Di tích lịch sử

Xem dạng bản đồViệt nam

Danh sách điểm di tích (1436)

Đình thần Nguyễn Trung Trực

Đình thần Nguyễn Trung Trực

Đình thần Nguyễn Trung Trực, tọa lạc tại số 8 đường Nguyễn Công Trứ, phường Rạch Giá, tỉnh An Giang, là một trong những nơi thờ Nguyễn Trung Trực sớm và quy mô lớn ở Nam Bộ. Sau khi ông hy sinh năm 1868, người dân địa phương bí mật lập nơi thờ phụng để tưởng nhớ vị anh hùng đã lãnh đạo nghĩa quân chống thực dân Pháp. Đình hiện nay có kiến trúc chữ Tam, gồm chánh điện, Đông lang và Tây lang. Cổng tam quan, mái đình, hoành phi, câu đối và các họa tiết rồng, hoa lá được trang trí công phu. Trong chánh điện, trung tâm là ngai thờ Nguyễn Trung Trực, bên cạnh thờ các nghĩa quân, các vị tiền hiền, hậu hiền và Nam Hải Đại tướng quân. Trong khuôn viên còn có mộ Nguyễn Trung Trực và phòng trưng bày các hiện vật liên quan đến cuộc khởi nghĩa. Hằng năm, từ ngày 26 đến 28 tháng 8 âm lịch, lễ hội tưởng niệm ngày hy sinh của Nguyễn Trung Trực được tổ chức trang trọng, thu hút đông đảo người dân và du khách. Lễ hội kết hợp các nghi thức truyền thống với nhiều hoạt động văn hóa, nghệ thuật và trò chơi dân gian, thể hiện lòng tôn kính đối với vị anh hùng dân tộc. Năm 1988, đền và mộ Nguyễn Trung Trực được công nhận là di tích lịch sử – văn hóa cấp quốc gia, trở thành một địa chỉ văn hóa tâm linh tiêu biểu của vùng đất Rạch Giá và Nam Bộ. Nguồn: Wikipedia

An Giang

1 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Quần thể chùa Am Các

Quần thể chùa Am Các

Chùa Am Các tọa lạc trên sườn phía Đông núi Các, thuộc xã Định Hải, huyện Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa. Được xếp hạng di tích cấp tỉnh năm 2013, nơi đây được đánh giá là một trong những quần thể công trình Phật giáo cổ có quy mô và giá trị nổi bật của xứ Thanh. Quần thể chùa Am Các gồm chùa Trình, chùa Hạ, chùa Trung, chùa Thượng, phủ Ngọc Sơn cùng nhiều dấu tích, di vật cổ như nền móng công trình, mộ các vị sư, giếng cổ, mõ đá, chuông đá và phiến đá khắc hình tượng Phật. Trong đó, chùa Hạ là trung tâm của quần thể, còn chùa Thượng nằm trên đỉnh núi Các – nơi được ví như “cổng trời”. Trải qua thời gian, nhiều công trình xưa đã bị hư hại, nhưng những dấu tích và hiện vật còn lại vẫn góp phần làm sáng rõ lịch sử phát triển của Phật giáo trên vùng đất này. Một số hạng mục đã được phục dựng, tôn tạo, đưa Am Các trở thành điểm hành hương, tham quan và tìm hiểu văn hóa – lịch sử hấp dẫn của Thanh Hóa. Nguồn: Báo Thanh Hóa

Thanh Hóa

1 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp tỉnh

Mở

Chùa Đót Tiên

Chùa Đót Tiên

Chùa Đót Tiên (Đót Tiên tự) nay thuộc xã Hải Thanh, tỉnh Thanh Hóa, nằm trên sườn núi Tiên, trong không gian cảnh quan ven biển Lạch Bạng. Cùng với đền Lạch Bạng và đền Quang Trung – Nguyễn Huệ, chùa tạo thành một quần thể di tích lịch sử, văn hóa và thắng cảnh đặc sắc của vùng biển xứ Thanh. Chùa có từ thời Lê, trải qua nhiều lần tu bổ, trong đó kiến trúc còn lại chủ yếu mang phong cách thời Nguyễn. Chùa được xây theo hình chữ “Đinh”, gồm Tiền đường và Hậu cung. Trong chùa hiện còn 26 pho tượng Phật cổ, cùng nhiều di vật có giá trị như bia đá, đại tự, câu đối và hai chuông đồng cổ. Nằm giữa không gian núi và sông biển hài hòa, chùa Đót Tiên vừa mang vẻ cổ kính, thanh tịnh, vừa gắn bó với đời sống của cư dân vùng cửa biển Lạch Bạng. Đây là nơi sinh hoạt tín ngưỡng của nhân dân và điểm đến phù hợp để tìm hiểu giá trị kiến trúc, nghệ thuật và văn hóa Phật giáo truyền thống của Thanh Hóa. Chùa Đót Tiên thuộc cụm di tích thắng cảnh Lạch Bạng được xếp hạng cấp quốc gia, có giá trị trong bảo tồn di sản và phát triển du lịch văn hóa – tâm linh địa phương. Nguồn: Chốn Thiêng – Danh bạ tâm linh đất Việt

Thanh Hóa

2 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp tỉnh

Mở

Đền thờ Đông Các Đại học sĩ Lê Nhân Quý

Đền thờ Đông Các Đại học sĩ Lê Nhân Quý

Đền thờ Đông Các Đại học sĩ Lê Nhân Quý nay thuộc phường Mai Lâm, tỉnh Thanh Hóa, là di tích gắn với một vị công thần tiêu biểu thời Lê sơ. Lê Nhân Quý quê làng Kim Cốc, từng giữ chức Đông Các Đại học sĩ, Tổng tri Ngự tiền trung quân, có công dẹp loạn Lê Nghi Dân, đưa Lê Thánh Tông lên ngôi năm 1460 và tham gia chiến dịch bình Chiêm năm 1471. Không chỉ có công với triều đình, ông còn được biết đến với việc tổ chức đắp đê Hoàng Các, khai khẩn vùng đất ven biển, góp phần ổn định sản xuất và đời sống nhân dân. Sau khi qua đời, ông được nhân dân tôn làm Thành hoàng và lập đền thờ. Cụm di tích gồm đền thờ, mộ phần trên núi Tháp và dấu tích đê Hoàng Các. Đền được xây dựng từ cuối thế kỷ XV, mang kiến trúc truyền thống, hiện còn lưu giữ nhiều hoành phi, câu đối, sắc phong và đồ tế lễ có giá trị. Mộ ông nằm trên núi Tháp, là nơi người dân duy trì việc hương khói, tưởng niệm. Đê Hoàng Các là dấu tích quan trọng gắn với công lao trị thủy, khai hoang của Lê Nhân Quý, từng có vai trò ngăn mặn, rửa phèn và tạo đất sản xuất cho cư dân vùng ven biển. Với những giá trị lịch sử, văn hóa và kiến trúc, cụm di tích là điểm đến phù hợp để tìm hiểu về nhân vật lịch sử Lê Nhân Quý, truyền thống khoa bảng và quá trình khai phá vùng đất ven biển xứ Thanh. Nguồn: Tạp chí Người Hà Nội

Thanh Hóa

1 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp tỉnh

Mở

Dinh Cô

Dinh Cô

Dinh Cô nay thuộc xã Long Hải, Thành phố Hồ Chí Minh, là di tích lịch sử – văn hóa gắn với tín ngưỡng biển của cư dân địa phương. Theo truyền thuyết, Dinh Cô thờ Lê Thị Hồng, tục gọi Thị Cách, một cô gái quê Bình Định tử nạn trên biển khi mới 17 tuổi. Thi hài được người dân chôn trên đồi Cô Sơn. Sau đó, dân gian truyền rằng cô nhiều lần hiển linh, phù trợ ngư dân vượt qua tai nạn, dịch bệnh nên người dân lập miếu thờ, tôn xưng là Long Hải Thần nữ. Dinh Cô ban đầu là một ngôi miếu nhỏ ven biển, sau được di dời lên chân núi Thùy Vân và xây dựng kiên cố hơn. Quần thể hiện gồm điện thờ Cô dưới chân núi và mộ Cô trên đồi Cô Sơn. Chính điện có kiến trúc mang nét đình, chùa truyền thống với nhiều họa tiết rồng, hổ, lưỡng long chầu nguyệt và hệ thống tượng, ban thờ phong phú. Hằng năm, lễ hội Dinh Cô diễn ra từ ngày 10 đến 12 tháng 2 âm lịch, gồm các nghi lễ nghinh Bà Thủy thần, nghinh Ông, lễ cúng Cô, hát bả trạo, xây chầu đại bội cùng nhiều trò chơi dân gian. Lễ hội thể hiện lòng biết ơn các vị thần được cư dân biển tôn kính và ước vọng mưa thuận gió hòa, quốc thái dân an, ngư dân ra khơi bình an, đánh bắt thuận lợi. Dinh Cô được công nhận là di tích lịch sử – văn hóa cấp quốc gia năm 1995, là điểm đến tiêu biểu để tìm hiểu đời sống tín ngưỡng và văn hóa biển Nam Bộ. Nguồn: Báo điện tử Pháp luật Việt Nam

TP Hồ Chí Minh

16 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Đình thần Long Khánh

Đình thần Long Khánh

Đình thần Long Khánh (hay Long Khánh Cổ Miếu) là một trong những ngôi đình cổ kính và linh thiêng bậc nhất vùng đất cù lao thuộc xã Long Khánh A, huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp. Được xây dựng lần đầu từ năm 1830 bằng tre lá đơn sơ, đình là nơi thờ Thành hoàng bổn cảnh và vinh dự được vua Tự Đức ban sắc phong vào năm 1852. Sau nhiều lần di dời do ảnh hưởng sạt lở của dòng sông Tiền, ngôi đình hiện nay được tái thiết tôn tạo hoàn chỉnh vào cuối năm 2011 với quy mô bề thế gồm 114 cột gỗ căm xe và mái ngói âm dương vững chãi. Về kiến trúc, Đình Long Khánh mang đậm dấu ấn giao thoa văn hóa Việt - Hoa qua nghệ thuật chạm khắc gỗ tinh xảo. Ngôi đình được xây dựng theo lối "trùng thềm - điệp ốc" truyền thống. Bước vào bên trong, du khách sẽ bị ấn tượng bởi hệ thống cột gỗ to lớn, các bức hoành phi, câu đối sơn son thếp vàng, và các bao lam chạm trổ rồng phụng vô cùng sống động. Không chỉ là nơi sinh hoạt tâm linh, ngôi đình này còn gánh vác những lát cắt lịch sử quan trọng. Nơi đây từng là điểm dừng chân của Cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc để truyền bá tư tưởng yêu nước, và từng trở thành quân y viện điều trị cho bộ đội ta trong những năm tháng chiến tranh biên giới Tây Nam năm 1978. Hàng năm, lễ hội Kỳ Yên tại đình (diễn ra vào tháng Giêng âm lịch) luôn là ngày hội lớn nhất của vùng cù lao, thu hút hàng ngàn người dân và du khách về chiêm bái, cầu mong quốc thái dân an, mưa thuận gió hòa. Nguồn: Bảo tàng Đồng Tháp

Đồng Tháp

14 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Đền thờ Thượng tướng Quận công Trần Văn Năng

Đền thờ Thượng tướng Quận công Trần Văn Năng

Đền thờ Thượng tướng Quận công Trần Văn Năng, còn được nhân dân địa phương gọi là Dinh Ông – Đốc Vàng, tọa lạc bên sông Tiền, tại khu vực vàm rạch Đốc Vàng. Đây là di tích lịch sử – văn hóa gắn với cuộc đời và sự nghiệp của Trần Văn Năng, một võ tướng có nhiều đóng góp trong công cuộc bảo vệ và mở mang vùng đất phía Nam dưới triều Nguyễn. Trần Văn Năng (1763–1835) từng giữ nhiều chức vụ quan trọng trong quân đội nhà Nguyễn. Đầu năm 1835, sau khi tham gia chiến dịch tại Nam Vang, ông lâm bệnh nặng và giao binh quyền cho Trương Minh Giảng. Trên đường trở về nước, khi đến Bến Siêu, nay thuộc khu vực Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp, ông qua đời ở tuổi 72. Thi hài được đưa về khu vực vàm rạch Đốc Vàng, nơi các quan chức, bô lão và nhân dân địa phương lập miếu thờ để tưởng nhớ vị tướng có công. Trải qua hơn một thế kỷ, nơi thờ tự được các thế hệ nhân dân gìn giữ và tôn tạo, trở thành không gian tín ngưỡng và tưởng niệm nhân vật lịch sử. Việc thờ phụng Trần Văn Năng thể hiện truyền thống “Uống nước nhớ nguồn”, ghi nhớ công lao của những người đã góp phần bảo vệ vùng biên giới Tây Nam và sự bình yên của đất nước. Hằng năm, lễ tưởng niệm được tổ chức trong ba ngày 14, 15 và 16 tháng 2 âm lịch, thu hút đông đảo người dân địa phương và du khách từ nhiều nơi về dâng hương, tưởng niệm. Các hoạt động tín ngưỡng tại lễ hội thể hiện mong ước về quốc thái dân an, mưa thuận gió hòa, cuộc sống bình an và no ấm. Không gian đền nằm giữa cảnh quan sông nước đặc trưng của vùng Đồng Tháp, cùng hệ thống vườn cây, cồn bãi ven sông, tạo nên điểm đến kết hợp giữa tham quan, tìm hiểu lịch sử và sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng. Nguồn: Trang thông tin Di tích lịch sử, văn hóa.

Đồng Tháp

16 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Chùa Giác Viên

Chùa Giác Viên

Chùa Giác Viên tọa lại trên đường Lạc Long Quân, phường Bình Thới, Thành phố Hồ Chí Minh, là một trong những ngôi chùa cổ tiêu biểu của vùng Gia Định – Sài Gòn, có lịch sử hình thành gắn liền với quá trình xây dựng và trùng tu chùa Giác Lâm. Tiền thân của chùa là Quan Âm Viện, được dựng năm 1805 tại khu vực bến Hố Đất. Đến năm 1850, Quan Âm Viện được đổi tên thành chùa Giác Viên. Trải qua nhiều lần trùng tu, ngôi chùa từng bước hoàn thiện diện mạo kiến trúc và nghệ thuật như ngày nay. Chùa Giác Viên mang phong cách kiến trúc Phật giáo Nam Bộ, kết hợp hài hòa giữa nét cổ truyền với một số ảnh hưởng phương Tây trong trang trí mặt tiền. Tuy nhiên, giá trị nổi bật nhất của di tích nằm ở hệ thống tượng thờ, bao lam, hoành phi, câu đối và phù điêu bằng gỗ được chế tác công phu, đặc biệt tập trung vào cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX. Chùa hiện còn lưu giữ 153 pho tượng gỗ, trong đó có nhiều bộ tượng có giá trị nghệ thuật cao như Thập bát La Hán, Thập điện Diêm Vương và bộ Phật cùng Tứ chúng. Các pho tượng thể hiện rõ phong cách tạo hình phóng khoáng, gần gũi với đời sống cư dân Nam Bộ. Đặc sắc hơn cả là hệ thống 58 bao lam với nhiều đề tài phong phú. Bao lam Bá Điểu nổi bật bởi nghệ thuật chạm lộng tinh xảo, tái hiện gần 100 loài chim với nhiều tư thế sinh động. Bên cạnh các hình tượng quen thuộc như long, lân, quy, phụng, nghệ nhân còn đưa vào tác phẩm những hình ảnh gần gũi với đời sống như trâu, bò, dê, heo, chó, chim chóc, hoa lá và cây trái. Những hình ảnh dân dã này tạo nên sắc thái riêng, thể hiện rõ quá trình Nam Bộ hóa nghệ thuật trang trí Phật giáo. Chùa còn có hệ thống 128 câu đối cùng nhiều phù điêu chạm khắc trên các thân cột và kiến trúc gỗ. Đề tài phong phú, từ Tứ linh, Bát Tiên, Thập bát La Hán đến hoa lá, chim muông, cây trái và các loài vật quen thuộc. Qua đó, nghệ thuật chạm khắc không chỉ phục vụ nhu cầu tín ngưỡng mà còn phản ánh đời sống, tâm tư và quan niệm thẩm mỹ của cư dân vùng đất Gia Định xưa. Nguồn: Diễn đàn Phật tử Việt Nam

TP Hồ Chí Minh

12 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Tòa thánh Cao Đài Ban Chỉnh Đạo

Tòa thánh Cao Đài Ban Chỉnh Đạo

Tòa thánh Cao Đài Ban Chỉnh Đạo nằm tại số 100C, đường Trương Định, phường Sơn Đông, tỉnh Vĩnh Long, bên dòng sông Hàm Luông. Đây là cơ sở thờ tự trung ương của Hội thánh Cao Đài Ban Chỉnh Đạo, hệ phái tôn giáo nội sinh lớn thứ hai của đạo Cao Đài tại Việt Nam. Ngôi Đền Thánh hiện nay được khởi công xây dựng quy mô lớn từ năm 1947 trên nền tảng của Thánh thất An Hội cổ kính sau những năm tháng thăng trầm của lịch sử. Tòa thánh có kiến trúc giao thoa Đông – Tây độc đáo, tọa lạc trên một khuôn viên rộng hơn 7.000 m², phía trước và xung quanh là hệ thống sân lễ và những hàng cây xanh mát. Bên trong Đền Thánh, không gian kiến trúc được thiết kế tôn nghiêm với các cột rồng đắp nổi tinh xảo và biểu tượng Thiên Nhãn đại diện cho đức Chí Tôn. Hệ thống mái vòm và cờ đạo mang ba sắc màu đặc trưng, lưu giữ trọn vẹn triết lý "Tam giáo quy nguyên" của Phật, Lão, Nho cùng hệ thống sắc phục, vật dụng hành lễ truyền thống của các bậc chức sắc tiền bối. Đặc biệt, trong khuôn viên còn có Diêu Trì Bửu Điện thờ Đức Kim Mẫu và vườn Kỳ Thọ – nơi tịnh luyện thanh tịnh gắn liền với những năm tháng hành đạo của Đức Giáo tông Nguyễn Ngọc Tương. Nhiều công trình phụ trợ và các vườn cây xung quanh cũng được các thế hệ chức sắc, tín đồ chăm sóc và lưu giữ qua gần một thế kỷ. Không chỉ là một công trình kiến trúc nghệ thuật đặc sắc, Tòa thánh còn thể hiện tinh thần đạo pháp đồng hành cùng dân tộc khi từng là cơ sở cách mạng vững chắc, che chở cho nhiều cán bộ chiến sĩ trong các cuộc kháng chiến cứu nước. Ngày nay, nơi đây trở thành địa chỉ đỏ về lịch sử, văn hóa, thu hút đông đảo du khách đến tham quan, chiêm ngưỡng và tìm hiểu về nét đẹp tôn giáo bản địa của vùng đất Nam Bộ. Nguồn: Cổng thông tin điện tử Hội thánh Cao Đài Ban Chỉnh Đạo.

Vĩnh Long

16 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp tỉnh

Mở

Nhà lưu niệm Đại tướng Võ Nguyên Giáp

Nhà lưu niệm Đại tướng Võ Nguyên Giáp

Nhà lưu niệm Đại tướng Võ Nguyên Giáp nằm tại làng An Xá, thôn An Lạc, xã Lệ Thủy, tỉnh Quảng Trị, bên dòng Kiến Giang. Đây là nơi Đại tướng Võ Nguyên Giáp cất tiếng khóc chào đời và có những năm tháng tuổi thơ gắn bó với gia đình, quê hương. Ngôi nhà hiện nay được phục dựng trên nền đất cũ sau khi bị thực dân Pháp đốt phá năm 1947. Nhà có kiến trúc truyền thống ba gian, hai chái, làm bằng các loại gỗ từ quê hương Lệ Thủy, phía trước và xung quanh là khu vườn rộng, xanh mát. Bên trong nhà, gian giữa đặt bàn thờ tổ tiên và ảnh thân sinh của Đại tướng; các gian còn lại lưu giữ những vật dụng quen thuộc của gia đình như bàn, giường, tủ, rương, cày, bừa, cuốc, xẻng cùng nhiều hình ảnh về cuộc đời và sự nghiệp của Đại tướng. Đặc biệt, trong khuôn viên có cây khế hơn 100 năm tuổi, nơi gắn với những kỷ niệm học tập và vui chơi của Đại tướng khi còn nhỏ. Nhiều loại cây khác cũng được Đại tướng và đồng bào, chiến sĩ cả nước trồng trong những lần về thăm quê. Không chỉ là nơi lưu giữ những kỷ niệm đời thường, Nhà lưu niệm còn thể hiện tình cảm sâu nặng của Đại tướng với quê hương và sự kính trọng, yêu mến của nhân dân dành cho ông. Ngày nay, nơi đây trở thành địa chỉ đỏ về lịch sử, văn hóa, thu hút đông đảo du khách đến dâng hương, tham quan và tìm hiểu về tuổi thơ của vị Đại tướng của nhân dân. Nguồn: Báo Quân đội nhân dân

Quảng Trị

29 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Chùa An Xá

Chùa An Xá

Chùa An Xá nay thuộc thôn An Xá, xã Lệ Thủy, tỉnh Quảng Trị, nằm cạnh quê nhà của Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Đây không chỉ là một ngôi chùa cổ mà còn là di tích lịch sử – văn hóa và di tích cách mạng, gắn với nhiều sự kiện quan trọng của quê hương trong những năm đấu tranh giành độc lập. Chùa được xây dựng khoảng đầu thế kỷ XX, theo Phật giáo Đại thừa. Trong các cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, chùa nhiều lần bị tàn phá bởi chiến tranh và được nhân dân tu bổ. Đặc biệt, ngày 2/7/1945, tại đây diễn ra hội nghị đại biểu các Đảng bộ trong toàn tỉnh Quảng Bình, bàn bạc và thống nhất công tác chuẩn bị cho Tổng khởi nghĩa giành chính quyền tháng Tám năm 1945. Về kiến trúc, Chùa An Xá mang nét đặc trưng của chùa cổ Việt Nam, nổi bật với bình phong hình mặt rồng, đôi hạc đứng trên lưng rùa cùng các họa tiết tứ linh long, ly, quy, phụng. Những chi tiết này thể hiện giá trị nghệ thuật và tín ngưỡng truyền thống của người Việt. Chùa được Nhà nước xếp hạng Di tích lịch sử – văn hóa cấp Quốc gia năm 1992. Đặc biệt, năm 1999, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã tự tay trồng một cây đa trong khuôn viên chùa. Cây đa ngày nay trở thành dấu ấn gắn với tình cảm của Đại tướng dành cho quê hương. Nguồn: Chốn Thiêng – Danh bạ tâm linh đất Việt

Quảng Trị

45 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Địa điểm ghi dấu Phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh

Địa điểm ghi dấu Phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh

Địa điểm ghi dấu Phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh (1930–1931) tại Nghệ An. Phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh (1930–1931) là cao trào cách mạng đầu tiên do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, ghi dấu tinh thần đấu tranh kiên cường của công nhân, nông dân Nghệ An trong những năm đầu của cách mạng. Quần thể di tích gồm 9 địa điểm tiêu biểu, gắn với những sự kiện quan trọng của phong trào như: Ngã ba Bến Thủy, nơi diễn ra cuộc đấu tranh của công nhân, nông dân ngày 1/5/1930; Đình Võ Liệt, từng là trụ sở của chính quyền Xô viết; địa điểm cuộc thảm sát ngày 12/9/1930 tại Hưng Nguyên; Mộ các liệt sĩ Xô viết Nghệ Tĩnh hy sinh ngày 7/11/1930 tại Diễn Châu; Nơi xử bắn 72 chiến sĩ Xô viết Nghệ Tĩnh tại Vân Tụ; cùng các di tích Đình Tám Mái, Đình Trung, Đình Lương Sơn và nhà cụ Vi Văn Khang. Không chỉ lưu giữ những chứng tích lịch sử, các di tích còn phản ánh sự chuyển biến của đời sống xã hội Nghệ An thời kỳ cách mạng. Những ngôi đình làng, nhà dân từng là nơi sinh hoạt cộng đồng đã trở thành địa điểm hội họp, tuyên truyền, tổ chức và xây dựng chính quyền cách mạng. Các công trình tưởng niệm, tượng đài, phù điêu cũng góp phần tái hiện khí thế đấu tranh và sự hy sinh của các thế hệ đi trước. Nguồn: Cục Di sản văn hóa

Hà Tĩnh

28 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia đặc biệt

Mở

Đình Tân Khai

Đình Tân Khai

Đình Tân Khai, còn gọi là đình Thái Cam, nằm tại số 44 phố Hàng Vải, khu vực phố cổ Hà Nội. Theo văn bia, đình được dựng vào năm Minh Mệnh thứ 3 (1822), cùng thời điểm xây dựng chùa Thái Cam. Đình thờ ba vị Thành hoàng là thần Tô Lịch, thần Bạch Mã và thần Thiết Lâm – những vị thần gắn với quá trình hình thành kinh đô Thăng Long và được nhân dân tôn là những vị thần bảo hộ kinh thành. Trong đó, thần Tô Lịch là vị Thành hoàng tiêu biểu của kinh đô; thần Bạch Mã, hay Long Đỗ, gắn với đền Bạch Mã; còn thần Thiết Lâm được cho là bắt nguồn từ tín ngưỡng thờ các lực lượng tự nhiên của người Việt cổ. Trải qua gần hai thế kỷ, đình Tân Khai đã có nhiều thay đổi. Nhà Tiền tế không còn, hiện di tích chủ yếu còn Hậu cung xây theo kiểu chữ Công, cùng sân đình và cổng chung với chùa Thái Cam. Trên cổng có cuốn thư ghi bốn chữ Hán “Tân Khai Linh Từ”. Không chỉ mang giá trị kiến trúc, đình còn là nơi lưu giữ những dấu ấn về tín ngưỡng dân gian và lịch sử Thăng Long, thể hiện lòng tôn kính của người dân đối với các vị thần bảo hộ kinh đô. Nguồn: Tạp chí Người Hà Nội

Hà Nội

69 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Đình thần Tân Khai

Đình thần Tân Khai

Đình thần Tân Khai hiện nay tọa lạc tại phường Tân Khai, tỉnh Đồng Nai. Đình được xây dựng năm 1901, do những cư dân đầu tiên từ vùng Tân Khánh - Bà Trà di cư đến khai phá, lập nghiệp. Sau khi dựng đình, người dân rước Thành hoàng từ Đình thần Bưng Cù về thờ, đồng thời thờ các bậc Tiền hiền, Hậu hiền. Trong những năm kháng chiến chống Mỹ, đình nhiều lần bị bom đánh sập và phải 11 lần di dời, trong đó có 7 lần được xây dựng kiên cố. Qua nhiều biến động lịch sử, đình ngày nay gồm các hạng mục chính như Chánh điện, Nhà giảng, Đông lang và Bình phong, trên khuôn viên hơn 2.700m². Đình thần Tân Khai không chỉ là nơi sinh hoạt tín ngưỡng mà còn lưu giữ nhiều phong tục, lễ hội truyền thống. Hằng năm có Lễ Kỳ Yên ngày 18 tháng 3 âm lịch, Lễ Cầu Bông ngày 18 tháng 8 âm lịch và lễ hội chọi trâu. Đặc biệt, trâu sau khi thi đấu dù thắng hay thua đều không bị giết thịt mà được tiếp tục chăm sóc để phục vụ sản xuất và nhân giống. Với những giá trị lịch sử, văn hóa và tín ngưỡng đặc sắc, Đình thần Tân Khai là một di sản tiêu biểu của vùng đất Tân Khai, được xếp hạng Di tích lịch sử cấp tỉnh năm 2014. Nguồn: Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Đồng Nai

Đồng Nai

52 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp tỉnh

Mở

Đình làng Phú Lương

Đình làng Phú Lương

Đình làng Phú Lương, xã Quảng Phú Cầu, huyện Ứng Hòa nay là xã Thượng Phúc, Hà Nội, là Di tích lịch sử - văn hóa Quốc gia, được xếp hạng từ năm 1993. Đình là trung tâm sinh hoạt tín ngưỡng, văn hóa của cộng đồng địa phương và gắn với nhiều giá trị lịch sử, nghệ thuật đặc sắc. Đình thờ tướng Bạch Lợi, danh tướng thời Hùng Vương thứ 18. Theo truyền thuyết, ông cùng Tản Viên Sơn Thánh, Cao Sơn và Quý Minh có công đánh giặc Thục, bảo vệ bờ cõi. Trong cuộc hành quân, Bạch Lợi chọn Phú Lương làm nơi đóng quân và hóa tại đây. Để tưởng nhớ công lao của ông, người dân lập đình và tôn làm Thành hoàng làng. Di tích hiện còn lưu giữ thần phả niên hiệu Hồng Phúc năm thứ 3 (1674) cùng 7 đạo sắc phong. Về kiến trúc, đình được xây theo kiểu chữ Đinh, gồm 5 gian đại bái và 3 gian hậu cung. Nổi bật là những mảng chạm khắc gỗ tinh tế với các đề tài tứ linh, tứ quý và “long ngư hí thủy”, thể hiện vẻ đẹp sinh động của nghệ thuật kiến trúc đình làng truyền thống. Hằng năm, vào mùng 7 tháng Giêng, lễ hội đình được tổ chức với nghi thức rước thần, rước Mẫu cùng nhiều trò chơi dân gian như đấu vật, đánh đu, bắt vịt, đấu gà. Nguồn: Tạp chí Người Hà Nội

Hà Nội

91 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Đình Phú Diễn (Đại Thanh)

Đình Phú Diễn (Đại Thanh)

Đình Phú Diễn Nằm tại xã Hữu Hòa, huyện Thanh Trì, bây giờ là xã Đại Thanh, TP Hà Nội. Đình Phú Diễn là di tích lịch sử, kiến trúc nghệ thuật gắn với những dấu ấn quan trọng của vùng đất địa phương. Đình thờ hai Thành hoàng làng là vua Lê Đại Hành và tướng Trần Thông, người quê Phú Diễn. Theo truyền thuyết, trên đường hành quân lên phía Bắc chống giặc, vua Lê Đại Hành từng dừng chân săn bắn tại vùng đất này. Để ghi nhớ sự kiện, làng từng mang tên “Đại Hành”. Đình hiện còn lưu giữ thần phả “Phú Diễn Lê đế phả lục”, do Nguyễn Bính soạn năm 1572 và được sao lại năm 1710, ghi chép về cuộc đời, sự nghiệp của vua Lê Đại Hành. Đình có quy mô không lớn nhưng mang nhiều nét kiến trúc và nghệ thuật đặc sắc. Đại đình gồm 5 gian, phía sau là hậu cung 2 gian. Các cấu kiện gỗ được chạm khắc hình rồng, lá, vân mây và nhiều đề tài tứ linh, tứ quý. Trong khuôn viên còn có các cột biểu, nghê đá, hổ đá, tạo nên vẻ cổ kính và linh thiêng cho di tích. Đình hiện bảo lưu nhiều cổ vật quý như tượng thú đá, hạc gỗ, kiệu, long ngai, hương án, bát hương, bát bửu, 10 đạo sắc phong, thần phả và các bia cổ. Hằng năm, lễ hội diễn ra từ ngày 7 đến 9 tháng 3 âm lịch, với nhiều hoạt động dân gian như múa rồng, đấu vật, bơi chải, ca trù, múa rối nước và các trò chơi truyền thống. Nguồn: Hà Nội Danh thắng và Di tích

Hà Nội

106 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Đình làng Phú Diễn

Đình làng Phú Diễn

Đình làng Phú Diễn Nằm tại làng Phú Diễn, phường Từ Liêm, thành phố Hà Nội, đình làng Phú Diễn là di tích kiến trúc nghệ thuật tiêu biểu, gắn với lịch sử hình thành và truyền thống văn hóa của vùng đất Phú Diễn xưa. Đây cũng là một vùng quê nổi tiếng với truyền thống hiếu học, từng có hai vị Tiến sĩ cùng nhiều người đỗ đạt qua các triều đại. Đình thờ Bạch Hạc Tam Giang, tức tướng Đào Trường, nhân vật được truyền thuyết gắn với thời Hùng Vương, có công chỉ huy thủy quân đánh giặc, bảo vệ đất nước. Trải qua thời gian, hình tượng vị Thành hoàng trở thành biểu tượng gắn kết cộng đồng và được nhân dân Phú Diễn tôn kính, phụng thờ. Về kiến trúc, đình được xây theo kiểu chữ “Công”, gồm đại đình, ống muống và hậu cung. Đại đình 5 gian, hậu cung 3 gian, các cấu kiện gỗ được chạm khắc công phu với những đề tài quen thuộc của nghệ thuật truyền thống như tứ linh, tứ quý, rồng, hoa lá và cảnh sinh hoạt dân gian. Những đường nét chạm khắc không chỉ tạo nên vẻ đẹp cho công trình mà còn phản ánh quan niệm thẩm mỹ và đời sống tinh thần của cư dân vùng đồng bằng Bắc Bộ. Đình hiện còn lưu giữ nhiều di vật có giá trị như sắc phong, thần phả, bia đá, long ngai, kiệu, hạc, hương án, hoành phi, câu đối và cửa võng. Hằng năm, lễ hội đình được tổ chức vào ngày 14 và 15 tháng 3 âm lịch, với nghi thức rước kiệu, lấy nước tại giếng cổ cùng nhiều hoạt động văn hóa truyền thống. Với sự kết hợp hài hòa giữa giá trị lịch sử, tín ngưỡng và nghệ thuật kiến trúc, đình làng Phú Diễn không chỉ là nơi tưởng nhớ Thành hoàng mà còn là một không gian lưu giữ ký ức, truyền thống và bản sắc văn hóa của làng Phú Diễn trong dòng chảy lịch sử Thăng Long – Hà Nội. Nguồn: Báo và Phát thanh, Truyền hình Hà Nội

Hà Nội

109 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Đền Xám

Đền Xám

Nằm tại thôn Lạc Đạo, xã Hồng Quang, phường Nam Định, tỉnh Ninh Bình, Đền Xám, còn gọi là Đình Xám hay Đình Hát, là nơi thờ Phụ dực quốc chính Thượng tướng quân Trần Minh Công, tên thật là Trần Lãm – người có công giúp Đinh Bộ Lĩnh dẹp loạn 12 sứ quân, góp phần thống nhất đất nước. Đền Xám có lịch sử lâu đời, với kiến trúc và nghệ thuật được hình thành, bổ sung qua nhiều thời kỳ, từ thời Mạc, Hậu Lê đến triều Nguyễn. Công trình gồm đền chính, tiền đường, trung đường, chính tẩm và hai nhà giải vũ. Nổi bật là hệ thống chạm khắc gỗ tinh xảo với các hình tượng rồng, phượng, nghê, hổ phù cùng nhiều loài muông thú và hoa lá, thể hiện rõ đặc trưng nghệ thuật kiến trúc gỗ truyền thống thế kỷ XVI–XVII. Không chỉ có giá trị về kiến trúc, Đền Xám còn lưu giữ những nét văn hóa dân gian đặc sắc. Hằng năm, lễ hội được tổ chức vào ngày 17–19 tháng 8 âm lịch với các hoạt động hát, múa dân gian và thi bơi chải. Đặc biệt, địa phương vẫn bảo tồn 10 khúc hát và 10 bài ca trù cổ cùng nhiều điệu múa truyền thống. Chính những hoạt động văn hóa này đã tạo nên tên gọi “Đình Hát” của di tích. Nguồn: Báo Nhân Dân

Ninh Bình

94 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia đặc biệt

Mở

Di tích nổi bật

Xem tất cả
Khu di tích Láng Le Bàu Cò

Khu di tích Láng Le Bàu Cò

Khu di tích Láng Le Bàu Cò tọa lạc tại xã Tân Nhựt, huyện Bình Chánh, Tp HCM. Láng Le Bàu Cò gắn liền với cuộc kháng chiến chống Pháp xâm lược vào năm 1948 với những trận đánh lớn đi vào lịch sử. Di tích Láng Le Bàu Cò được công nhận là di tích lịch sử cấp thành phố vào năm 2003. Sở dĩ được gọi tên là khu di tích Láng Le Bàu Cò vì Tên gọi của khu di tích Láng Le Bàu Cò là do người dân địa phương đặt ra. Xóm làng được thành lập cạnh những con kênh rạch chằng chịt và dòng sông. Láng Le Bàu Cò có vị trí nằm ở bên trong cánh đồng có diện tích rộng lớn và có rất nhiều tôm, cua, cá. Cùng với nhiều loài chim như vịt trời, cò, con le le, cúm núm, cồng cộc, đa đa, diệc, đỏ nách tới kiếm ăn tại đây. Vì vậy, người dân Tân Nhựt gọi với cái tên thân thuộc và mộc mạc đó là Láng Le Bàu Cò. Di tích Láng Le Bàu Cò được xem là cửa ngõ để di chuyển tới trung tâm căn cứ Vườn Thơm và tấn công cơ quan đầu não của quân địch tại Sài Gòn. Trước đây khu di tích Láng Le Bàu Cò vốn là cánh đồng lau sậy mọc um tùm. Vào ngày 15/4/1948 thực dân Pháp đưa 3 nghìn quân lính cùng nhiều vũ khí hiện đại đồng loạt tấn công khu vực Láng Le Bàu Cò nhằm tiêu diệt căn cứ Vườn Thơm. Khi đó lực lượng vũ trang cách mạng ở Láng Le - Bàu vì lực lượng nhỏ và vũ khí thô sơ tuy nhiên được sự giúp đỡ của người dân địa phương cùng với lợi thế về địa hình. Chỉ sau hơn nửa ngày đấu tranh đã chuyển sang tấn công khiến quân Pháp bị thương vong với số lượng lớn. Chiến thắng Láng Le Bàu Cò đã tiêu diệt 300 tên địch và bắt sống 30 lính đánh thuê cùng phá hủy nhiều máy móc, xe nhà binh, súng các loại của quân giặc. Tuy nhiên, về phía ta có nhiều cán bộ chiến sĩ đã anh dũng hy sinh với tuổi đời còn rất trẻ. Ngày 14/10/1966 tại Láng Le tiểu đoàn biệt động quân Việt Nam Cộng Hòa bị dân quân du khách tiêu diệt. Khu di tích Láng Le Bàu Cò có ý nghĩa lịch sử to lớn đối với người dân Sài Gòn nói riêng và cả nước nói chung. Trước lòng căm thù thực dân Pháp, quân dân Láng Le Bàu Cò đã có cuộc chiến vang lừng lịch sử và có ý nghĩa to lớn mở đầu cho phía ta và phía địch. Đối với phía ta trận đánh mở đầu cho sự anh dũng trong tư thế kháng chiến vững mạnh. Còn với quân địch đã phải lùi vào thế bỏ chiến lược và bị tiêu diệt. Thực dân Pháp không còn định hình được chiến lược đánh bại Việt Minh. Hơn thế, tại căn cứ Vườn Thơm, Láng Le Bàu Cò còn diễn ra trận chiến quyết tâm bảo vệ căn cứ của ta và đập tan mọi kế hoạch phá hoại của quân giặc. Khu di tích Láng Le Bàu Cò sau phong trào Đồng Khởi vào năm 1960 còn là hậu cần, bàn đạp của lực lượng vũ trang để giải phóng Long An - Sài Gòn - Gia Định. Để tưởng nhớ sự hy sinh của đồng bào và các chiến sĩ của ta, vào năm 1988 huyện Bình Chánh đã xây dựng công trình lịch sử tại vùng đất Láng Le Bàu Cò với diện tích rộng 1000m2. Nguồn: Báo thông tin điện tử TP Hồ Chí Minh

TP Hồ Chí Minh

17990 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp thành phố

Mở

Di Tích Lịch Sử Nhà Lao Tân Hiệp

Di Tích Lịch Sử Nhà Lao Tân Hiệp

Nhà lao Tân Hiệp còn có tên là "Trung tâm cải huấn Tân Hiệp" tọa lạc ở khu phố 6, phường Tân Tiến, TP Biên Hòa. Di tích Nhà lao Tân Hiệp đã được Bộ Văn Hoá Thể Thao xếp hạng là di tích cấp quốc gia ngày 15-1-1994. Nhà lao Tân Hiệp là một trong sáu nhà tù lớn nhất miền Nam Việt Nam và là nhà tù lớn nhất vùng Đông Nam bộ, được xây dựng ở vị trí quân sự quan trọng, án ngữ phía đông bắc thị xã Biên Hòa. Phía trước là quốc lộ 1; phía sau là đường xe lửa Bắc - Nam. Đây là vị trí biệt lập, thuận tiện trong giao thông, dễ dàng cho việc bảo vệ, canh gác, nhận tù từ nơi khác đến và chuyển tù đi Côn Đảo, Phú Quốc... Nhà lao Tân Hiệp có diện tích 46.520m2 với 8 trại giam, trong đó có 5 trại giam những người tù cộng sản, người yêu nước. Xung quanh nhà tù được bao bọc bởi 4 lớp kẽm gai bùng nhùng với 9 lô cốt, 3 tháp canh cùng đội lính bảo vệ và hệ thống báo động tối tân. Mang tên "Trung tâm cải huấn" nhưng thực chất bên trong là kho súng, phòng xét hỏi, tra tấn với những dụng cụ hiện đại bậc nhất. Mỗi trại giam chỉ có diện tích gần 200m2 nhưng giam giữ từ 300-400 người, có lúc lên đến cả ngàn người. Đặc biệt ở đây có các phòng "cải hối", "chuồng cọp" rất nhỏ hẹp và điều kiện sinh hoạt cực kỳ khắc nghiệt, tù nhân sống chẳng khác gì trong lò thiêu xác. Chế độ ăn uống cực kỳ mất vệ sinh, bọn cai ngục mua gạo mục, cá thối dùng để bón ruộng, chiên bằng dầu luyn cho tù nhân ăn dẫn đến nhiều người bị ngộ độc. Với quyết tâm thoát khỏi nhà tù đế quốc, trở về với Đảng, với nhân dân để tiếp tục chiến đấu, giải phóng dân tộc, ngày 2-12-1956, được sự nhất trí của Liên Tỉnh ủy miền Đông, những chiến sĩ cộng sản bị "câu lưu" trong nhà lao Tân Hiệp dưới sự chỉ đạo trực tiếp của đồng chí Nguyễn Trọng Tâm (Bảy Tâm) - phụ trách Đảng ủy nhà tù và một số đồng chí khác đã bất thần làm một cuộc phá xiềng tập thể giải thoát gần 500 đồng chí, đồng bào yêu nước. Sự kiện này đã làm xôn xao cả Lầu Năm Góc. Mỹ - Diệm vội vã huy động cả quân chủ lực lẫn bảo an, dân vệ đang trấn thủ 3 tỉnh Biên Hòa, Bà Rịa, Thủ Dầu Một và hai biệt đoàn biệt động quân đến bủa lưới bao vây, truy bắt đoàn tù nhưng đều thất bại. Các đồng chí, đồng bào của ta thoát khỏi nhà lao Tân Hiệp đã được sự giúp đỡ, che chở của các cơ sở địa phương, trở về căn cứ an toàn. Trong số tù nhân vượt ngục có các đồng chí: Bảy Tâm, Hai Thông, Lý Văn Sâm... đã trở thành những hạt nhân nòng cốt cho phong trào Đồng Khởi sau này. Năm 2001, để tái hiện phần nào tội ác của Mỹ - Diệm đối với các đồng chí, đồng bào ta bị giam cầm tại nhà lao Tân Hiệp và diễn tả lại toàn bộ cuộc nổi dậy phá khám Tân Hiệp ngày 2-12-1956, Bảo tàng Đồng Nai đã tiến hành sưu tầm hình ảnh, tài liệu, hiện vật trưng bày tại di tích và làm một sa bàn để phục vụ nhu cầu nghiên cứu, tham quan của mọi tầng lớp nhân dân. Hàng ngày, di tích luôn mở cửa đón khách tham quan. Nguồn: Báo Đồng Nai Điện Tử

Đồng Nai

16481 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Đền thờ Nguyễn Hữu Cảnh

Đền thờ Nguyễn Hữu Cảnh

Đền thờ Nguyễn Hữu Cảnh còn gọi là đình Bình Kính tọa lạc bên tả ngạn sông Đồng Nai, xưa kia thuộc ấp Bình Kính, thôn Bình Hoành, tổng Trấn Biên, nay là ấp Nhị Hòa, xã Hiệp Hòa, TP Biên Hòa, đã được Bộ Văn Hoá – Thông Tin – Thể Thao & Du Lịch xếp hạng là di tích lịch sử cấp quốc gia ngày 25-3-1991. Đền thờ Nguyễn Hữu Cảnh được xây dựng vào khoảng cuối thế kỷ 18, ban đầu ngôi đền có qui mô nhỏ, vách làm bằng ván, mái ngói âm dương, cách ngôi đền hiện tại khoảng 400m về hướng Nam. Các tư liệu cho biết: ngôi đền được xây dựng lại lần đầu tiên vào năm Tự Đức thứ tư (1851); đến năm 1923, đền được tái thiết lại ở địa điểm hiện nay. Nguyễn Hữu Cảnh sinh vào năm 1650 tại Gia Miêu, huyện Tống Sơn, tỉnh Thanh Hóa trong một gia đình có nhiều bậc danh tướng đương triều. Ông là người văn võ song toàn, lập được nhiều chiến công lớn và được chúa Nguyễn tin yêu, trọng vọng. Mùa Xuân năm Mậu Dần (1698), ông vâng lệnh chúa Nguyễn vào kinh lược xứ Đàng Trong khi ấy còn rất hoang vu. Đến đất Đồng Nai, ông đặt Đại bản doanh ở Cù lao Phố (nay là xã Hiệp Hòa); lấy đất Đồng Nai làm huyện Phước Long, dựng dinh Trấn Biên, lấy xứ Sài Gòn làm huyện Tân Bình, dựng dinh Phiên Trấn, đất đai mở mang ngàn dặm. Ông chiêu mộ lưu dân đến lập nghiệp, tổ chức bộ máy hành chính từng bước có qui củ, khuyến khích khai hoang, thúc đẩy Cù lao Phố phát triển thành một trong những cảng thị sầm uất, năng động nhất đàng Trong suốt thế kỷ 18 và chính thức sáp nhập vùng đất mới phương Nam vào bản đồ Đại Việt. Sau khi kinh lược phương Nam trở về, năm sau ông lại phụng mệnh chúa Nguyễn Phúc Chu thống lĩnh đại binh dẹp vua Chân Lạp giữ vững miền biên ải phương Nam. Tháng 4 năm Canh Thìn (1700), sau khi hoàn thành sứ mệnh, trên đường trở về đến Rạch Gầm (Tiền Giang) thì ông thọ bệnh qua đời nhằm ngày 16 tháng 5 âm lịch, thọ 51 tuổi. Trên đường di quan ông về quê an táng, quan tài của ông được đình lại khu đất khi xưa ông đặt Đại bản doanh ở Cù lao Phố để cho nhân dân địa phương có dịp bái biệt ông lần cuối. Nơi đình quan đã được nhân dân địa phương xây một ngôi mộ vọng để ghi nhớ sự kiện này. Khi hay tin Nguyễn Hữu Cảnh mất, Chúa Nguyễn vô cùng thương tiếc đã phong tặng ông là Thượng đẳng công thần đặc Trấn phủ Chưởng cơ với tước: Lễ Thành Hầu và đưa bài vị của ông vào thờ tại Thái miếu. Nguồn: Báo Đồng Nai Điện Tử

Đồng Nai

15065 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Di tích chiến thắng La Ngà

Di tích chiến thắng La Ngà

Di tích chiến thắng La Ngà (tại km số 104-112 trên quốc lộ 20 đi Đà Lạt, thuộc xã Phú Ngọc, huyện Định Quán) được Bộ Văn hóa xếp hạng di tích lịch sử cấp quốc gia ngày 12-12-1986. Để cổ vũ cho chiến thắng Việt Bắc thu - đông 1947 và cũng để giáng cho kẻ thù một đòn chí mạng, Ban chỉ huy chi đội 10 đã quyết định phải tổ chức một trận đánh lớn, để quân giặc thấy rằng dân tộc Việt Nam, con người Việt Nam không dễ dàng chịu khuất phục trước bất kì một kẻ thù nào; Bằng tinh thần quả cảm và sự khôn khéo sau gần nửa năm chuẩn bị, nghiên cứu địa hình, chọn địa điểm: vào lúc 15 giờ 12 phút ngày 1/3/1948 trận chiến phục kích La Ngà bắt đầu và kết thúc vào lúc 15 giờ 57 phút cùng ngày, chỉ trong vòng 45 phút. Chiến thắng La Ngà đã làm nức lòng nhân dân Định Quán nói riêng, quân dân Đồng Nai nói chung. Đây là chiến thắng thể hiện sự mưu trí, dũng cảm của quân và dân ta làm cho địch một phen kinh hồn, bạt phía. Từ chiến thắng này lực lượng ta ngày càng thêm lớn mạnh, góp phần đánh bại kế hoạch đánh nhanh, thắng nhanh của địch, buộc chúng phải rơi vào thế bị động. Quần thể danh thắng đá Chồng, Thác Mai, sông La Ngà và Tượng đài chiến thắng La Ngà là một quần thể du lịch kì thú của Định Quán. Vẻ đẹp kỳ thú của Hòn Ba Chồng, Núi Đá Voi, Hòn Dĩa, cùng với ngôi chùa thiên nhiên dưới chân núi đá là những cụm tiêu biểu tạo thành cảnh đẹp hài hòa cho khu danh thắng Đá Chồng. Quần thể Đá Chồng Định Quán còn là nơi lưu lại những dấu tích của cuộc sống người tiền sử. Tại đây dưới các mái đá, ven các khe suối và cả các sườn dốc ven thung lũng đã phát hiện nhiều công cụ sản xuất, sinh hoạt của người xưa bằng đá, đồng, đất nung. Trong suốt cuộc kháng chiến dài 30 năm. Định Quán là một phần quan trọng của Chiến khu Đ. Đá Chồng đã chứng kiến sự hình thành, phát triển, trú quân, triển khai chiến đấu của lực lượng cách mạng. Ngày nay, một phần đất của khu danh thắng Đá Chồng Định Quán đã được sử dụng, xây dựng thành khu Trung tâm văn hóa thể thao huyện Định Quán. Tương lai không xa khu danh thắng Đá Chồng Định Quán sẽ được đầu tư tôn tạo góp phần làm cho cảnh quan thiên nhiên ngày càng tươi đẹp, là địa điểm du lịch sinh thái hấp dẫn. Nguồn: Uỷ Ban Nhân Dân Huyện Định Quán

Đồng Nai

14894 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Tháp cổ Chót Mạt

Tháp cổ Chót Mạt

Di tích Lịch sử-Văn hóa Tháp Chót Mạt, tọa lạc ấp Xóm Tháp, xã Tân Phong, huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh, được Bộ Văn hóa Thông tin (nay là Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch) công nhận là di tích lịch sử - văn hóa ngày 23 tháng 7 năm 1993. Đồng thời là một trong ba công trình tháp cổ cuối cùng còn lại ở miền Nam nước ta. Trải qua nhiều lần trùng tu vào các năm 1938, 2003 và gần đây nhất là vào năm 2013. Mặc dù trải qua các đợt trùng tu tôn tạo, nhưng khu di tích tháp cổ Chót Mạt đã mang cho mình một diện mạo mới nhưng vẫn giữ nguyên được tinh thần kiến trúc cổ. Toàn bộ tòa Tháp được xây dựng bằng gạch và đá phiến với phần đỉnh tháp nhọn dần lên, từ mặt đất lên nơi cao nhất của đỉnh tháp được ước tính là 10m. Ngoài ra, ngọn tháp cổ này nằm trên gò đất cao giữa cánh đồng nên nhìn từ xa nó tựa như ngọn bút đang vươn lên cao dần. Năm 2003 Uỷ ban nhân dân tỉnh Tây Ninh quyết định phê duyệt dự án đầu tư trùng tu tôn tạo bảo tồn di tích tháp Chót Mạt và được tiến hành triển khai trùng tu tôn tạo phục hồi, trưng bày mở hố khai quật năm 2003 đưa vào sử dụng. Ngày 27/11/2019 UBND tỉnh ban hành Quyết định Quy định về phân cấp quản lý, bảo vệ và phát huy giá trị di tích lịch sử văn hóa và danh lam thắng cảnh trên địa bàn tỉnh Tây Ninh. Quyết định giao UBND huyện Tân Biên trực tiếp quản lý 4 di tích, trong đó có di tích cấp Quốc gia di tích Lịch sử- văn Hóa Tháp Chót Mạt. Đặc biệt Di tích Lịch sử-Văn hóa Tháp Chót Mạt trên địa bàn xã Tân Phong, huyện Tân Biên được chọn nằm trong chũi liên kết phát triển du lịch của Tỉnh Tây Ninh. Đây là một địa điểm tham quan rất đáng để khám phá, góp phần phát triển du lịch trên địa bàn xã Tân Phong nói riêng và huyện Tân Biên nói chung. Nguồn: Cổng thông tin điện tử tỉnh Tây Ninh

Tây Ninh

14754 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Dinh Quận Hóc Môn

Dinh Quận Hóc Môn

Dinh Quận Hóc Môn tọa lạc tại số 1, đường Lý Nam Đế, thị trấn Hóc Môn, (cạnh trụ sở UBND huyện) là nơi để lại nhiều sự kiện đấu tranh nổi bật suốt chặng đường dài lịch sử từ 1885 đến ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng của Nhân dân 18 Thôn vườn trầu. Sau khi hạ được Đại đồn Chí Hòa, thực dân Pháp xây dựng tại nơi đây một ngôi nhà gỗ cao 3 tầng dùng làm Đồn binh. Khi tên Trần Tử Ca về nhậm chức Đốc Phủ, dùng Đồn làm Dinh huyện Bình Long. Vốn là một tay say quỷ quyệt của thực dân Pháp, Trần Tử Ca bị nhóm do các ông Phan Văn Hớn (Quản Hớn) và Nguyễn Văn Quá (Chánh Lãnh Binh) cầm đầu gần 1.000 nghĩa quân tiến về đốt Dinh Quận, bắt và cắt đầu bêu giữa chợ. Đó là ngày 8/2/1885 Tết Ất Dậu. Sau đó, Dinh Quận Hóc Môn được xây dựng lại với nền móng đá xanh, tường gạch, có hệ thống phòng thủ từ lầu cao đến tận vòng rào. Lối kiến trúc y như Đồn binh nên người địa phương gọi là Đồn Hóc Môn. Trấn nhậm thay Trần Tử Ca là Đốc phủ Ngôn, đến Quận Trà rồi Quận Thọ. Đây là khoảng thời gian dài người dân vùng Hóc Môn hứng chịu bao cảnh tham tàn, bỉ ổi của thực dân Pháp và bọn tay sai đầu sỏ kể trên. Với truyền thống kiên cường bất khuất của Nhân dân Hóc Môn. Ngày 4/6/1930, khoảng 6 giờ sáng trước Dinh Quận, hàng trăm bà con Hóc Môn kéo biểu tình đòi “bãi bỏ thuế thân, giảm các thuế môn bài và thuế chợ, cấp đất cho dân cày nghèo”. Quận Trà cho mời những người cầm đầu vào Dinh thương lượng, nhưng chúng xảo quyệt bắt giữ họ trong đó có ông Lê Văn Uôi (Bí thư xã Tân Thới Nhì), là người cầm đầu cuộc biểu tình. Mọi người không nao núng, quyết liệt đòi hỏi Quận Trà phải thả những người bị cầm giữ. Đoàn biểu tình càng lúc càng đông, khí thế đấu tranh có phần lan rộng, khiến Quận Trà nhượng bộ. Một mặt chúng thả những người bị giữ, mặc khác chúng gọi điện cho quan thầy ở Sài Gòn cứu viện. 2 giờ sau, cuộc đấu tranh bị 2 tên Blachôlê và Nobbot chỉ huy bắn xối xả vào đoàn biểu tình, gây thương vong nhiều người. Nhưng sự kiện lịch sử gây ấn tượng nhất tại Dinh Quận Hóc Môn là cuộc khởi nghĩa Nam kỳ ngày 23/11/1940. Đồn Hóc Môn rất kiên cố, xây bằng đá xanh như là một pháo đài, cao khoảng 15 thước, có ụ súng và hệ thống phòng thủ lỗ châu mai do một trung đội lính khố xanh trấn giữ. Ngày 22/11/1940, Pháp tăng cường thêm 1 trung đội để đối phó với tình hình. Chiều 22/11/1940, cánh quân của ông Đỗ Văn Cội đột nhập vào thị trấn, giả dạng thường dân, phục kích sau lưng Đồn chờ lệnh cướp Đồn. Một cánh quân khác có nhiệm vụ phá cầu, đốn cây ngăn lộ, đánh chiếm các công sở, nhà việc... Cánh quân từ Phước Vĩnh An, Tân Thông, Tân An Hội, Tân Phú Trung do ông Phạm Văn Sáng và Đặng Công Bỉnh chỉ huy, xuất phát từ ấp Bến Đò, đánh chiếm nhà việc, diệt 1 tên, thu 4 súng, làm chủ tình hình tại đây (Tân Phú trung). Liền đó cánh quân này được lệnh kéo về Hóc Môn. Cánh quân Long Tuy Thượng do ông Bùi Văn Hoạt chỉ huy. Cánh quân thuộc Tổng Long Tuy Trung do ông Đỗ Văn Dậy và Lê Bình Đẳng chỉ huy. Khoảng 24 giờ đêm ngày 22/11/1940, vẫn chưa nghe thấy tiếng pháo lệnh ở Sài Gòn. Sau khi hội ý, các vị chỉ huy những cánh quân thống nhất tấn công Đồn giặc. Lập tức các cánh quân tiến thẳng về Đồn Hóc Môn, nơi trú ngụ của tên Quận trưởng Bùi Ngọc Thọ. 2 nghĩa quân tên Nghé và Kinh xung phong vào cổng trước, hy sinh. Nghĩa quân bốn phía xông vào Đồn như nước vỡ bờ. Trước sức mạnh của nghĩa quân và quần chúng, bọn lính trong Đồn không còn tinh thần kháng cự, bỏ chạy tán loạn. Nghĩa quân chiếm lĩnh hoàn toàn bên trong Đồn nhưng trên lầu, địch vẫn ngoan cố dùng súng bắn tẻ, cùng lúc gọi điện về Sài Gòn, Thủ Dầu Một cấp cứu. Vì nóng lòng bắt cho được tên Quận Thọ nên đồng chí Đỗ Văn Dậy bám ống máng nước để leo lên tầng trên Đồn. Đến lưng chừng bị trúng đạn, đồng chí bị rơi xuống và hy sinh sau đó. Cuộc chiến đấu đang thế giằng co thì viện binh địch đến. Không thể cầm cự, nghĩa quân rút khỏi thị trấn, phân tán về các làng, lực lượng vũ trang rút về ấp Bến Đò (Tân Phú Trung) rồi di chuyển sang ấp Mỹ Hạnh (Đức Hòa). Cuộc tiến công Đồn Hóc Môn (sau gọi là Dinh Quận Hóc Môn) tuy thất bại nhưng đã để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng mọi người dân sự khâm phục lòng dũng cảm của các chiến sĩ cách mạng trong cuộc chiến đấu chống thực dân cướp nước. Trong chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, 7 giờ sáng ngày 30/4/1975, thị trấn Hóc Môn hoàn toàn được giải phóng, lá cờ Tổ quốc phất phới bay trên Dinh Quận, nơi tên Quận trưởng Nguyễn Như Sang và bọn tay sai đã chạy trốn từ tối đêm trước. Ngày nay Dinh Quận Hóc Môn được chọn làm Bảo tàng huyện, nơi đây tập trung nhiều tư liệu trưng bày, minh họa các giai đoạn lịch sử thăng trầm cũng như khí thế đấu tranh cách mạng của quân và dân trong huyện Hóc Môn qua 2 cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ. Một Tượng đài đặt trước di tích Dinh Quận Hóc Môn thể hiện gương hy sinh bất khuất của quân và dân 18 Thôn Vườn trầu, được công nhận là di tích lịch sử văn hóa cấp Quốc gia. Nguồn: Ủy ban nhân dân huyện Hóc Môn

TP Hồ Chí Minh

14085 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Tòa đại sứ quán Mỹ

Tòa đại sứ quán Mỹ

Di tích tòa Đại sứ Mỹ còn được gọi "Nhà trắng phương Đông" là nơi xuất phát các âm mưu thâm độc về quân sự lẫn chính trị nhằm thôn tính lâu dài đất nước Việt Nam, địa điểm di tích là tòa nhà 5 tầng xây dựng theo kiến trúc hiện đại, tọa lạc tại góc đường Mạc Đĩnh Chi - Lê Duẩn, Phường Bến Nghé, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh, trên một mảnh đất rộng gần 5.000m2. Trước đó, tòa đại sứ Mỹ nằm tại số 39 đường Hàm Nghi. Khoảng 10 giờ sáng ngày 30/3/1963, tòa đại sứ Mỹ trên đường Hàm Nghi đã bị đội Biệt động F21 đánh chất nổ làm sập 3 tầng lầu: 1, 2, 3 do đó Mỹ đã quyết định xây lại. Tòa nhà được khởi công xây dựng vào năm 1965, hầu hết vật liệu cũng như máy móc xây dựng đều được chở từ Mỹ sang, dưới sự điều khiển của kỹ sư người Mỹ. Theo thiết kế, tòa nhà bao bọc bởi 7.800 viên đá Taredo có khả năng chống đỡ mìn, đạn pháo. Cửa chính trang bị bằng thép dầy, những cửa khác chắn bởi lớp kín dầy đặc biệt chống đạn. Tất cả cửa sử dụng hệ thống tự động kể cả cửa sắt chắn lối lên các tầng lầu. Bên trong tòa nhà gồm 140 phòng với 200 nhân viên phục vụ ngày đêm ngoài ra bên cạnh tòa nhà còn được xây thêm một dãy nhà phụ gọi là khu "Norodom" dành riêng cho nhân viên C.I.A. Khi khánh thành, tòa nhà chỉ có 3 tầng. Cuối năm 1966 xây thêm 2 tầng và 1 sân thượng dùng làm nơi hạ cánh cho máy bay lên thẳng. Bao quanh tòa nhà là bức tường cao 3m, hai đầu tường sát đường Lê Duẩn xây 2 lô - cốt cao, canh gác ngày đêm. Tòa Đại sứ hoàn thành tháng 9/1967 với một hệ thống phòng thủ như là một pháo đài có 60 lính gác, một hầm tránh bom, một hệ thống màn hình ra-đa nhằm kiểm soát mặt tiền. Ngay sau khi tòa nhà hoàn tất, ngày 24/9/1967, hàng ngàn sinh viên, học sinh kéo đến trước cổng Đại sứ quán Mỹ đấu tranh đòi "Mỹ chấm dứt ném bom miền Bắc", "Mỹ cút về nước" và ra thông báo tố cáo Mỹ "chà đạp và vi phạm nghiêm trọng quyền tự quyết của nhân dân miền Nam". Nhưng sự kiện nổi bật xảy ra tại Tòa Đại sứ Mỹ là trận đánh của Biệt động thành trong Tổng Tiến công và nổi dậy xuân Mậu Thân 1968. Mục tiêu đánh Đại sứ quán Mỹ được bổ sung ngày 24/ 1/1968 do Ngô Thành Vân phụ trách chung. Đội Biệt động 11 nhận lãnh nhiệm vụ quan trọng này gồm đội trưởng Út Nhỏ (đội trưởng trinh sát quân khu) và các chiến sĩ: Bảy Truyền, Tước, Thanh, Chức, Trần Thế Ninh, Chính, Tài, Văn, Đực, Cao Hoài Vinh, Mang, Sáu và 2 lái xe: Trần Sĩ Hùng và Ngô Văn Thuận. Một sự kiện khác cũng không kém phần tủi nhục cho Toà Đại sứ Mỹ là cảnh hỗn loạn tháo chạy xảy ra trong 2 ngày 29 và 30/04/1975 của Mỹ và đồng bọn. Trước sức tấn công thần tốc của quân và dân Việt Nam trong chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, trên 1.000 người Mỹ và hơn 5.000 người Việt thân Mỹ đã chen lấn, xô đẩy, đạp nhau để tranh giành một chỗ trên sân thượng của toà nhà hòng được trực thăng cứu thoát. Di tích này đã được cấp bằng công nhận của Bộ Văn hoá ngày 25/6/1976. Hiện nay, toà nhà Đại Sứ Mỹ đã bị phá bỏ, xây mới thành lãnh sự quán tại Thành phố Hồ Chí Minh, nhưng cạnh đó một bia tưởng niệm ghi nhớ mãi chiến công của các chiến sĩ biệt động đã hy sinh trong trận đánh. Nguồn: Thành Đoàn Thành phố Hồ Chí Minh

TP Hồ Chí Minh

13986 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Lăng Mai Xuân Thưởng

Lăng Mai Xuân Thưởng

Mai Xuân Thưởng là người lãnh đạo phong trào Cần Vương chống Pháp cuối thế kỷ XIX ở Bình Định. Mai Xuân Thưởng sinh năm Canh Thân 1860, mất năm Đinh Hợi 1887 người thôn Phú Lạc, tổng Phú phong, huyện Tuy Viễn, tỉnh Bình Định (nay là thôn Phú Lạc, xã Bình Thành, huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định). Cha là Mai Xuân Tín làm Bố chánh ở Cao Bằng, mẹ là Huỳnh Thị Nguyệt con của một nhà quyền quý trong làng. Mai Xuân Thưởng vốn là người thông minh, ham học. Năm 18 tuổi (1878) ông đỗ Tú tài tại Trường thi Bình Định. năm 25 tuổi (1885) thi đỗ cử nhân. Hưởng ứng chiếu Cần vương của vua Hàm Nghi, Mai Xuân Thưởng về quê Phú Lạc, chiêu mộ nghĩa binh, lập căn cứ ở hòn Sưng dựng cờ cần vương chống Pháp, sau đó Mai Xuân Thưởng đã đem lực lượng của mình gia nhập vào nghĩa quân do Đào Doãn Địch lãnh đạo và được Đào Doãn Địch phong giữ chức Tán lương quân vụ (phụ trách về lương thực của nghĩa quân). Kể từ đó cho đến năm 1887, phong trào cần vương ở Bình Định phát triển mạnh mẽ và lan ra đến Quảng Ngãi, Phú Yên...thu hút hàng chục ngàn người thuộc mọi tầng lớp tham gia. Ngày 20/9/1885 Đào Doãn Địch mất, giao toàn bộ lực lượng cho Mai Xuân Thưởng. Ông chọn vùng núi Lộc Đổng (nay thuộc xã Bình Tường, huyện Tây Sơn) làm đại bản doanh và tổ chức lễ tế cờ , truyền hịch kêu gọi sỹ phu, văn thân, nhân dân tham gia phong trào cần Vương chống Pháp. Trong buổi lễ ấy, nghĩa quân nhiều vùng trong tỉnh Bình Định đã nhất trí suy tôn ông làm Nguyên soái lãnh đạo cuộc khởi nghĩa và nêu cao khẩu hiệu: “Tiền sát tả, hậu đả Tây”. Đầu năm 1887, quân Pháp dưới sự chỉ huy của Trung tá Cherrean và quân triều đình do Trần Bá Lộc chỉ huy cùng với Công sứ Trira đã mở cuộc tấn công lớn lên căn cứ đại bản doanh của phong trào Cần Vương Bình Định, trận giao chiến giữa lực lượng nghĩa quân với giặc Pháp diễn ra vô cùng ác liệt, cuộc chiến đấu không cân sức, cuối cùng lực lượng khởi nghĩa bị đẩy lùi. Tháng 3 năm 1887, sau trận ác chiến ở Bàu Sấu (thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định), Mai Xuân Thưởng bị thương nặng, nghĩa quân rút về Mật khu Linh Ðổng. Ngày 21 tháng 4 năm 1887, Trần Bá Lộc bao vây đánh chiếm căn cứ mật khu Linh Đổng và bắt được một số nghĩa quân, trong đó có thân mẫu Mai Nguyên Soái. Đêm 30 tháng 4 năm 1887, Mai Xuân Thưởng đã cử một đội quân cảm tử đột nhập doanh trại Trần Bá Lộc, giải vây cho những người bị bắt, ông cùng đoàn thuộc hạ gồm 50 người vượt núi vào Phú Yên, tiếp tục kháng chiến, nhưng khi đến đèo Phú Quý (ranh giới giữa Bình Định và Phú Yên) thị bị phục binh Trần Bá Lộc bắt và đưa ra xử trảm tại Gò Chàm (Phía đông Thành Bình Định). Di tích Lăng mộ nhà yêu nước Mai Xuân Thưởng tọa lạc trên ngọn đồi cao của dãy núi Ngang (thuộc thôn Hòa Sơn, xã Bình Tường, huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định) cách thành phố Quy Nhơn khoảng 50km về hướng Tây Bắc; Lăng mộ được xây dựng trên khu đất rộng 1988m2, khánh thành ngày 22 tháng 1 năm 1961.Về tổng thể, Lăng được thiết kế theo kiểu lăng mộ cổ, xung quanh có thành thấp bao bọc. Cổng Lăng (tam quan) là 4 trụ vuông, phía trên thắt lại theo kiểu bầu lọ mang dáng dấp kiến trúc cổng đình, miếu cuối thế kỷ XIX. Giữa nhà Lăng là mộ phần Mai Xuân Thưởng hình khối chữ nhật theo hướng Đông - Tây; Phía đầu mộ dựng tấm Bia đá khắc bài ký ghi tiểu sử và sự nghiệp của Mai Xuân Thưởng: Di tích được Bộ Văn hóa Thông tin quyết định xếp hạng cấp Quốc Gia ngày 20 tháng 4 năm 1995. Nguồn: UBND Huyện Tây Sơn tỉnh Bình Định

Gia Lai

13673 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Thành Nhà Mạc Ở Cao Bằng (Thành Nà Lữ, Thành Bản Phủ, Thành Phục Hòa)

Thành Nhà Mạc Ở Cao Bằng (Thành Nà Lữ, Thành Bản Phủ, Thành Phục Hòa)

Thời kỳ nhà Mạc đóng đô ở Cao Bằng, để phòng bị quân nhà Lê tiến đánh, nhà Mạc đã tu bổ, sửa chữa thành Na Lữ (nay thuộc xã Hoàng Tung, Hòa An) và thành Bản Phủ (nay thuộc xã Hưng Đạo), thành Phục Hòa, ngoài ra còn xây dựng nhiều thành lũy khác ở Cao Bằng, làm cho Cao Bằng trở thành một trung tâm chính trị và quân sự ở vùng biên viễn Đông Bắc thời bấy giờ. Thành Na Lữ và thành Phục Hoà là hai thành được xây dựng từ trước. Theo ghi chép của Bế Hựu Cung trong Cao Bằng thực lục, thành Na Lữ và thành Phục Hòa mở đầu từ đời Đường Ý Tông năm Giáp Thân, niên hiệu Hàm Thông thứ 5 (874). Căn cứ vào sự hiện diện của nhiều ngôi mộ cổ có đá khắc ghi bia mộ tên, địa chỉ, quê quán những người phu dịch xây thành chết ở đây từ thời Hàm Thông có thể khẳng định hai thành này xây từ đời Đường. Thành Na Lữ được xây qua nhiều triều đại khác nhau. Khi nhà Mạc lên Cao Bằng đã cho xây lại bằng gạch. Thành Na Lữ có hình gần chữ nhật, có tổng diện tích khoảng 37,5 ha, chiều dài khoảng 800 m, chiều rộng khoảng 600 m, thành có 4 cửa. Thành Bản Phủ tại kinh đô Nam Bình, nước Nam Cương của Thục Phán khi xưa ở Cao Bình (Cao Bằng), nhà Mạc đã tu bổ thành Vương phủ tại vòng trong của kinh đô cũ Nam Bình và được gọi là thành Bản Phủ hay Vương phủ. Tại kinh đô Nam Bình xưa của nước Nam Cương và của nhà Mạc, thành Bản Phủ vẫn còn dấu tích khá rõ nét. Kinh đô Nam Bình gồm có hai vòng thành, để bảo vệ kinh thành, vòng ngoài có chu vi khoảng 5 km, gồm cả một vùng gò đồi thấp, quanh chân đồi được bạt dựng đứng như một bức tường thành, thuận lợi cho việc xây dựng phòng tuyến bảo vệ. Bờ thành phía Tây chạy song song với bờ sông Bằng đến đầu làng Bó Mạ, nối bờ thành Đông Nam chảy qua trước mặt Bản Phủ theo chân đồi ra gặp quốc lộ 4, phía Đông Bắc chạy theo chân đồi sát phía ngoài quốc lộ 4, lên đến Đầu gò là phía Tây Bắc tiếp tục chạy theo chân đồi, ra đến bờ sông gặp bờ thành phía Tây tạo thành một vòng thành khép kín. Khi nhà Mạc lên đóng đô đã tu sửa lại và xây dựng thêm một số công trình, trong đó thành Bản Phủ (thành nội - nơi của vua làm việc) được xây lên cao hơn trên các tường thành cũ từ thời kỳ Thục Phán, thành nằm trên một khu đất bằng phẳng. Cùng với việc xây dựng lại kinh thành, nhà Mạc còn xây dựng một hệ thống đồn bốt, thành lũy khá dày xung quanh kinh đô và một số điểm biên giới quan trọng, tạo thành một hệ thống bảo vệ kinh thành và bảo vệ biên giới. Thành Phục Hòa (huyện Phục Hoà) được xây theo kiểu hình vuông, mỗi chiều khoảng 400 m, gồm hai vòng thành, khoảng cách giữa hai vòng là 80 m. Hiện nay, tường thành phía Nam đã bị phá huỷ hoàn toàn. Thành Phục Hòa có 2 cổng chính: Cổng phía Bắc được mở thông ra quốc lộ đi Cửa khẩu Tà Lùng ngày nay, nhân dân thường gọi là Pác Cổng, cổng này được xây theo kiểu hình chữ nhật, rộng 8 m, cao 5 m, gồm hai cánh cổng làm bằng gỗ nghiến dày rất chắc chắn; cổng thứ hai ở phía Nam, mở thông ra bờ sông. Cả hai cổng đều bị san phẳng từ lâu, hiện nay không còn vết tích. Gần thành, tại phía Tây Bắc ngoại thành dọc bờ sông còn có nhiều vết tích lò nung gạch, nhân dân cho biết trong quá trình lao động, khai phá đã tìm thấy ở khu vực này nhiều lò gạch còn nguyên vẹn. Qua nghiên cứu, khảo sát cho thấy, tại Cao Bằng, nhà Mạc đã tu bổ, tôn tạo và xây dựng thêm nhiều thành, đồn luỹ, trong đó tu bổ, tôn tạo xây lại thành Bản Phủ, thành Na Lữ, thành Phục Hoà. Các đồn luỹ này đã tạo thành một hệ thống liên hoàn bảo vệ kinh thành khá vững chắc. Đến nay, những thành cổ nhà Mạc xây dựng thời kỳ đóng đô ở Cao Bằng, một số thành xây dựng bằng đất chỉ còn vết tích, nhưng các thành được xây bằng đá vẫn còn rất rõ. Nguồn: Báo Cao Bằng điện tử

Cao Bằng

13341 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

KHU TƯỞNG NIỆM LIỆT SĨ NGÃ BA GIỒNG, DI TÍCH LỊCH SỬ QUỐC GIA

KHU TƯỞNG NIỆM LIỆT SĨ NGÃ BA GIỒNG, DI TÍCH LỊCH SỬ QUỐC GIA

Di tích Ngã Ba Giồng là di tích lịch sử cách mạng thuộc Ấp 5, xã Xuân Thới Thượng, huyện Hóc Môn. Được bao quanh bởi ba con đường: Phan Văn Hớn, Nguyễn Văn Bứa và tỉnh lộ 19. Khu di tích Ngã Ba Giồng là khu tưởng niệm về những sự kiện lịch sử trong hai cuộc khácg chiến chống ngoại xâm. Được công nhận là di tích lịch sử cấp quốc gia vào năm 2002. Ngã ba Giòng (còn có tên gọi đầy đủ là Ngã ba Giòng Bằng Lăng) nằm trên địa phận thôn Xuân Thới Tây thuộc 18 thôn vườn trầu xưa được hình thành từ những năm 1698 đến năm 1731. Từ lâu đời, Ngã ba Giồng là 1 địa danh có tên gọi dân gian đã đi vào lịch sử của quê hương 18 thôn vườn trầu Hóc Môn – Bà Điểm. Tục truyền rằng xưa kia nơi đây là 1 vùng đất giồng tương đối cao ráo và là nơi mọc nhiều cây bằng lăng nên địa danh này có tên gọi từ đó. Sau khi cuộc khởi nghĩa Nam kỳ (23/11/1940) bị thất bại, thực dân Pháp đã tăng cường đàn áp, khủng bố khốc liệt phong trào cách mạng vùng Hóc Môn – Bà Điểm. Chúng đã lập ra ở Hóc Môn 3 trường bắn để giết hại các đồng chí lãnh đạo Đảng, các đồng chí đồng bào yêu nước của quê hương Hóc Môn và các vùng lân cận. Ngã ba Giồng là trường bắn thứ ba ghi lại tội ác tày trời của giặc pháp và bọn tay sai đối với nhân dân Hóc Môn. Rút kinh nghiệm từ 2 trường bắn trước (1 tại rạp hát cũ trung tâm Quận lỵ Hóc Môn, 1 cạnh giếng nước sau Bệnh viện Hóc Môn ngày nay), chúng xử bắn công khai, bắt nhân dân đến xem nhằm mục đích uy hiếp tinh thần cách mạng của nhân dân Hóc Môn. Nhưng cách xử bắn đó đã phản tác dụng, nhân dân Hóc Môn đã tận mắt chứng kiến sự tàn ác của thực dân Pháp, sự hy sinh cao cả của các chiến sĩ cộng sản nên ngọn lửa yêu nước của họ càng bùng lên mãnh liệt. Trường bắn thứ 3 này, chúng không dám xây dựng gần trung tâm Quận lỵ nữa mà đưa ra khu vực Ngã ba Giồng là vùng hoang vắng, thưa dân để tránh sự phản kháng của nhân dân. Tại đây, chúng xây dựng thành 1 trường bắn có mô đất kiên cố dài 12m, cao 2,2m, phía trước có trồng 6 cột bắn, mỗi cột cao 1.7m, hướng bắn quay về phía đồng ruộng (bưng Tràm Lạc). Vào năm 1941, tại đây chúng lén lúc xử bắn rất nhiều lần, không cho nhân dân xem, hàng trăm chiến sĩ cộng sản và đồng bào yêu nước bị chúng giết hại. Với ý nghĩa lịch sử vô cùng thiêng liêng của Ngã ba Giồng, nơi ghi dấu tội ác dã man của giặc Pháp, nơi thể hiện ý chí chiến đấu bất khuất kiên cường và sự hy sinh cao cả của đồng chí và đồng bào ta sau cuộc khởi nghĩa Nam kỳ (23/11/1940); sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng (30/4/1975), huyện Hóc Môn đã nhanh chóng khôi phục và tôn tạo khu di tích lịch sử cách mạng Ngã ba Giồng nhằm giáo dục truyền thống cho các thế hệ thanh thiếu niên. Nơi đây đã trở thành điểm tham quan, nơi tổ chức lễ hội truyền thống trong những ngày lễ lớn hàng năm của huyện Hóc Môn và thành phố đặc biệt là lễ kỷ niệm ngày Nam kỳ Khởi nghĩa (23/11). Hiện nay được sự nhất trí của thành phố, huyện đang tiến hành tôn tạo xây dựng Ngã ba Giồng thành “Khu tưởng niệm liệt sĩ Ngã ba Giồng”. Nguồn: Cổng thông tin điện tử Hóc Môn

TP Hồ Chí Minh

13184 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở