). Đào Xá là một trong số ít làng còn giữ được kiến trúc tâm linh liên hoàn đình – đền – chùa và hệ thống sân, cổng, ao cùng cây cổ thụ. Tam quan là cổng chung cho cả quần thể được điêu khắc chi tiết. Trải qua thời gian, tam quan mang vẻ đẹp cổ kính, uy nghiêm. Mỗi cổng đều có 2 tầng, gác chuông, lầu khánh. Cổng chính đề 4 chữ Hán “Nhật chiếu nguyệt lâm”, hướng về phía tây nam, cao 15m, trước mặt là sân rộng tạo vẻ uy nghi, bề thế khi nhìn từ phía xa. Lễ hội làng Đào Xá tổ chức vào ngày 12 tháng Hai (âm lịch), cứ 5 năm lại tổ chức lễ tắm Thánh Chử Đồng Tử và Tiên Dung công chúa bằng nước lấy ở đầm Dạ Trạch (tỉnh Hưng Yên). Với những giá trị lịch sử to lớn, năm 2000, di tích đình Đông, đình Tây và chùa Đào Xá được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xếp hạng Di tích lịch sử – văn hóa cấp quốc gia. Năm 2009, làng Đào Xá được UBND thành phố Hà Nội công nhận là Làng nghề truyền thống. Đào Xá được nhiều du khách xa gần chọn làm điểm đến trong hành trình du lịch văn hóa tâm linh. Đến với Đào Xá, du khách sẽ được chiêm bái những nét cổ kính, độc đáo của cụm di tích đình chùa với những nét tinh xảo, độc đáo trong kiến trúc, được hòa mình vào không gian xanh, sạch, đẹp của làng quê còn giữ được những nét đặc trưng của nông thôn đồng bằng Bắc bộ. Không những thế, nếu có thời gian, du khách sẽ có thêm những trải nghiệm tuyệt vời tại làng nghề thêu Đào Xá để hiểu thêm về vùng đất, con người nơi này. Nguồn Sở văn hóa và thể thao thành phố Hà Nội.

Hà Nội

6509 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Đình Hà Hồi

Đình Hà Hồi

Hà Hồi là xã ở phía đông bắc huyện Thường Tín. Trước cách mạng tháng Tám năm 1945, xã Hà Hồi thuộc tổng Hà Hồi, phủ Thường Tín, tỉnh Hà Đông. Nhắc đến xã Hà Hồi phải nói đến ngôi đình cổ nằm trong trung tâm xã - đình Hà Hồi, là một trong 6 ngôi đình cổ của vùng đồng bằng Bắc bộ còn tồn tại đến ngày nay. Đình được xây dựng cách đây khoảng hơn 400 năm vào thời nhà Lê, thế kỷ XVI. Theo các nhà khảo cổ học, thì ngôi đình được xây dựng vào năm 1578, đời Mạc Mậu Hợp, thờ Đức thánh Cao Sơn là Thành hoàng của làng. Do có nhiều công lao với dân với nước, ngài Cao Sơn Đại vương đã được các triều đại phong tặng 24 sắc phong còn lưu giữ đến ngày nay, sắc phong cao nhất là Thượng đẳng tối linh thần. Theo dòng lịch sử, ngôi đình đã trải qua nhiều triều đại, sự thăng trầm của thời gian và chiến tranh, đình được tu bổ nhiều lần, song vẫn giữ nguyên được những giá trị nghệ thuật, kiến trúc tinh hoa của các nghệ nhân xưa. Đình Hà Hồi được xây dựng bố cục theo hình chữ Tam, hướng Nam chếch Đông, trước mặt là một thủy đình khá lớn. Tòa đại đình gồm 3 hạng mục lớn, nằm song song liền kề, gồm: Đại bái, Trung cung và Hậu cung. Mái đình được thiết kế theo kiểu hình thuyền lợp ngói mũi, các vì kèo được thiết kế theo hệ thống chồng giường, tạo nên sự vững chắc bề thế cho ngôi đình, phần nền được lát đá nguyên khối, tạo không gian thoáng mát. Đình còn lưu giữ bảo tồn được các mảng kiến trúc chạm trổ, điêu khắc nghệ thuật, thể hiện ở các bức cốn như: Tứ linh (Long, lân, quy, phượng), chuột ngó đầu gậm lá sen, các đầu dư, đầu bẩy chạm khắc rồng hết sức mềm mại và tinh vi. Bức hoành phi ở Trung cung phiên âm hán việt là: “Hộ quốc tí dân” (dịch nghĩa: Phù giúp đất nước, che chở muôn dân). Bên cạnh là đôi câu đối. Phiên âm Hán việt như sau: “Nãi văn nãi vũ, thần công hà hải hộ khang dân, Tối tú tối linh, thánh đức thường lưu phù quốc thái.” Dịch nghĩa: “Là văn là võ, công lao của thần như biển hồ ngầm giúp dân chúng yên ổn, Xuất chúng uy linh, đức của thánh lưu truyền phù trì vận nước thái bình”. Ngoài gian Đại bái có bức hoành phi chính giữa đề 04 chữ là “Sơn anh hà tú” (Tạm dịch nghĩa là: Núi sông anh linh tối tú). Ngoài ra đình còn lưu giữ được nhiều câu đối, hoành phi, cửa võng…và các hạng mục kiến trúc theo phong cách truyền thống bắc bộ, đặc biệt là hai pho tượng phỗng đá Xiêm Thành ngay trước cửa Hậu cung. Phía ngoài sân, trước thềm đại bái, hai đầu hồi có hai tượng chó đá, chính giữa có hai bệ đá chạm khắc rồng tinh tế, tỉ mỉ bằng đá Lam Sơn (Thanh Hóa). Hai dãy nhà hai bên (tả mạc – hữu mạc) hơi lùi xuống so với tòa Đình chính. Nhìn tổng thể từ ngoài vào cổng đình Hà Hồi có tới 5 cửa hay còn gọi là (ngũ môn), khác với những ngôi đình khác, cổng được xây dựng thiết kế theo hình vòng cung, ôm lấy ngôi đình, ba cửa chính giữa có dáng dấp của một tam quan, cửa chính cao tới 15m, tầng dưới được xây thành những khối vuông, cửa dạng cuốn vòm, mái kiểu chồng diêm lợp ngói ri. Hai bên cửa phụ được xây dựng nhỏ hơn, theo kiểu một tầng, nối với tường chạy bao quanh diện tích vào đến nhà Tả mạc - hữu mạc. Qua khỏi Ngũ môn nối với khoảng sân hẹp bắc qua thủy đình là chiếc cầu gạch có 5 nhịp, thành cầu được trang trí những viên gạch có màu men xanh ngọc. Có thể nói, Đình Hà Hồi là công trình kiến trúc nghệ thuật, toàn bộ không gian là tổng hòa của tri thức, ở đó mang hồn cốt kiến trúc dân tộc, ẩn chứa trong mình cả một hệ thống văn hóa – lịch sử. Với những giá trị nghệ thuật và giá trị lịch sử, Đình Hà Hồi như một báu vật lịch sử mà tiền nhân để lại cho hậu thế. Ngày 23/12/1985, Đình Hà Hồi đã được Bộ Văn hóa thông tin công nhận là Di tích lịch sử văn hóa cấp Quốc gia. Nguồn Cổng thông tin điện tử huyện Thường Tín , thành phố Hà Nội.

Hà Nội

6647 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Đình Tổng La Phù

Đình Tổng La Phù

Đình Tổng La Phù là ngôi đình của tứ dân La Uyên, Phúc Trại, Thọ Ngãi, Mai Hồng (xã Tân Minh) và Mai Sao (xã Nguyễn Trãi), tổng La Phù, huyện Thượng Phúc xưa (nay thuộc xã Tân Minh, huyện Thường Tín, Hà Nội), xây dựng nên cách đây gần năm thế kỷ. Đình vẫn được gọi theo tên tổng là đình La Phù. Đình tọa lạc trên một mảnh đất vìa làng thôn La Uyên, phía trước đình là dòng sông Nhuệ Giang, con đường giao thương thủy quan trọng của đất nước, nối kinh đô Thăng Long về miền Sơn Nam Thượng trước kia. Đây cũng là một trong số ít ỏi những ngôi đình tổng cổ xưa nhất không chỉ của Hà Nội, mà của cả vùng đồng bằng Bắc Bộ. Theo như cuốn ngọc phả và những tư liệu dã sử trong dân gian cho biết, đình Là thơ 3 vị thần là đức thánh cả Minh Lang đại vương, đức An Lang đại vương và đức Xạ Thần đại vương. Tam vị đại vương là những vị anh hùng, có công với dân với nước, hiển linh được nhân dân tôn vinh. Đức thánh cả Minh Lang đại vương chính là tướng quân Nguyễn Phúc, một cựu thần thời hậu Lê. Ông vốn là người xã Đoàn Tùng, huyện Trường Tân của xứ Đông (nay thuộc Hải Dương), đỗ tiến sĩ Hoàng giáp khoa Quý Dậu, năm Thái Hòa 11 (1453) triều Lê Nhân Tông. Cuộc đời làm quan, ông từng giữ chức Hàn lâm đại học sĩ, kiêm chức chức Thái phó, thầy dạy Lê Thánh Tông lúc nhỏ tuổi. Khi vua Lê Thánh Tông đi đánh giặc Chiêm Thành, sai Nguyễn Phúc chỉ huy việc vận chuyển quân lương. Trên đường biển vận chuyển gặp gió bão, quân lương vào chậm một ngày nên bị tử phạt theo quân luật. Do có quân lương nên nhà vua mới đánh thắng quân Chiêm Thành. Khi trở về luận công ban thưởng, vua Lê Thánh Tông minh oan cho Nguyễn Phúc và phong cho ông là Minh lang Đại vương, hộ quốc cứu dân, bảo quốc công thần, đồng thời, sắc chỉ cho 72 nơi thờ phụng. Nguyên xưa đình chỉ có một ngôi nhà Đại bái, công trình kiến trúc nghệ thuật xây dựng từ thời Mạc, cấu trúc mặt bằng hình chữ nhật dài 24m30m, rộng 9m30, hiên rộng 1m30, bốn mái đình rộng, xòe thấp. Các tàu mái bốn phía chạy uốn hình mạn thuyền, giao nhau tạo các góc đao uốn cong lượn lên trời. Tàu đao gỗ chạm cánh hoa. Bờ nóc, bờ dải mái đình đắp bờ đinh. Các lá mái đình lớp ngói mũi hài. Vào thời Nguyễn đời vua Bảo Đại 11 (1936) xây thêm hậu cung 3 gian là một ngôi nhà ở phía sau nằm song song với Đại bái. Đến năm 1948, giặc Pháp đốt phá hậu cung, khi hòa bình thống nhất đất nước nhân dân đóng góp xây dựng lại. Đặc biệt, về nghệ thuật điêu khắc thời Lê – Mạc trên kiến trúc hai bộ vì gian giữa phía sau giáp hậu cung, một bộ rường cốn có mảng điêu khắc nghệ thuật đúc chạm lộng một con rồng tạo nên khối hình ô van, con rồng hình yên ngựa, đấu đầu vào giữa thân lộ ra đôi mắt lồi, mũi tròn, miệng loe, tai dơi, từ đầu rồng phát ra hai phía những tia mác mảnh. Đây là tác phẩm nghệ thuật điêu khắc trên gỗ của thời Mạc khá sinh động. Trên bộ vì hạ rường cốn thứ hai phía sau giáp hậu cung được chạm rồng thời Mạc ở trên đấu, trên thân đầu rường và mảng cốn. Con rồng ở đây nguyên hình thể khối hình yên ngựa tai lớn, mắt lồi, đuôi bút lông. Mặt rồng ở giữa đặt trên lưng yên ngựa, miệng rộng, mũi dẹt và trán nhô cao. Những gì còn sót lại ở đình La Phù, tuy không nhiều nhưng cũng đã góp phần cung cấp tư liệu cho việc nghiên cứu mỹ thuật. Thời Mạc đình là một trong 5 ngôi đình mang dấu ấn của đình cổ xưa nhất. Phía tiếp sau là hậu cung, ngôi nhà 3 gian nằm phía sau và chạy song song với Đại bái được xây tường hồi bít đốc, hai mái chảy, lợp ngói ri bờ nóc chữ đinh, kìm đấu hình chữ nhật, kiến trúc gỗ của những bộ vì làm theo hình thức quá giang kèo cầu và có hệ thống trần vòm của mái cua. Hiện, đình Là còn lưu giữ được nhiều hiện vật quý hiếm như thần phả, 38 đạo sắc phong, đạo sớm nhất đời vua Lê Vĩnh Thịnh (1705); một kiệu bát cống chạm đầu rồng, miệng ngậm ngọc, mũi to tròn, bờm tóc lưới mác bay về phía sau phong cách nghệ thuật thời Lê; 5 tấm ván thưng chạm rồng yên ngựa thời Mạc; 2 rùa đá nghệ thuật điêu khắc thời Lê; 3 bộ hoành phi câu đối; 3 cỗ ngai chạm khác đầu rồng thời Nguyễn… Mỗi năm đình Là mở hai lần hội, xuân thu nhị kỳ. Trong đó hội chính là vào ngày 12 tháng 8 âm lịch. Hội lệ hàng năm vẫn diễn ra bình thường, nhưng hội chính thì 2 năm mới tổ chức một lần và 3 ngày 11, 12, 13 tháng 8 âm lịch. Với những giá trị về lịch sử, văn hóa, kiến trúc và nghệ thuật, đình Là đã được Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch công nhận là Di tích cấp Quốc gia năm 2003. Nguồn Cổng thông tin điện tử huyện Thường Tín , thành phố Hà Nội.

Hà Nội

6346 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Đền thờ Nguyễn Trãi .

Đền thờ Nguyễn Trãi .

Nhà thờ Nguyễn Trãi thuộc xã Nhị Khê, huyện Thường Tín, Hà Nội. Nguyễn Trãi (1380 - 1442), người anh hùng dân tộc, nhà văn hoá kiệt xuất, là danh nhân văn hoá thế giới, đã được Tổ chức-giáo dục Khoa học và Văn hoá của Liên hợp quốc (UNESCO) công nhận năm 1980. Nhà thờ Nguyễn Trãi được xây dựng ở thôn Nhị Khê, xã Nhị Khê, huyện Thường Tín. Ở Côn Sơn (Hải Dương) và các nơi khác cũng có đền thờ danh nhân - anh hùng dân tộc Nguyễn Trãi. Cổng làng Nhị Khê đắp nổi bốn chữ Hán lớn: “Như kiến đại tân” (như thấy người khách lớn). Đó là tấm lòng của cổ nhân quý khách đến làng. Cổng này còn có tên gọi là “Cổng Quốc” - tương truyền gọi như vậy là để tưởng nhớ vị khai quốc công thần Nguyễn Trãi. Qua Cổng Quốc một đoạn đường ngắn là tới khu vực nhà thờ Nguyễn Trãi có tượng đài Nguyễn Trãi, nhà thờ, nhà trưng bày “Thân thế sự nghiệp Nguyễn Trãi”, thư viện Nhị Khê. Từ đó đến nay nhà thờ đã đón tiếp hàng triệu lượt khách đến tham quan chiêm ngưỡng và mọi người cùng có cảm tình với một tác phẩm có nội dung tốt, đã khắc họa chân dung Nguyễn Trãi - con người văn võ toàn tài. Qua khu tượng đài là đến nhà thờ. Phía trước nhà thờ có hồ bán nguyệt. Nhà thờ có hệ thống cột trụ, tường bao, cổng pháo... được đắp vẽ công phu theo kiểu đình làng. Qua một sân gạch nhỏ là tới Đại bái, nhà thờ Nguyễn Trãi được xây dựng bằng gỗ tứ thiết, đầu hồi bít đốc, trên lợp ngói ri cổ. Nhà thờ mang dáng dấp kiến trúc thời Nguyễn - kết quả của những tu bổ ở thế kỷ XIX. Nghệ thuật kiến trúc thiên về bền chắc, bào trơn, đóng bén. Nét nổi bật ở tòa Đại bái là các bức đại tự, hoành phi và câu đối đều được sơn son thếp vàng hoặc thếp bạc phủ hoàn kim thể hiện lòng tôn kính, biết ơn đối với bậc công thần, đại thi hào Nguyễn Trãi. Đó là các hoành phi: Khai quốc nguyên huân, Bình Ngô khai quốc, Bình dị cận dân.. Trên ban thờ Nguyễn Trãi ở Hậu cung có bức tranh chân dung Nguyễn Trãi, hòm sắc phong của các triều Lê và Nguyễn. Đặc biệt có một biển để trang trọng lời vua Lê Thánh Tông, năm Quang Thuận thứ 5 (1464) “Ức Trai tâm thượng quang khuê tảo” (tấm lòng Nguyễn Trãi sáng đẹp như sao khuê). Đó là lời minh oan của nhà vua đối với Nguyễn Trãi. Đến thăm nhà thờ Nguyễn Trãi, khách sẽ được giới thiệu “Trại Ổi”, “Ao Huệ” nói về thân phụ của Nguyễn Trãi là Nguyễn Phi Khanh đã mở trường dạy học. Sự nghiệp vĩ đại của Nguyễn Trãi in đậm lên mảnh đất Nhị Khê. Nhà thờ Nguyễn Trãi đã được tu sửa nhiều lần. Nhân Đại lễ 1000 năm Thăng Long - Hà Nội, thành phố Hà Nội và huyện Thường Tín đã đầu tư kinh phí để trùng tu, tôn tạo lại toàn bộ khu tưởng niệm Nguyễn Trãi. Nhà thờ Nguyễn Trãi đã được Bộ Văn hoá và Thông tin xếp hạng di tích lịch sử lưu niệm danh nhân năm 1964. Nguồn Cổng thông tin điện tử huyện Thường Tín , thành phố Hà Nội .

Hà Nội

8413 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Chùa Đậu

Chùa Đậu

Chùa Đậu (Thường Tín, Hà Nội) được công nhận hai kỷ lục quốc gia: Là nơi có tượng nhục thân đầu tiên ở Việt Nam và sở hữu cuốn sách ghi lịch sử chùa bằng đồng có nhiều trang và cổ xưa nhất Việt Nam. Tọa lạc trên một gò đất cao giữa cánh đồng làng Gia Phúc (xã Nguyễn Trãi, huyện Thường Tín, Hà Nội), Chùa Đậu - Đệ nhất danh lam cổ tự - trong hơn 1.800 năm qua vẫn luôn trầm mặc dưới bóng những hàng cây xanh mát, xung quanh là các hồ nước bao bọc và dòng sông Nhuệ hiền hòa chảy phía sau. Chùa Đậu có tên chữ là Thành Đạo Tự hoặc Pháp Vũ Tự, dân gian thường gọi là chùa Vua, chùa Bà, hay chùa Đậu, mỗi tên gọi đều gắn với một huyền tích. Theo cuốn sách cổ bằng đồng hiện vẫn đang được lưu ở Chùa Đậu, chùa được khởi công xây dựng từ thời Sỹ Nhiếp vào thế kỷ thứ III sau Công nguyên, cùng thời điểm xuất hiện sự tích về Phật mẫu Man Nương và hệ thờ Phật Tứ Pháp (bao gồm Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi, Pháp Điện). Ban đầu, chùa có tên là Thành Đạo Tự, sau khi chùa rước Đại thánh Bồ tát Pháp Vũ (vị nữ thần cai quản mưa) về thờ thì được gọi là Pháp Vũ Tự. Thời phong kiến, ngôi chùa chủ yếu dành cho các vị vua đến lễ Phật, còn người dân chỉ được vào lễ bái khi có lễ hội nên dân gian gọi là Chùa Vua. Chùa thờ Bồ tát Pháp Vũ hiện thân là nữ nên người dân cũng gọi là chùa Bà. Ngôi chùa nổi tiếng linh thiêng, các bậc chí sỹ cầu nghiệp lớn ở đây đều thi đậu khoa bảng, công thành danh toại; người làm nông cầu mùa màng bội thu cũng được như ý nguyện nên dân gian gọi tên khác là Chùa Đậu. Dưới thời vua Lê Thần Tông (thế kỷ XVII), chùa bị xuống cấp, sau đó được trùng tu lại, uy nghiêm và khang trang hơn. Sau đó, Vua ban sắc phong chùa là “An Nam đệ nhất danh lam” tức "Danh lam số một của nước Nam." Phật tử và nhân dân quanh vùng coi là đất Phật bởi sự linh ứng mà chùa mang lại. Chùa Đậu không chỉ có địa thế tuyệt đẹp như đang ngự trên bông hoa sen đang nở, mà còn là một quần thể kiến trúc nguy nga mang những nét nghệ thuật kiến trúc đặc trưng của các vương triều Lý-Trần-Lê-Nguyễn. Đặc biệt, chùa nổi tiếng với nhục thân Bồ tát của hai vị thiền sư tu hành đắc đạo Vũ Khắc Trường và Vũ Khắc Minh. Đây là hai trường hợp cực kỳ hiếm gặp trong chặng đường tu tập Phật giáo của các bậc thiền sư trong nước và trên thế giới. Với bề dày lịch sử, lưu giữ nhiều giá trị văn hóa, kiến trúc, nghệ thuật, Chùa Đậu đã được Nhà nước xếp hạng Di tích lịch sử, nghệ thuật loại A từ năm 1964. Hai pho tượng nhục thân của hai vị thiền sư được Nhà nước công nhận là Bảo vật Quốc gia năm 2016; Chùa Đậu cũng được xác lập kỷ lục là ngôi chùa có tượng nhục thân đầu tiên tại Việt Nam. Nguồn Cổng thông tin điện tử huyện Thường Tín , thành phố Hà Nội.

Hà Nội

7564 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Đền Bà Kiệu

Đền Bà Kiệu

Đền Bà Kiệu tọa lạc tại số 59 Đinh Tiên Hoàng, phường Lý Thái Tổ, Hoàn Kiếm, Hà Nội. Theo sử sách, đền Bà Kiệu có tên chữ là “Thiên Tiên điện” hay “Huyền Chân Từ”, trước đây thuộc thôn Tả Vọng, huyện Thọ Xương, tỉnh Hà Nội. Giữa thế kỷ XIX, đền thuộc thôn Hà Thanh, phường Đông Các, huyện Thọ Xương. Đầu thế kỷ XX, đền thuộc phố Bờ Hồ (Rue du Lac), tọa lạc theo hướng Nam, đối diện đền Ngọc Sơn. Đền thờ ba vị nữ thần là Liễu Hạnh Công chúa, Đệ nhị Ngọc Nữ và Đệ tam Ngọc Nữ (Quỳnh Hoa và Quế Hoa). Theo Thăng Long cổ tích khảo thì đền xây vào thời nhà Lê triều Vĩnh Tộ (1619-1628), đến triều Cảnh Hưng thì mở rộng thêm. Vào thời Tây Sơn triều Cảnh Thịnh đền đúc quả chuông lớn. Triều vua Tự Đức ngôi đền được tu sửa lần nữa. Đền Bà Kiệu xưa kia khá khang trang trong một khuôn viên đẹp và rộng rãi. Năm 1891, do thực dân Pháp xây đường vòng quanh Hồ Gươm nên khu đền bị tách làm hai phần: Tam quan nằm sát ven hồ Gươm gồm ba gian xây gạch kiểu “tường hồi bít đốc”, mái lợp ngói ta với các bộ vì kiểu chồng rường đỡ mái, thân các con rường chạm nổi hoa văn thực vật, vân mây; Kiến trúc chính gồm đại bái, phương đình và hậu cung được xấp theo dạng chữ “công”. Nhà đại bái gồm ba gian xây gạch kiểu tường hồi bít đốc, mái lợp ngói ta, mái nhỏ đều như gợn sóng . Bộ mái gần gũi với phong cách kiến trúc của cố đô Huế. Bờ nóc có dạng bờ đình, bên trên gắn hình cá hoá rồng bằng gốm hoặc men xanh đang nhìn vào bình nước thiêng ở giữa. Bộ khung được làm khá vững chắc với 8 cột trụ bằng gỗ lim, chu vi cột cái 115cm, cột quân 105cm. Các cột hiên nhỏ hơn được làm bằng đá trắng, hình hộp chữ nhật mỗi cạnh rộng 25cm. Nhà Tiền tế có 4 tượng cá chép hóa rồng đặt trên xà và dưới điểm của hai mái sau, trước. Các tường dẹt, được thể hiện khá sinh động, chau chuốt và đem lại hiệu quả đáng kể cho kiến trúc đền. Liền sau tiền tế là một kiến trúc nhỏ dựng trên bốn chân cột lớn kiểu phương đình, hai tầng bốn mái. Bốn mái chạm mảng hoa văn truyền thống phổ biến theo kiểu kiến trúc thời Nguyễn. Hậu cung là nơi tọa lạc của các vị thần được thờ với một nếp nhà ngang xây gạch kiểu “tường hồi bít đốc”. Các nữ thần được tọa lạc trong một khám thờ lớn, chạm khắc cầu kỳ. Lớp trên gồm ba pho trong tòa Thánh Mẫu. Lớp dưới có các tượng Công chúa Liễu Hạnh và hai tiên nữ Quỳnh Hoa, Quế Hoa. Ngoài khám thờ còn có bốn tượng nhỏ (hai tượng cô, hai tượng cậu). Hai bên có hai khám thờ nhỏ, bên phải đặt tượng chầu thủ đền, bên trái là Bà Chúa Thượng Ngàn. Hai bên là nơi thờ những vị thần phổ biến trong tín ngưỡng thờ Mẫu. Đền Bà Kiệu hiện còn giữ được bộ sưu tập di vật văn hoá lịch sử gồm nhiều chủng loại và chất liệu khác nhau trải dài qua ba triều đại Lê, Tây Sơn, Nguyễn. Trong đó phải kể đến bốn tấm bia đá dựng năm Cảnh Thịnh 8 (1800), Tự Đức 19 (1866) cùng hệ thống 27 đạo sắc từ triều Lê, Tây Sơn đến Nguyễn phong thần cho Bà Chúa Liễu và hai vị tiên nữ. Di tích đền Bà Kiệu đã được Bộ văn hóa – Thông tin (nay là Bộ Văn hóa – Thể thao và Du lịch) xếp hạng Di tích lịch sử văn hoá, kiến trúc nghệ thuật cấp Quốc gia ngày 2/5/1994. Nguồn Cổng thông tin điện tử quận Hoàn Kiếm , thành phố Hà Nội.

Hà Nội

6671 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Đình Vũ Thạch

Đình Vũ Thạch

Đình, đền Vũ Thạch có địa chỉ ở số 13 phố Bà Triệu, phường Tràng Tiền, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội. Đình, đền và chùa Vũ Thạch đã may mắn thoát khỏi sự phá huỷ vào cuối thế kỉ 19, đầu thế kỉ 20 khi thực dân cho dỡ bỏ làng cũ để xây nhiều công sở và phố Tây. Thời Pháp thuộc, cụm di tích đã được trùng tu, sửa chữa nhiều lần qua các năm: Tự Đức thứ 35 (1882), Thành Thái thứ 3 (1891) và Khải Định thứ 9 (1924). Đình Vũ Thạch là một trong những nơi thờ Khỏa Ba Sơn, vị tướng của Hai Bà Trưng. Theo các tư liệu còn lại, ông được Hai Bà cho lĩnh 500 quân tới ấp Hoa Động (nay thuộc xã Cự Khối, huyện Gia Lâm, Hà Nội) lập một đồn giả để lừa quân Hán, nhờ đó mà đánh bại được thái thú Tô Định. Sau khi lên ngôi, Hai Bà Trưng cử Khỏa Ba Sơn trở về đóng đồn tại ấp Hoa Động, song ông đã hoá ngay giữa buổi tiệc khao thưởng dân làng. Nơi thờ chính của ông hiện ở làng Xuân Đỗ, xã Cự Khối. Tại đây có cuốn Thánh tích ngọc phả ghi rất rõ về gốc tích và công trạng của ông, trong sách ghi niên đại “tháng trọng thu niên hiệu Vĩnh Hựu thứ 6” (tức năm 1740). Để tưởng nhớ công ơn vị thần này, dân làng Vũ Thạch mở hội đình vào ngày 10 tháng 2 và 15 tháng 10 Âm lịch hàng năm. Trong những ngày này bao giờ cũng có một đoàn của làng Xuân Đỗ (Hạ) đến cùng tham gia. Lễ hội có rất nhiều trò chơi dân gian truyền thống như hát ca trù, hát văn, biểu diễn võ dân tộc. Ngôi đình Vũ Thạch từng là nơi đặt hòm phiếu bầu Quốc hội khoá 1 (6-1-1946) và là nơi đóng quân Tự vệ thành Hà Nội trong 60 ngày kháng chiến cuối năm 1946 đầu năm 1947. Năm 1995, phường Tràng Tiền đã tiến hành dựng Bia tưởng niệm 77 anh hùng liệt sỹ là công dân của phường. Trải qua mấy trăm năm, đình Vũ Thạch đã được trùng tu nhiều lần. Khoảng sân trước đại đình có lẽ đã bị thu nhỏ diện tích khi người Pháp bắt đầu mở rộng phố xá. Phía sau và hai bên đình cũng bị dân lấn chiếm một phần đất. Dáng vẻ hiện nay cho thấy ngôi đình mang phong cách nghệ thuật kiến trúc của thời Nguyễn. Đình quay về hướng tây, cổng tam quan và bức tường dài xây giáp liền với hè phố Bà Triệu phủ bóng cây xanh. Nhà đại bái rộng 5 gian, kết cấu với thượng điện thành hình chuôi vồ, bên trong bài trí trang nghiêm theo lối truyền thống. Trong đình Vũ Thạch hiện có pho tượng thánh Khỏa Ba Sơn cùng 30 ngai thờ sơn son thiếp vàng, trong đó 5 ngai lớn được chạm trổ rất công phu. Đình cũng giữ được cỗ kiệu bát cống và bốn đôi lọ lộc bình men trắng vẽ lam có niên hiệu đời Thanh. Hoành phi, câu đối, cửa võng, hương án đều được trang trí đẹp đẽ, các đồ tế khí thể hiện trình độ chế tác rất cao. Đặc biệt nơi đây hiện còn lưu 5 sắc phong của các vị vua nhà Nguyễn mang niên hiệu khác nhau rải rác suốt thế kỷ 19: Gia Long (năm 1802), Tự Đức (1852 và 1879), Đồng Khánh (1886), Thành Thái (1889). Những sắc phong này đều thể hiện sự kính trọng đối với danh tướng Khỏa Ba Sơn. Đình Vũ Thạch và đền Mẫu liền kề cùng với chùa Vũ Thạch (trong ngõ 13b Bà Triệu) đã được Bộ Văn hóa – Thông tin xếp hạng là một cụm di tích kiến trúc nghệ thuật quốc gia vào năm 1986. Cổng thông tin điện tử quận Hoàn Kiếm , thành phố Hà Nội.

Hà Nội

6199 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Chùa Quán Sứ

Chùa Quán Sứ

Chùa Quán Sứ là một ngôi chùa ở số 73 phố Quán Sứ, phường Trần Hưng Đạo, quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội. Trước đây, địa phận này thuộc thôn An Tập, phường Cổ Vũ, tổng Tiền Nghiêm (sau đổi là tổng Vĩnh Xương), huyện Thọ Xương. Chùa Quán Sứ được xây dựng vào thế kỷ 15, năm 1942 được xây dựng lại và năm 1980 trở thành trụ sở trung ương của Giáo hội Phật giáo Việt Nam. Sách “La thành cổ tích vịnh” do tiến sĩ Trần Bá Lãm soạn năm 1787 viết rằng: vào khoảng đời vua Trần Dụ Tông (1341—1369) triều đình cho dựng một tòa sứ quán để tiếp sứ thần các nước láng giềng Chiêm Thành, Vạn Tượng và Ai Lao. Triều ta vẫn theo nề nếp ấy. Từ đời Lê trung hưng về sau sứ thần có đến cống nạp phương và nghỉ ngơi ở đây … cho xây ngôi chùa thờ Phật để trấn yểm từ đó mới được bình an vô sự. Nhân thế gọi tên chùa Quán Sứ. Năm 1942 sư Tổ Vĩnh Nghiêm duyệt cho chùa xây dựng lại theo bản thiết kế của hai kiến trúc sư Nguyễn Ngọc Ngoạn và Nguyễn Xuân Tùng, với nghệ thuật kiến trúc và trang trí kết hợp tinh hoa từ các ngôi chùa lớn của miền Bắc. Mặt bằng các công trình tuân theo truyền thống “nội Công ngoại Quốc”. Tam quan chùa có ba tầng mái, ở giữa là lầu chuông. Một nét rất mới là ở đây tên chùa cũng như nhiều câu đối đều được viết bằng chữ quốc ngữ. Đi qua cổng tam quan rồi qua sân trước, du khách bước tiếp lên 11 bậc thềm mới tới chính điện. Toà Tam bảo xây cao đặt ở trên tầng hai, tầng dưới là để cách ẩm. Điện Phật được bài trí trang nghiêm, các pho tượng đều có kích thước khá lớn và thếp vàng lộng lẫy. Phía trong cùng, thờ tượng ba vị Phật Tam Thế trên bậc cao nhất. Bậc kế tiếp thờ tượng Phật A-di-đà ở giữa, hai bên có các tượng Bồ tát Quán Thế Âm và Đại Thế Chí. Bậc dưới đó, ở giữa thờ tượng Phật Thích-ca, hai bên là các tượng tôn giả A-nan-đà và Ca-diếp. Bậc thấp nhất, ở ngoài cùng có tòa Cửu Long đặt giữa các tượng Bồ tát Quán Thế Âm và Địa Tạng Vương. Gian bên phải chính điện thờ Lý Quốc Sư (tức Thiền sư Minh Không) với hai thị giả, gian bên trái thờ tượng Đức Ông. Bốn mặt xung quanh chùa Quán Sứ là những hàng hiên thoáng mát có các cột vuông chống đỡ. Hai dãy hành lang dài cách Tam bảo một khoảng sân đủ hút gió. Hương hoa đại thoang thoảng khắp nơi. Chùa Quán Sứ mới đây lại được trùng tu và nâng cấp, chủ yếu ở khu vực giữa và phía sau. Các tòa nhà chính và nhà phụ đều xây cao và rộng rãi, tường vẫn được quét vôi vàng như trước kia. Toà hậu đường gồm có 3 tầng, tầng giữa nối với chính điện qua một cầu thang lộ thiên. Chùa Quán Sứ có cả hội trường, giảng đường và thư viện Phật giáo. Chùa đủ chỗ để đặt văn phòng Phân viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam và văn phòng tổ chức Phật giáo Châu Á vì hòa bình (ở Việt Nam). Chùa cũng là nơi đặt văn phòng Hội đồng trị sự, văn phòng Hội đồng chứng minh và phòng khách quốc tế. Hiện nay các vị hòa thượng Giáo hội Phật giáo Việt Nam, Hội đồng trị sự Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam cùng các vị thượng tọa, đại đức, tăng ni của văn phòng Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam đều làm việc ở chùa Quán Sứ. Các hội nghị Phật giáo ở cấp quốc tế và quốc gia cũng thường được tổ chức tại đây. Trong các dịp lễ lạt và cả ngày thường, chùa cũng có rất đông Phật tử và du khách đến thăm viếng. Nguồn Cổng thông tin điện tử quận Hoàn Kiếm , thành phố Hà Nội.

Hà Nội

6639 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Di tích nổi bật

Xem tất cả
Hoàng Thành Thăng Long

Hoàng Thành Thăng Long

Di tích lịch sử và khảo cổ Khu Trung tâm Hoàng thành Thăng Long - Hà Nội với diện tích quy hoạch bảo tồn vùng lõi là 18,395 ha (bao gồm Khu di tích thành cổ Hà Nội và Khu di tích khảo cổ học 18 Hoàng Diệu) và diện tích vùng đệm là 108ha. Năm 1009, Lý Công Uẩn lên ngôi hoàng đế, lập nên vương triều Lý. Năm 1010, Lý Thái Tổ rời đô từ Hoa Lư về thành Đại La, đổi tên kinh đô mới là Thăng Long và xây dựng nơi đây thành một trung tâm kinh tế, chính trị và văn hóa lớn nhất của đất nước. Trải qua các triều đại Lý, Trần, Lê Sơ, Mạc và Lê Trung Hưng, thành Thăng Long luôn giữ vị trí “Quốc đô”, là nơi ở và làm việc của Vua và Hoàng tộc. Khu vực này cũng còn là nơi cử hành các nghi lễ quan trọng của đất nước. Sau khi nhà Nguyễn định đô ở Huế (1802), vai trò kinh đô của Thăng Long mới bị giải thể… Từ sau năm 1954, khu vực thành Thăng Long trở thành trụ sở làm việc của Bộ Quốc phòng. Chính tại khu vực này, nhiều quyết định quan trọng của Đảng và Nhà nước đã được ra đời, góp phần tạo ra những thắng lợi lớn trong công cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước giành độc lập dân tộc, thống nhất đất nước. Trải qua thời gian và những biến cố của lịch sử, thành Thăng Long đã có nhiều thay đổi, biến dạng…, nhưng đến nay vẫn còn lưu giữ được một số di tích lịch sử và khảo cổ học, tiêu biểu như: Kỳ đài (Cột cờ Hà Nội): xây dựng vào năm 1812, dưới thời vua Gia Long, cao 33,4m, gồm ba tầng: đế, thân cột và vọng canh. Đoan môn: là cửa thành phía Nam, xây theo kiểu vòm cuốn. Đoan môn được bố cục theo chiều ngang, gồm cửa chính giữa dành riêng cho vua, hai bên có 4 cửa nhỏ hơn, dành cho các quan và hoàng tộc. Điện Kính thiên: nằm ở vị trí trung tâm của hoàng thành (thời Lê Sơ), được xây dựng năm 1428, ngay trên nền cũ của điện Càn Nguyên thời Lý (sau đổi tên là điện Thiên An). Năm 1886, điện này đã bị thực dân Pháp phá để xây dựng Sở Chỉ huy Pháo binh quân đội Pháp. Hiện nay, chỉ còn lại dấu tích của nền móng của điện Kính thiên. Đặc biệt, khu vực này còn lưu giữ được hai bậc thềm rồng bằng đá, có niên đại thế kỷ XV. Hậu lâu (Lầu Công chúa): xây dựng năm 1821, được sử dụng làm nơi nghỉ ngơi của các cung nữ trong đoàn hộ tống các Vua nhà Nguyễn khi xa giá ra Bắc. Cuối thế kỷ XIX, Hậu lâu bị hư hỏng nặng, thực dân Pháp đã cho cải tạo, xây dựng lại như hiện nay. Chính Bắc môn (Cửa Bắc): là cổng thành phía Bắc, được xây dựng năm 1805, gồm hai tầng, tám mái, với đầu đao cong, theo kiểu truyền thống. Tường bao và 8 cổng hành cung thời Nguyễn: năm 1805, nhà Nguyễn đã cho xây dựng tường bao từ cửa Đoan môn quanh nội điện, làm hành cung để vua làm việc và nghỉ ngơi mỗi khi Bắc tuần. Hiện nay, trong khu thành cổ còn 8 cổng thành cùng với hệ thống tường bao xung quanh hành cung bằng gạch vồ. Di tích nhà và hầm D67: được xây dựng vào năm 1967, trong khu A. Đây là nơi Bộ Chính trị, Đảng ủy Quân sự Trung ương, Bộ Tổng Tư lệnh đã đưa ra nhiều quyết định mang tính lịch sử, đánh dấu những mốc son của cách mạng Việt Nam: Tổng tiến công Tết Mậu Thân 1968, chiến dịch năm 1972, Cuộc tổng tiến công năm 1975 và đỉnh cao là Chiến dịch Hồ Chí Minh… Những công trình kiến trúc Pháp: được xây dựng từ cuối thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX theo kiểu Vauban, bao gồm tòa nhà Sở Chỉ huy Pháo binh Quân đội Pháp; một tòa nhà 2 tầng, xây dựng năm 1897, nay dùng làm trụ sở của Cục Tác chiến; hai tòa nhà một tầng, xây dựng năm 1897. Phía Đông của tòa nhà Cục Tác chiến có một nhà khách, xây dựng năm 1930. Cây xanh trong khu di tích: được trồng với mật độ dày, đa dạng về chủng loại, đã góp phần tạo ra môi trường trong lành và cảnh quan hài hòa cho khu di tích. Di tích khảo cổ tại 18 Hoàng Diệu: nằm cách nền điện Kính Thiên khoảng 100m về phía Tây, có diện tích 4,530ha, bắt đầu khai quật từ tháng 12 năm 2002, được phân định làm 4 khu (A, B, C, D). Khi tiến hành khai quật tại đây, các nhà khảo cổ học đã phát hiện dấu tích nền móng của các công trình kiến trúc cổ thuộc Hoàng thành Thăng Long cùng nhiều hiện vật có giá trị, như vật liệu trang trí kiến trúc bằng đất nung, cột gỗ, đồ gốm sứ của các triều đại phong kiến Việt Nam và nhiều đồ dùng, vật dụng của nước ngoài, như các loại đồ sứ của Tây Á, Trung Quốc, Nhật Bản… Thành cổ Thăng Long - Hà Nội là di tích lịch sử và khảo cổ tiêu biểu, là bằng chứng vật chất phản ánh trình độ kỹ thuật cao, chứa đựng các giá trị về lịch sử, kiến trúc và nghệ thuật. Đồng thời, phản ánh sự giao thoa văn hóa với các nước trong khu vực và trên thế giới trong một quá trình lịch sử lâu dài, thể hiện qua rất nhiều hiện vật lịch sử, công trình kiến trúc, cảnh quan đô thị mang bề dày hàng ngàn năm lịch sử. Với những giá trị lịch sử, văn hóa và khoa học đặc biệt của di tích, Thủ tướng Chính phủ đã quyết định xếp hạng Di tích lịch sử và khảo cổ Khu Trung tâm Hoàng thành Thăng Long - Hà Nội là di tích quốc gia đặc biệt ngày 12/8/2009. Nguồn: Cục Di sản văn hóa

Hà Nội

11871 lượt xem

Xếp hạng : Di tích quốc gia đặc biệt

Mở

Chùa Một Cột

Chùa Một Cột

Chùa Một Cột là một quần thể kiến trúc gồm ngôi chùa và toà đài giữa hồ, vốn có tên là chùa Diên Hựu và đài Liên Hoa. Đài này từ lâu quen gọi là chùa Một Cột. Chùa xưa nằm ở phía Tây thành Thăng Long, thuộc thôn Ngọc Thanh, Ngọc Hà, nay là địa điểm phía sau Lăng Bác. Chùa được dựng trên một hồ hình vuông, giữa hồ có một cột đá, cao chừng hai trượng, chu vi chín thước, đầu trụ đặt một toà chùa ngói nhỏ, hình như một đoá hoa sen dưới nước mọc lên vì thế chùa có tên là chùa Nhất Trụ hay chùa Một Cột. Chùa được xây dựng từ năm 1049, tức năm đầu niên hiệu Sùng Hưng Đại Bảo vua Thái Tông nhà Lý. Tục truyền khi ấy vua Thái Tông tuổi đã cao mà chưa có con trai nên thường đến cầu tự ở các chùa. Một đêm vua nằm chiêm bao thấy đức phật Quan Âm hiện trên đài hoa sen trong một cái hồ vuông ở phía Tây thành, tay bế một bé trai đưa cho nhà vua. Sau đó quả nhiên nhà vua sinh con trai. Thấy ứng nghiệm, vua liền sai lập chùa để thờ phật Quan Âm. Khi chùa làm xong vua triệu tập toàn bộ các tăng ni phật tử ở kinh thành đứng chầu xung quanh, tụng kinh suốt bảy ngày đêm và lập thêm một ngôi chùa lớn bên cạnh để thờ phật, gọi là chùa Diên Hựu. Năm 1105, vua Lý Nhân Tông cho sửa lại chùa, dựng lên một cây tháp bằng đá trắng trước chùa Diên Hựu gọi là tháp Bạch Tuynh. Tháp cao 13 trượng. Từ tháp vào chùa Một Cột đi bằng một hành lang cầu vồng. Mỗi tháng hai ngày Rằm, mồng Một, nhà vua cùng các hậu, phi, cung tần và cận thần tới chùa lễ phật. Đặc biệt cứ đến ngày 8 tháng Tư âm lịch hàng năm là ngày Phật sinh, nhà vua lại ngự ra chùa trước một đêm, giữ mình chay tịnh để làm lễ tắm phật ngày hôm sau. Ngày này rất đông các tăng ni phật tử và nhân dân các nơi tới dự, làm nên ngày hội lớn ở kinh đô. Trong ngày này, tại chùa có lễ phóng sinh. Lễ phóng sinh bắt đầu ngay sau lễ tắm phật, nhà vua đứng trên đài cao, tay cầm một con chim thả cho bay đi, sau đó đến các tăng ni và các thiện nam tín nữ đua nhau mỗi người thả một con, bóng chim bay rợp trời. Sử cũ chép vào năm Long phù thứ tám (1108), nhà vua cho xuất kho một vạn hai ngàn cân đồng để đúc một quả chuông lớn gọi là Giác thế chung (chuông thức tỉnh người đời), để treo ở chùa Diên Hựu. Lại xây một toà Phương đình bằng đá xanh cao tám trượng, trên nóc đình đóng những gióng sắt to để treo chuông. Nhưng chuông đúc xong đánh lại không kêu nên đành bỏ ngoài ruộng. Lâu ngày bị lãng quên, chuông thành tổ của rùa, vì thế chuông có tên Quy điền. Năm 1922 trường Viễn đông Bác cổ có sửa chữa lại chùa và giữ đúng theo kiến trúc cũ. Đêm 11-9-1954, bọn tay sai thực dân Pháp trước khi giao trả Thủ đô cho Chính phủ và nhân dân ta đã cố tình đặt mìn phá hoại chùa. Sau ngày tiếp quản Thủ đô, Chính phủ đã cho chiếu theo đồ dạng cũ, sửa chữa lại. Tháng 4-1955, chùa Một Cột được dựng hoàn nguyên như cũ. Cho đến năm 1958, nhân dịp Hồ Chủ Tịch đi thăm Ấn Độ, nhân dân Ấn Độ đã kính tặng người cây Bồ đề của đất Phật và đã được trồng tại sân chùa. Chùa Một Cột được công nhận là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia đợt đầu tiên năm 1962. Nguồn: Cổng thông tin điện tử Quận Ba Đình

Hà Nội

11856 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Chùa Thanh Nhàn

Chùa Thanh Nhàn

Chùa Thanh Nhàn (Linh Sơn Tự) là cơ sở cách mạng bí mật của Đảng, nhà thờ Tổ là nơi hội họp, in truyền đơn, ăn ở của cán bộ cách mạng hoạt động trong thời kỳ trước cách mạng tháng Tám năm 1945 và khi Pháp tạm chiếm Hà Nội (1947- 1949). Một số cán bộ đã hy sinh anh dũng tại Chùa vào tháng 3/1949, đã được an táng tại nghĩa trang Mai Dịch- Hà Nội. Chùa Thanh Nhàn hiện nằm ở số 68, ngõ 318 đường La Thành, Đống Đa, Hà Nội. Chùa đã được Bộ Văn hóa thông tin công nhận là di tích lịch sử văn hóa vào năm 1989. Chùa Thanh Nhàn nằm trong một tổng thể di tích gồm Đình Lạc Nghiệp ở phía Đông gần kề với chùa, xa hơn chút là Đình An Cư, Đình Lương Yên. Chùa Thanh Nhàn có quy mô lớn. Tam quan cấu trúc được thể hiện theo kiểu cột trụ, có một cổng chính. Chùa chính tọa lạc trên vị trí cao nhất so với các công trình kiến trúc phụ trợ và quay hướng nam nhìn ra khoảng sân và ao sen của chùa. Chùa có kết cấu hình chữ “Đinh”, kiểu tường hồi bít đốc, mái lợp ngói ta. Bờ nóc và bờ dải đắp nhô cao, trên có trang trí thành dải các hình hoa thị, chính giữa bờ nóc đắp bức đại tự “Linh Sơn Tự”. Phần trang trí trong kiến trúc chùa chính nhẹ nhàng, các chủ đề và họa tiết chủ yếu mang phong cách nghệ thuật thời Nguyễn, như: Thân trúc mai, hoa văn triện, được tập trung trên các phần cuốn mê. Cùng với kiến trúc chùa chính, có nhà tổ, kiến trúc năm gian. Trong chùa còn có nhà điện mẫu. Hiện nay, chùa Thanh Nhàn còn bảo lưu được khối lượng di vật phong phú cả về số lượng và giá trị nghệ thuật. Điển hình là các tấm bia đá cổ (9 tấm bia). Hệ thống tượng Phật, tượng Mẫu, tượng Tổ gồm 61 pho tượng lớn nhỏ. Hai quả chuông đồng được đúc vào năm Tự Đức nguyên niên (1848). Các hiện vật khác: hoành phi, câu đối… là sản phẩm của thời Nguyễn. Vào những năm đầu của cuộc kháng chiến chống thực dân pháp xâm lược, chùa Thanh Nhàn là cơ sở nuôi dấu các đồng chí cách mạng nằm vùng, nơi in ấn, cất dấu tài liệu, truyền đơn của Đảng, trong cuộc đấu tranh bền bỉ ác liệt, có các đồng chí đã anh dũng hy sinh tại ngôi chùa này, một số các đồng chí khác về sau đã lãnh trách nhiệm của Đảng và Nhà nước, họ đã trở thành những nhân chứng về thời kỳ lịch sử, đồng thời cũng là nhân chứng khẳng định sự đóng góp tích cực của chùa Thanh Nhàn trong sự nghiệp đấu tranh bảo vệ Thủ đô Hà Nội, bảo vệ Tổ quốc, tạo thêm động lực thúc đẩy cuộc cách mạng nhanh chóng đến thắng lợi rực rỡ. Ngày nay, chùa còn là địa chỉ để những phật tử có tấm lòng hảo tâm đóng góp, chia sẻ với nhiều hoàn cảnh khó khăn trong xã hội bằng những việc làm từ thiện hết sức thiết thực và đậm tính nhân văn như: nấu cơm, cháo từ thiện cho các bệnh nhân ung thư có hoàn cảnh khó khăn tại hai bệnh viện K (địa chỉ Quán sứ và Thanh trì). Tổ chức những chương trình phát quà kết hợp với khám chữa bệnh cho đồng bào vùng sâu, vùng xa; chương trình mổ mắt cho người nghèo; phát xe lăn cho người tàn tật. Phối hợp với phòng Y tế tổ chức phòng khám từ thiện cho người nghèo ngay tại chùa. Nguồn: Trang thông tin điện tử Phường Thanh Nhàn

Hà Nội

11544 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Đình, chùa Đại Lan

Đình, chùa Đại Lan

Cụm di tích Đình, chùa Đại Lan ở thôn Đại Lan, xã Duyên Hà, huyện Thanh Trì, TP Hà Nội được xây dựng vào khoảng thế kỷ XVII. Đình Đại Lan, nằm ở sát bên trái tòa tam bảo của ngôi chùa làng, có kiến trúc hình chữ “Đinh” gồm 3 gian tiền đình và 2 gian hậu cung. Tòa Đại bái đình Đại Lan được chia làm 3 gian 2 dĩ với 4 mái đao cong, bờ nóc đắp lưỡng long chầu hổ phù đội mặt trời cách điệu, hai đầu bờ nóc là hai con rồng ngậm bờ nóc, các mái đao được đắp đầu rồng cong hướng vào đình. Vào bên trong các bộ vì đỡ mái được làm theo kiểu thượng giá chiêng rường nách, hạ cốn, bẩy hiên, bẩy hậu trên mặt bằng bốn hàng chân cột. Trang trí trên kiến trúc tại đình Đại Lan chủ yếu tập trung vào các đầu dư, cốn chạm rồng, tứ linh, tứ quý là các đề tài quen thuộc trong kiến trúc tín ngưỡng dân gian truyền thống. Đình Đại Lan thờ 4 vị Thành hoàng làng (3 vị thời Hùng Vương là Linh Hồ, Minh Châu và Chà Lục có công dẹp giặc và Nguyễn Như Đổ, 1 đại thần nhà Lê, làm quan tới chức Thượng thư, ba lần đi sứ Trung Quốc). Đình Đại Lan hiện còn lưu giữ được khá nhiều hiện vật có giá trị gồm 11 đạo sắc phong của triều Lê, Nguyễn, cuốn thư, cửa võng, long ngai, bài vị, hương án, án văn, nhất là bốn bộ kiệu được làm từ thế kỷ XVII-XVIII. Đáng chú ý là hoành phi lớn dạng cuốn thư, bên dưới là cửa võng chạy suốt gian nhà, đây là hai di vật được trang trí bằng kỹ thuật chạm thủng, sơn son thếp vàng. Rồng chầu mặt trời, rồng cuốn thủy, long mã tranh châu…..được trang trí ở diềm bức hoành phi. Phần trên cửa võng là đôi rồng lớn chầu mặt hổ phù, hai bên trang trí các hình rồng phun nước, phượng, long mã…bên dưới hai hiện vật này là một phương án gỗ được trang trí tỉ mỉ bằng kỹ thuật chạm nổi các hình rồng lá cách điệu chầu hổ phù, chính giữa là rồng, phượng, hướng về hình mặt trời ở giữa…Chính điện có bức hoành phi làm theo dạng cuốn thư treo trên một cửa võng được đục chạm tinh xảo. Các mảng trang trí ở đó đều thể hiện những đề tài chạm khắc truyền thống: lưỡng long triều nhật, rồng cuốn thủy, long mã tranh châu, phượng múa… Phía dưới là một hương án với những mảng điêu khắc kín xung quanh diềm. Hai gian bên có treo hoành phi trên lối vào cung cấm. Trong hậu cung còn có một khám lớn đặt các long ngai và bài vị của 4 vị Thành hoàng làng. Hội làng Đại Lan diễn ra vào ba ngày mồng 6, mồng 7 (chính hội) và mồng 8 tháng Giêng. Trong ngày hội hằng năm không thể thiếu môn đánh gậy để tưởng nhớ công lao các vị thần, đồng thời cũng để rèn sức, rèn trí giữ yên xóm làng. Chùa Đại Lan Chùa Đại Lan (Phổ Huệ Tự), vốn là nghè của làng Đại Lan, xã Duyên Hà. Bởi trước đây, chùa đã nhiều lần di chuyển và lần gần đây nhất vào năm 1959 khi sông Hồng đổi dòng, đất chùa bị sụt nên dân làng đã chuyển tượng Phật và đồ thờ vào nghè để thờ, từ đó nghè đã được chuyển thành chùa. Xưa kia công trình nghè có quy mô kiến trúc lớn với kết cấu “tiền Nhất hậu Đinh”. Tiền đường gồm năm gian và ba gian Thượng điện. Chùa xây tường gạch bao quanh, tường hồi bít đốc, cuối bờ chảy xây tay ngai giật cấp, hai mái lợp ngói ri, chính giữa bờ nóc đắp bức cuốn thư, bên trong đắp nổi chữ Hán ghi tên chữ của chùa, hai đầu bờ nóc đắp hai con rồng lá ngậm bờ nóc, hai tường hồi được xây tường lửng nối với hai cột trụ, đỉnh trụ đắp tứ phượng chụm đuôi vào nhau, xuống dưới là ô lồng đèn bên trong đắp nổi tứ linh (long, ly, quy, phượng), thân trụ được đắp các gờ nổi bên trong viết các đôi chữ Hán có nội dung ca ngợi cảnh đẹp của chùa và lòng từ bi hỷ xả, bác ái của đạo Phật. Vào bên trong, bộ vì đỡ mái tòa Tiền đường được làm theo kiểu: Thượng giá chiêng chồng rường, hạ cốn, kẻ hiên, bẩy hậu trên mặt bằng bốn hàng chân cột. Trang trí trên kiến trúc nhà Tiền đường được tập trung trên các đầu dư, con rường, kẻ và các bức cốn với đề tài trang trí chủ yếu là rồng, tứ linh, tứ quý, hoa cúc, bát bửu của đạo Nho…Đáng lưu ý nhất là hai bức cốn nách ở hai bên hồi thể hiện rồng mây bằng kỹ thuật chạm lộng. Rồng mây thể hiện quan niệm truyền thống của Nho giáo long vân khánh hội, Vân tòng long, phong tòng hổ là hình tượng cho sự gặp gỡ vua tôi. Sự có mặt của hai bức cốn trang trí long vân là rất phù hợp trong một kiến trúc nghè thờ các vị khoa bảng trước đây. Hậu cung chùa Đại Lan được xây các bệ cao dần từ ngoài vào trong, trên bệ có đặt các pho tượng. Trên cùng là bộ tượng Tam Thế. Lớp thứ hai là bộ tượng Di Đà Tam Tôn, với tượng A Di Đà ngồi giữa, hai bên là tượng Quan Thế Âm và tượng Đại Thế Chí. Lớp tiếp theo là tượng Di Đà Tiếp Dẫn, hai bên là tượng Thị Giả. Lớp thứ tư gồm cá tượng Quan Âm Chuẩn Đề, hai bên là tượng Kim Đồng, Ngọc Nữ. Ngoài cùng là tượng Ngọc Hoàng và Phạm Thiên, Đế Thích, rồi đén tòa Cửu Long và tượng Thích Ca Sơ Sinh. Hai bên hồi Thượng điện có các tượng Quan Âm Tọa Sơn, Thổ Địa, Giám Trai, bộ tượng Thập Điện Diêm Vương. Ngoài nhà Tiền đường là hai ban thờ Đức Ông, Thánh Tăng và tượng Hộ Pháp Khuyến Thiện, Trừng Ác. Bên cạnh hệ thống tượng Phật, chùa Đại Lan còn lưu giữ được một số hiện vật có giá trị: Cửa võng, hương án, bát hương thời Lê; 1 đôi lọ sứ thời Thanh, 2 quả chuông, 4 bức hoành phi và 2 đôi câu đối. Năm 1989, cụm di tích đình, chùa Đại Lan được Bộ Văn hóa – Thông tin công nhận là di tích lịch sử-văn hóa cấp quốc gia. Nguồn: Sở Văn hóa và Thông tin Hà Nội

Hà Nội

11270 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Đình Hoàng Xá

Đình Hoàng Xá

Đình Hoàng Xá, thị trấn Vân Đình, huyện Ứng Hòa, Hà Nội được xây dựng từ thế kỷ XVII, đã được Bộ Văn hóa xếp hạng Di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia trong đợt đầu tiên vào năm 1962. Đình Hoàng Xá thờ đức Thành hoàng Quý Minh, theo huyền sử nước ta là một trong 3 vị Thánh của núi Tản Viên (Ba Vì) sống vào cuối thời vua Hùng. Tên đình được lấy theo tên làng Hoàng Xá trước thuộc xã Liên Bạt, sau mới sáp nhập vào thị trấn Vân Đình. Cuối thời Lê, làng Hoàng Xá thuộc xã Hoa Đình, tổng Phương Đình, huyện Sơn Minh, trấn Sơn Nam Thượng. Đình được dựng vào ngày tốt tháng 5 Giáp Tuất niên đại Chính Hòa thứ 15 thời Lê Trung Hưng (1694). Việc xây cất và trang trí kéo dài trên 40 năm đến thời Lê Vĩnh Hựu (1735-1740) mới hoàn thành. Lúc đầu đình chỉ có một tòa nhà theo hình chữ “Nhất”. 166 năm sau, dân làng Hoàng Xá cho tiến hành sửa chữa nhỏ và xây cất thêm Trung cung, Hậu cung theo kiểu kiến trúc hình chữ “Công”. Trên cột hiên đầu phía bắc sau đình vẫn còn một dòng chữ Hán ghi rõ “Tự Đức thập tam niên thập nhất nguyệt, nhật, bản thôn tu trợ đình sở” (năm Canh Thân 1860). Trong đình hiện đang lưu giữ những mảng chạm khắc đạt đỉnh cao nhất của nghệ thuật thời Lê Trung Hưng. Đình Hoàng Xá tọa lạc trên một khu đất rộng giữa làng, gọi là thế đất “Tả kỳ hữu kiếm” (bên trái có cờ, bên phải có kiếm). Mặt đình nhìn về hướng tây - tây bắc. Nghi môn được thiết kế theo kiểu trụ biểu. Đầu trụ có hình lồng đèn, phía trên đắp đôi lân chầu nhau. Lòng thân trụ có ghi các câu đối. Sát với trụ biểu là hai lối đi kiểu cổng vòm với hai tầng mái, đao cong, đắp ngói ống. Năm 1995 dân làng xây thêm ở 2 bên sân đình 2 nhà giải vũ gồm 4 gian tường hồi bít đốc. Tòa Đại bái xây trên nền hình chữ nhật rộng 200m2, gồm 3 gian lớn và 2 chái, không đều nhau. Gian giữa là nơi hành lễ, các gian bên trước lát gỗ làm nơi sinh hoạt cộng đồng, nay xây 4 bệ lát gạch. Bộ khung gỗ được làm vững chắc trên các hàng cột to, tròn. Cột cái của hai bộ vì giữa có chu vi 1,85m, cột quân có chu vi 1,25m. Bốn bộ vì chính được làm theo hai thức khác nhau. Hai bộ kết cấu theo kiểu “Thượng rường hạ bẩy”, hai bộ chính bên lại có kết cấu theo kiểu “Thượng chồng rường hạ kẻ”. Đỡ phần trên hai mái hồi là hệ thống chồng rường đặt trên thanh xà ngang to. Xà có một đầu ăn mộng qua thân cột cái với hai vì bên, đầu kia đặt trên cột quân phía gian hồi. Tòa Hậu cung gồm 1 gian 2 dĩ, xây trên nền hình vuông, có 4 lá mái và các góc đao cong. Giữa bốn cột cái đặt một sập lớn, bên trên là cỗ khám thờ hình khối hộp vuông được sơn son thếp vàng, trong khám có long ngai bài vị của Thành hoàng Quý Minh. Nằm vuông góc nối liền Hậu cung với Đại bái là tòa nhà Trung cung gồm 3 gian xây dọc, tạo thành 3 tầng cửa võng. Trong đình Hoàng Xá có các tác phẩm điêu khắc đầy tính nghệ thuật được thể hiện trên các thân bẩy, kẻ, ván bưng, các bức cốn, chồng rường, các đầu dư… Nhiều nhất là các bức chạm rồng với đề tài Độc Long, Long Vân, Long Ổ, Long Ly... Bốn con kìm được chạm thành những hình rồng có đầu thon, đuôi dài ẩn phía sau cột cái, mặt ngựa với trán dô, mũi hếch, miệng cười, râu, bờm đua ra sau như những đao mác dài che kín phần cổ, hai chân choãi ra vững chắc. Trên khắp bộ khung của đình, hình rồng được tạo ở các tư thế khác nhau theo phong cách chạm lọng, chạm bong nhiều lớp của nghệ thuật thời Lê Trung Hưng. Đan xen với rồng là các bức chạm với nhiều đề tài sinh hoạt của người và thú như cảnh các tiên nữ múa hát, nhạc công đánh trống, hát cửa đình, chèo thuyền, đấu vật, chọi gà… cảnh voi đi cày, ngựa hoặc cảnh cưỡi voi cưỡi ngựa, táng mả hàm rồng… Ngoài chạm khắc, trong đình Hoàng Xá hiện còn giữ được một khám thờ lớn với ngai vị, bàn thờ và các sắc phong từ thời vua Quang Trung đến Khải Định, rồi kiệu rồng, bát bửu, cùng hoành phi, câu đối. Trong 3 gian chính của tòa Đại bái, ở giữa hai xà dọc thượng có ba bức hoành phi lớn. Gian giữa là bức “Sơn anh hải tú” (chữ “tú” rất đẹp với lớp thếp vàng bị bong dần theo năm tháng), gian phải đề “Ích thi vô phương”, gian trái là “Cực hữu qui hội”. Trung cung có 3 tầng cửa võng long chầu phượng vũ. Phía trước là bức hoành phi “Thánh cung vạn tuế” (hiện nay bức này và cửa võng không còn). Qua cửa võng là bức hoành phi “Thân tích vô cương” cùng với đôi câu đối “Hoàng Xá xuân hùng đoan hữu cực/ Phương Đình nhật lệ điện hành quy”. Trong Hậu cung, trước khám thờ Thành hoàng là bức hoành phi “Hiển linh từ”, bên phải khám có lá cờ “Khâm ban thượng đẳng”. Nguồn: Sở Du lịch Hà Nội

Hà Nội

11246 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Đền Voi Phục Hà Nội

Đền Voi Phục Hà Nội

Đền được lập từ thời Lý Thái Tông (1028-1054) ở góc phía tây nam thành Thăng Long cũ thuộc địa phận làng Thủ Lệ nay là công viên Thủ Lệ. Thờ hoàng tử Linh Lang, con của vua Lý Thái Tông, và bà phi thứ 9 Dương Thị Quang, nhưng tương truyền vốn là con của Long Quân, tên gọi là Hoàng Châu, thác sinh, là người có công trong cuộc kháng chiến chống quân xâm lược nhà Tống. Sau khi mất, được người dân Thủ Lệ lập đền thờ và được nhà vua sắc phong là Linh Lang đại vương thượng đẳng phúc thần. Thần đã nhiều lần âm phù giúp nhà Trần trong cuộc chiến chống quân xâm lược Nguyên - Mông, và nhà Lê trong cuộc phục hưng. Vì trước cửa đền có đắp hai con voi quỳ gối nên quen gọi là đền Voi Phục và vì đền ở phía tây kinh thành nên còn gọi là trấn Tây hoặc trấn Đoài (Đoài, theo bát quái thuộc phương Tây). Đền Voi Phục hiện nay nằm tại phường Ngọc Khánh, quận Ba Đình, Hà Nội. Đền còn được gọi là Đền Voi Phục Thủ Lệ để phân biệt với Đền Voi Phục Thụy Khuê tại số 251 đường Thụy Khuê, quận Tây Hồ, Hà Nội. Trước đây, đền nằm trong hệ Tứ Trấn, "giữ" phía Tây kinh thành. Nơi đây vốn là đất lắm hồ ao, lầy lội, là một trong Thập tam trại có từ thời Lý. Đương thời, thuộc tổng nội, huyện Quảng Đức, phủ Phụng Thiên. Tương truyền, đền Voi Phục được xây dựng năm Chương Thánh Gia Khánh thứ 7 (năm 1065) đời vua Lý Thánh Tông trên một khu gò cao thuộc vùng đất của trại Thủ Lệ -một trong 13 làng trại ở phía tây kinh thành Thăng Long. Mở đầu cho đền, hiện nay là cổng tứ trụ, như những trục vũ trụ đem sinh khí từ tầng trên truyền xuống trần gian (đây là sản phẩm của thế kỷ XIX - XX), hai bên cổng có bia hạ mã và đôi voi chầu phục (hiện mới được xây thêm nghi môn tứ trụ nữa, ở sát với đường lớn). Cũng chính vì điều này mà đền mang tên Voi Phục. Mới

Hà Nội

9903 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Đền thờ Nguyễn Trãi .

Đền thờ Nguyễn Trãi .

Nhà thờ Nguyễn Trãi thuộc xã Nhị Khê, huyện Thường Tín, Hà Nội. Nguyễn Trãi (1380 - 1442), người anh hùng dân tộc, nhà văn hoá kiệt xuất, là danh nhân văn hoá thế giới, đã được Tổ chức-giáo dục Khoa học và Văn hoá của Liên hợp quốc (UNESCO) công nhận năm 1980. Nhà thờ Nguyễn Trãi được xây dựng ở thôn Nhị Khê, xã Nhị Khê, huyện Thường Tín. Ở Côn Sơn (Hải Dương) và các nơi khác cũng có đền thờ danh nhân - anh hùng dân tộc Nguyễn Trãi. Cổng làng Nhị Khê đắp nổi bốn chữ Hán lớn: “Như kiến đại tân” (như thấy người khách lớn). Đó là tấm lòng của cổ nhân quý khách đến làng. Cổng này còn có tên gọi là “Cổng Quốc” - tương truyền gọi như vậy là để tưởng nhớ vị khai quốc công thần Nguyễn Trãi. Qua Cổng Quốc một đoạn đường ngắn là tới khu vực nhà thờ Nguyễn Trãi có tượng đài Nguyễn Trãi, nhà thờ, nhà trưng bày “Thân thế sự nghiệp Nguyễn Trãi”, thư viện Nhị Khê. Từ đó đến nay nhà thờ đã đón tiếp hàng triệu lượt khách đến tham quan chiêm ngưỡng và mọi người cùng có cảm tình với một tác phẩm có nội dung tốt, đã khắc họa chân dung Nguyễn Trãi - con người văn võ toàn tài. Qua khu tượng đài là đến nhà thờ. Phía trước nhà thờ có hồ bán nguyệt. Nhà thờ có hệ thống cột trụ, tường bao, cổng pháo... được đắp vẽ công phu theo kiểu đình làng. Qua một sân gạch nhỏ là tới Đại bái, nhà thờ Nguyễn Trãi được xây dựng bằng gỗ tứ thiết, đầu hồi bít đốc, trên lợp ngói ri cổ. Nhà thờ mang dáng dấp kiến trúc thời Nguyễn - kết quả của những tu bổ ở thế kỷ XIX. Nghệ thuật kiến trúc thiên về bền chắc, bào trơn, đóng bén. Nét nổi bật ở tòa Đại bái là các bức đại tự, hoành phi và câu đối đều được sơn son thếp vàng hoặc thếp bạc phủ hoàn kim thể hiện lòng tôn kính, biết ơn đối với bậc công thần, đại thi hào Nguyễn Trãi. Đó là các hoành phi: Khai quốc nguyên huân, Bình Ngô khai quốc, Bình dị cận dân.. Trên ban thờ Nguyễn Trãi ở Hậu cung có bức tranh chân dung Nguyễn Trãi, hòm sắc phong của các triều Lê và Nguyễn. Đặc biệt có một biển để trang trọng lời vua Lê Thánh Tông, năm Quang Thuận thứ 5 (1464) “Ức Trai tâm thượng quang khuê tảo” (tấm lòng Nguyễn Trãi sáng đẹp như sao khuê). Đó là lời minh oan của nhà vua đối với Nguyễn Trãi. Đến thăm nhà thờ Nguyễn Trãi, khách sẽ được giới thiệu “Trại Ổi”, “Ao Huệ” nói về thân phụ của Nguyễn Trãi là Nguyễn Phi Khanh đã mở trường dạy học. Sự nghiệp vĩ đại của Nguyễn Trãi in đậm lên mảnh đất Nhị Khê. Nhà thờ Nguyễn Trãi đã được tu sửa nhiều lần. Nhân Đại lễ 1000 năm Thăng Long - Hà Nội, thành phố Hà Nội và huyện Thường Tín đã đầu tư kinh phí để trùng tu, tôn tạo lại toàn bộ khu tưởng niệm Nguyễn Trãi. Nhà thờ Nguyễn Trãi đã được Bộ Văn hoá và Thông tin xếp hạng di tích lịch sử lưu niệm danh nhân năm 1964. Nguồn Cổng thông tin điện tử huyện Thường Tín , thành phố Hà Nội .

Hà Nội

8413 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Chùa Bà Đá

Chùa Bà Đá

Chùa Bà Đá nguyên là chốn tổ của Thiền Phái Lâm Tế, một trong hai Thiền Phái lớn của Phật giáo ở miền Bắc Việt Nam. Chùa Bà Đá (Linh Quang tự) tọa lạc tại số 3 phố Nhà Thờ, Phường Hàng Trống, Quận Hoàn Kiếm, Hà Nội, cách khu vực Hồ Hoàn Kiếm chỉ khoảng 100m. Nơi đây khi trước thuộc thôn Tiên Thị, phường Báo Thiên, tổng Tiên Túc, huyện Thọ Xương, phủ Phụng Thiên, kinh đô Thăng Long. Chùa Bà Đá là một trong bốn ngôi chùa Bà cổ kính bậc nhất Thủ đô cùng với chùa Bà Đanh, chùa Bà Nành và chùa Bà Ngô. Chùa Bà Đá nguyên là chốn tổ của Thiền Phái Lâm Tế, một trong hai Thiền phái lớn của Phật giáo ở miền Bắc Việt Nam. Chùa cũng gắn với nhiều chứng tích của hai cuộc kháng chiến cứu nước của nhân dân Hà Nội. Trong cuộc kháng chiến chống Pháp, chùa Bà Đá là cơ sở đi lại của cán bộ Việt Minh. Sau ngày thành lập Hội Phật giáo Thống nhất Việt Nam (5/1958), chùa Bà Đá là trụ sở Ban liên lạc Phật giáo Hà Nội. Sau khi Giáo hội Phật giáo Việt Nam thành lập (11/1981), chùa trở thành Trụ sở Thành hội Phật giáo Hà Nội. Từ năm 1992 tại chùa Bà Đá khai giảng lớp Trung cấp Phật học Hà Nội khóa đầu tiên (1989 – 1992). Cuối đời Lê Trịnh (1767 - 1782), khi người dân đào đất chung quanh vườn chùa để lấy đất đắp thành Thăng Long đã tìm thấy pho tượng đá. Người ta cho rằng đây là tượng của Phật bà nên rước vào thờ phụng trong chùa, từ đấy mới gọi là chùa Bà Đá. Tháng 6 năm Bính Ngọ (1786), quân Tây Sơn tiến vào Thăng Long, trong cuộc binh đao, ngọn lửa vô tình đã làm cho chùa Bà Đá hóa tro tàn. Chùa bị cháy chỉ còn một nền đất không, cỏ mọc rêu phong. Bấy giờ quan trên bắt dân làm cỏ vườn hoang ấy để sửa sang lại cảnh điêu tàn. Dân làng lại làm nên một ngôi chùa toàn bằng tranh tre để tỏ lòng kính Phật để có chỗ lễ bái. Năm Quý Sửu (1793), sư tổ Khoan Giai trụ trì chùa, dần dần dựng lên một ngôi chùa ba gian lợp ngói. Năm Tân Tỵ (1821), tổ Giác Vượng kế đăng, được thập phương công đức, bèn lập nên một ngôi chùa rộng lớn hơn, lại làm thêm mấy dãy hành lang và tăng phòng khách xá. Tiếp đấy là tổ Phổ Sĩ lên kế đăng… Từ đây trở đi, chùa Bà Đá hồi phục lại cái vẻ danh lam thắng tích như xưa. Chùa ngày nay có quy mô tương đối lớn với 5 gian tiền đường, 4 gian thượng điện và khu nhà thờ Tổ, thờ Mẫu nằm gọn trong một khuôn viên khép kín. Chùa không có tam quan như các chùa khác, lối vào là một ngõ hẹp sâu khoảng 9 mét. Mặt chùa hướng về phía Bắc. Kiến trúc độc đáo nhất của ngôi chùa này chính là mái hiên thấp được đỡ bằng bốn chiếc cột đá có kích thước khiêm nhường, tương xứng. Trên cột có các họa tiết chạm khắc rất tinh xảo và mềm mại, miêu tả cảnh bốn mùa và tứ quý. Trong chùa có nhiều tượng gỗ sơn son thép vàng, trên cao có tượng Tam thế, dưới là tượng Di Đà tam tôn. Sau đó là tượng Đức Phật Thích Ca niêm hoa, có tượng hai ngài Bồ tát Văn Thù và Bồ tát Phổ Hiền ở hai bên. Hàng dưới là Toà Cửu Long, các tượng đều có kích thước lớn hơn so với chùa khác, những pho tượng ở đây mang dáng vẻ riêng rất đẹp và cổ kính. Đặc biệt, nhà Bái đường không có Tượng Hộ Pháp như ở các chùa khác, nhưng có nhiều bia hậu gắn ở tường hai bên. Chùa cũng còn lưu giữ được một số hiện vật quý như hai quả chuông đồng đúc vào năm 1873 - 1881; khánh đồng đúc năm 1842. Chùa Bà Đá đã được UBND Thành phố Hà Nội xếp hạng di tích lịch sử - văn hoá năm 2006./. Nguồn Cổng thông tin điện tử quận Hoàn Kiếm , thành phố Hà Nội.

Hà Nội

7762 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Đình Hạ Thái

Đình Hạ Thái

Di tích kiến trúc nghệ thuật đình Hạ Thái, xã Duyên Thái, huyện Thường Tín, Hà Nội là một trong số 15 di tích của cả nước được Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch xếp hạng di tích quốc gia trong đợt 1/2017. Bộ VHTTDL vừa có quyết định số 824/QĐ- BVHTTDL công nhận Di tích kiến trúc nghệ thuật đình Hạ Thái, xã Duyên Hải, Thường Tín, Hà Nội là di tích quốc gia. Đình Hạ Thái, xã Duyên Thái, huyện Thường Tín mang đậm nét kiến trúc của đồng bằng Bắc bộ với cây đa, bến nước, sân đình. Đây là nơi thờ hai vị thành hoàng làng là quan võ thời Lê Bùi Sĩ Lương và bà Đinh Thị Trạch (hay còn gọi là bà Lạy) người đã hy sinh tính mạng của mình để cho dân làng thoát nạn cống nạp người. Thần phả ghi lại rằng: trước đây vùng đất này hoang vu, cây cối um tùm và dân cư thưa thớt. Lúc đó trong rừng có một con hổ dữ, dân làng gọi là hổ lang thường tìm về bắt người và gia súc ăn thịt. Không thể thu phục được con hổ đã thành tinh này nên hàng năm dân làng đành phải cống nạp cho hổ một người vào ngày 10/11. Trong làng có bà Lạy, một người đàn bà không chồng, không con, thấu hiểu nỗi đau và mất mát của dân làng, bà đã tự nguyện dâng mình cho hổ với mong muốn việc cống nạp này sẽ chấm dứt. Lời khấn cầu nguyện của bà trước trời đất có vẻ linh thiêng và ứng nghiệm, bởi kể từ ngày 10/11 năm đó khi hổ đến vồ bà Lạy và đưa đi mất, người dân không còn thấy hổ quay lại quấy phá nữa. Để tưởng nhớ công ơn của bà, người dân đã xây miếu thờ, sau này bà được tôn làm thành hoàng làng và miếu đó trở thành đình làng Hạ Thái và lấy ngày 10/11 hàng năm là ngày hội làng truyền thống. Đình làng Hạ Thái còn liên quan đến quan võ thời Lê Bùi Sĩ Lương (1544-1597), ông làm đến chức Thái sư kiêm Điện Tiền Chỉ Huy Sứ. Là người thông minh văn võ song toàn, ông có công lớn trong phò Lê, diệt Mạc. Khi đến Hạ Thái, nhận thấy vùng đất nơi này có thế rồng chầu hổ phục, ông đã chọn Hạ Thái để lập gia trang và dạy dân lập nghiệp, vì vậy sau khi mất, ông cũng được tôn là Thành hoàng làng. Lễ hội làng Hạ Thái diễn ra từ ngày 9 đến 11/11 âm lịch hàng năm và thu hút được đông đảo du khách thập phương về tham dự. Nguồn Sở văn hóa và thể thao thành phố Hà Nội.

Hà Nội

7640 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Chùa Đậu

Chùa Đậu

Chùa Đậu (Thường Tín, Hà Nội) được công nhận hai kỷ lục quốc gia: Là nơi có tượng nhục thân đầu tiên ở Việt Nam và sở hữu cuốn sách ghi lịch sử chùa bằng đồng có nhiều trang và cổ xưa nhất Việt Nam. Tọa lạc trên một gò đất cao giữa cánh đồng làng Gia Phúc (xã Nguyễn Trãi, huyện Thường Tín, Hà Nội), Chùa Đậu - Đệ nhất danh lam cổ tự - trong hơn 1.800 năm qua vẫn luôn trầm mặc dưới bóng những hàng cây xanh mát, xung quanh là các hồ nước bao bọc và dòng sông Nhuệ hiền hòa chảy phía sau. Chùa Đậu có tên chữ là Thành Đạo Tự hoặc Pháp Vũ Tự, dân gian thường gọi là chùa Vua, chùa Bà, hay chùa Đậu, mỗi tên gọi đều gắn với một huyền tích. Theo cuốn sách cổ bằng đồng hiện vẫn đang được lưu ở Chùa Đậu, chùa được khởi công xây dựng từ thời Sỹ Nhiếp vào thế kỷ thứ III sau Công nguyên, cùng thời điểm xuất hiện sự tích về Phật mẫu Man Nương và hệ thờ Phật Tứ Pháp (bao gồm Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi, Pháp Điện). Ban đầu, chùa có tên là Thành Đạo Tự, sau khi chùa rước Đại thánh Bồ tát Pháp Vũ (vị nữ thần cai quản mưa) về thờ thì được gọi là Pháp Vũ Tự. Thời phong kiến, ngôi chùa chủ yếu dành cho các vị vua đến lễ Phật, còn người dân chỉ được vào lễ bái khi có lễ hội nên dân gian gọi là Chùa Vua. Chùa thờ Bồ tát Pháp Vũ hiện thân là nữ nên người dân cũng gọi là chùa Bà. Ngôi chùa nổi tiếng linh thiêng, các bậc chí sỹ cầu nghiệp lớn ở đây đều thi đậu khoa bảng, công thành danh toại; người làm nông cầu mùa màng bội thu cũng được như ý nguyện nên dân gian gọi tên khác là Chùa Đậu. Dưới thời vua Lê Thần Tông (thế kỷ XVII), chùa bị xuống cấp, sau đó được trùng tu lại, uy nghiêm và khang trang hơn. Sau đó, Vua ban sắc phong chùa là “An Nam đệ nhất danh lam” tức "Danh lam số một của nước Nam." Phật tử và nhân dân quanh vùng coi là đất Phật bởi sự linh ứng mà chùa mang lại. Chùa Đậu không chỉ có địa thế tuyệt đẹp như đang ngự trên bông hoa sen đang nở, mà còn là một quần thể kiến trúc nguy nga mang những nét nghệ thuật kiến trúc đặc trưng của các vương triều Lý-Trần-Lê-Nguyễn. Đặc biệt, chùa nổi tiếng với nhục thân Bồ tát của hai vị thiền sư tu hành đắc đạo Vũ Khắc Trường và Vũ Khắc Minh. Đây là hai trường hợp cực kỳ hiếm gặp trong chặng đường tu tập Phật giáo của các bậc thiền sư trong nước và trên thế giới. Với bề dày lịch sử, lưu giữ nhiều giá trị văn hóa, kiến trúc, nghệ thuật, Chùa Đậu đã được Nhà nước xếp hạng Di tích lịch sử, nghệ thuật loại A từ năm 1964. Hai pho tượng nhục thân của hai vị thiền sư được Nhà nước công nhận là Bảo vật Quốc gia năm 2016; Chùa Đậu cũng được xác lập kỷ lục là ngôi chùa có tượng nhục thân đầu tiên tại Việt Nam. Nguồn Cổng thông tin điện tử huyện Thường Tín , thành phố Hà Nội.

Hà Nội

7564 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

×
Hỏi AI