Di tích lịch sử

Xem dạng bản đồViệt nam

Danh sách điểm di tích (1432)

Khu di tích Tổng Bí thư Trần Phú

Khu di tích Tổng Bí thư Trần Phú

Khu di tích Tổng Bí thư Trần Phú nằm tại xã Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh, quê hương của đồng chí Trần Phú – Tổng Bí thư đầu tiên của Đảng. Đây là một địa chỉ đỏ giàu ý nghĩa lịch sử, nơi lưu giữ những dấu ấn về cuộc đời và sự nghiệp cách mạng của người chiến sĩ cộng sản kiên trung. Đồng chí Trần Phú sinh ngày 1/5/1904 trong một gia đình nhà nho yêu nước. Tháng 10/1930, đồng chí được bầu làm Tổng Bí thư đầu tiên của Đảng, đồng thời trực tiếp khởi thảo Luận cương Chính trị năm 1930. Tháng 4/1931, đồng chí bị thực dân Pháp bắt và hy sinh ngày 6/9/1931 tại Nhà thương Chợ Quán ở Sài Gòn, khi mới 27 tuổi. Trước lúc hy sinh, đồng chí để lại lời căn dặn nổi tiếng: “Hãy giữ vững chí khí chiến đấu”. Năm 1999, hài cốt đồng chí được đưa về an táng tại quê hương. Khu mộ nằm trên núi Quần Hội, hướng về bến Tam Soa – nơi hội tụ của sông Ngàn Sâu, Ngàn Phố và sông La. Trong khuôn viên còn có nhà bia tiểu sử cùng phần mộ thân sinh và em trai của đồng chí. Cách khu mộ hơn 1km là nhà thờ chi họ Trần và Nhà trưng bày lưu niệm Tổng Bí thư Trần Phú, nơi lưu giữ nhiều tài liệu, hình ảnh và hiện vật gắn với cuộc đời hoạt động cách mạng của đồng chí. Khu di tích Tổng Bí thư Trần Phú ngày nay trở thành điểm đến về nguồn, nơi các thế hệ đến dâng hương, tìm hiểu lịch sử và tưởng nhớ người Tổng Bí thư đầu tiên của Đảng – một tấm gương về lòng yêu nước, ý chí kiên cường và tinh thần bất khuất trước kẻ thù. Nguồn: Báo Tin tức và Dân tộc

Hà Tĩnh

133 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Mộ Nguyễn Lộ Trạch

Mộ Nguyễn Lộ Trạch

Mộ Nguyễn Lộ Trạch, tự Hà Nhân, hiệu Kỳ Am, nằm tại Khu vực Độn Cát, làng Kế Môn, phường Phong Phú, thị xã Phong Điền, thành phố Huế. Ông sinh ngày 15/2/1853, là một nhà tư tưởng tiến bộ dưới triều vua Tự Đức, nổi bật với tư tưởng canh tân đất nước trong bối cảnh xã hội Việt Nam có nhiều biến động. Nguyễn Lộ Trạch để lại những tư tưởng có giá trị qua ba tác phẩm nổi tiếng “Thời vụ sách thượng”, “Thời vụ sách hạ” và “Thiên hạ đại thế luận”, thể hiện tầm nhìn và những đề xuất nhằm đổi mới, củng cố đất nước. Ông mất năm 1895 và được an táng tại Bình Định. Đến năm 1957, con cháu cải táng đưa hài cốt ông về quê nhà Kế Môn. Ngôi mộ có hình tròn, kiến trúc đơn giản, đường kính khoảng 3m, thành mộ cao 40cm, dày 20cm. Với những giá trị lịch sử gắn liền với cuộc đời và tư tưởng canh tân của Nguyễn Lộ Trạch, mộ ông được công nhận là Di tích lịch sử cấp quốc gia ngày 28/12/2001. Nguồn: Trang thông tin điện tử xã Phú Hồ – hue.gov.vn

Thừa Thiên Huế

145 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Chùa Thiên Quý

Chùa Thiên Quý

Chùa Thiên Quý, hay còn gọi là chùa Kênh, là một công trình kiến trúc nghệ thuật đặc sắc ở huyện Đông Hưng, tỉnh Hưng Yên. Chùa được xây dựng vào cuối đời Lý, đầu đời Trần và được trùng tu nhiều lần, đến nay vẫn còn lưu giữ nhiều dấu tích kiến trúc cổ. Quần thể chùa gồm tam quan, tòa Tam bảo, nhà Tổ, Phủ Mẫu, nhà Hộ, gác chuông cùng hệ thống tháp cổ, tạo nên một không gian Phật giáo truyền thống bề thế. Nổi bật trong kiến trúc là hệ thống chạm khắc trên các vì kèo, mảng cốn và phù điêu, cùng nhiều tượng Phật, tượng Hộ pháp và các đồ thờ tự có giá trị. Chùa còn lưu giữ nhiều bia đá, chuông đồng, khánh đá và cổ vật, trong đó có quả chuông đúc từ thời Tây Sơn. Đặc biệt, chùa Thiên Quý được biết đến với hệ thống tháp cổ và những dấu tích kiến trúc có giá trị lịch sử, nghệ thuật. Không chỉ là nơi sinh hoạt tín ngưỡng, chùa còn gắn với đời sống văn hóa cộng đồng qua lễ hội chùa Thiên Quý, được tổ chức hằng năm với các nghi lễ Phật giáo, rước kiệu, biểu diễn nghệ thuật và nhiều trò chơi dân gian. Với những giá trị về lịch sử, kiến trúc và văn hóa, chùa Thiên Quý là một điểm đến giàu dấu ấn của vùng quê Đông Hưng, góp phần lưu giữ những nét đẹp truyền thống của văn hóa và tín ngưỡng dân gian Việt Nam. Nguồn: Thế giới Phật giáo

Hưng Yên

164 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Quần thể di tích đình, đền, chùa Tiên Lục

Quần thể di tích đình, đền, chùa Tiên Lục

Nằm tại xã Tiên Lục, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang nay là Bắc Ninh, quần thể di tích đình, đền, chùa Tiên Lục là một không gian văn hóa, tín ngưỡng đặc sắc, gồm chùa Phúc Quang, đền Tiên Lục, đình Thuận Hòa, đình Viễn Sơn và cây Dã hương. Các công trình trong quần thể được xây dựng từ lâu đời, từng được trùng tu, tôn tạo vào thời Lê Trung Hưng. Đến nay, nhiều hạng mục vẫn lưu giữ tương đối nguyên vẹn kiến trúc cổ cùng những mảng chạm khắc tinh xảo như hình rồng, con thú, tiên nữ cưỡi rồng và cảnh sinh hoạt dân gian. Điểm nhấn đặc biệt của quần thể là cây Dã hương hàng nghìn năm tuổi, gắn với tín ngưỡng và đời sống văn hóa của người dân địa phương. Tương truyền, cây từng được vua Lê Cảnh Hưng phong sắc là “Quốc chúa Đô mộc Dã Đại vương”, trở thành biểu tượng linh thiêng của vùng đất Tiên Lục. Quần thể còn lưu giữ nhiều tượng Phật, đồ thờ, cổ vật có giá trị, tiêu biểu là gần 100 pho tượng tại chùa Phúc Quang và nhiều hiện vật có niên đại từ thời Lê, thời Nguyễn. Đặc biệt, lễ hội Tiên Lục với các nghi lễ rước nước, rước kiệu, tục xếp chữ và những trò chơi dân gian độc đáo đã được ghi danh vào Danh mục Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia. Nguồn: Báo Bắc Ninh TV

Bắc Ninh

83 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia đặc biệt

Mở

Đình thần Phú Hựu

Đình thần Phú Hựu

Đình thần Phú Hựu là một di tích kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia, hiện tọa lạc tại ấp Phú Hòa, xã Phú Hựu, tỉnh Đồng Tháp. Ngôi đình được hình thành từ đầu thế kỷ XIX, do ông Thiều Quang Lộc vận động người dân địa phương xây dựng để thờ Thành hoàng. Năm 1852, dưới triều vua Tự Đức, đình được ban sắc phong “Thành hoàng Bổn cảnh”. Đến năm 1903, do bị nước xoáy bào mòn, đình được di dời và trùng tu tại vị trí hiện nay. Đình Phú Hựu gây ấn tượng bởi không gian thoáng mát, bao quanh bởi những hàng cây cổ thụ, phía trước là sông Sa Đéc và bên hông là sông Cái Tàu Hạ. Quần thể di tích gồm bình phong, đài sen, nghi môn, miếu Ngũ Hành, miếu Ông Hổ, miếu Thần Nông, miếu Bà Chúa Xứ và khu đình thờ Thành hoàng. Hằng năm, đình tổ chức ba lễ cúng chính gồm Hạ Điền ngày 17 tháng 6, Thượng Điền ngày 17 tháng 9 và Chạp miễu ngày 17 tháng 12 âm lịch. Đây không chỉ là nơi sinh hoạt tín ngưỡng của cộng đồng mà còn lưu giữ những giá trị văn hóa, kiến trúc đặc trưng của vùng đất Nam Bộ. Với những giá trị lịch sử, văn hóa và nghệ thuật tiêu biểu, ngày 18 tháng 12 năm 2009, đình thần Phú Hựu được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xếp hạng Di tích kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia. Nguồn: Wikipedia

Đồng Tháp

174 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Cơ quan Giao bưu Thông tin vô tuyến điện Nam bộ

Cơ quan Giao bưu Thông tin vô tuyến điện Nam bộ

Cơ quan Giao bưu Thông tin vô tuyến điện Nam bộ – Dấu ấn anh hùng giữa lòng Đồng Tháp. Di tích Cơ quan Giao bưu Thông tin vô tuyến điện Nam bộ tọa lạc tại căn cứ Gò Mười Tải thuộc vùng Đồng Tháp Mười, nay thuộc xã Phú Cường, huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp. Được hình thành và hoạt động bí mật trong giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1954, đây là một trong những cái nôi đầu tiên của ngành thông tin liên lạc cách mạng miền Nam. Trải qua thời gian và những thăng trầm của lịch sử, nơi đây đã được xây dựng và tôn tạo thành một khu di tích trang nghiêm. Khuôn viên nổi bật với Tượng đài Giao bưu Thông tin Vô tuyến điện Nam bộ sừng sững, cùng các công trình lưu niệm khắc ghi công ơn của thế hệ đi trước. Không gian nơi đây không chỉ lưu giữ ký ức về xưởng sửa chữa máy móc thô sơ, trường đào tạo điện báo viên năm xưa, mà còn ghi dấu những cột mốc chói lọi trong suốt 9 năm phục vụ kháng chiến chống Pháp, giữ vững mạch máu thông tin thông suốt giữa chiến trường Nam Bộ với Trung ương. Không chỉ có giá trị về mặt lịch sử ngành bưu điện, di tích còn là biểu tượng rực rỡ của tinh thần yêu nước vùng Nam Bộ. Vượt qua mưa bom bão đạn và điều kiện thiếu thốn, nơi đây còn là trạm trung chuyển an toàn, bảo đảm vận chuyển vũ khí, tài liệu và đưa đón hàng vạn lượt cán bộ đi công tác qua lại chiến trường. Với tầm vóc lịch sử to lớn, Di tích Cơ quan Giao bưu Thông tin vô tuyến điện Nam bộ hôm nay không chỉ là biểu tượng tri ân thế hệ cha anh, mà còn là một điểm đến nguồn cội giàu giá trị văn hóa, góp phần giáo dục truyền thống cách mạng cho các thế hệ mai sau. Nguồn: Cổng thông tin Bảo tàng tỉnh Đồng Tháp

Đồng Tháp

112 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Chùa Long Thiền

Chùa Long Thiền

Chùa Long Thiền – Dấu ấn Phật giáo lâu đời ở Đồng Nai Chùa Long Thiền tọa lạc bên hữu ngạn sông Đồng Nai, thuộc phường Bửu Hòa, thành phố Biên Hòa. Được xây dựng vào năm 1664 bởi Tổ sư Thành Nhạc, đây là một trong những ngôi chùa cổ nhất của Đồng Nai và được xem là cái nôi của Phật giáo Nam Bộ. Năm 1991, chùa được xếp hạng Di tích lịch sử quốc gia. Trải qua nhiều lần trùng tu, đặc biệt vào các năm 1748, 1842 và 1952, chùa vẫn lưu giữ được vẻ cổ kính, trang nghiêm. Khuôn viên có nhiều cây cổ thụ, tháp cổ và bảo tháp của Tổ sư Thành Nhạc. Chánh điện nổi bật với hệ thống tượng Phật, hoành phi, câu đối và những mảng chạm khắc tinh tế với các đề tài truyền thống như tứ linh, hoa điểu, cá hóa rồng. Không chỉ có giá trị về kiến trúc và tôn giáo, Chùa Long Thiền còn gắn với lịch sử vùng đất Đồng Nai. Trong những năm kháng chiến, chùa từng là nơi tập hợp, vận động tăng ni, Phật tử tham gia các hoạt động yêu nước và đóng góp cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc. Với lịch sử hơn 360 năm, Chùa Long Thiền hôm nay không chỉ là nơi sinh hoạt tín ngưỡng mà còn là một điểm đến giàu giá trị lịch sử, văn hóa, góp phần lưu giữ dấu ấn của quá trình hình thành và phát triển vùng đất Đồng Nai. Nguồn: Phật Sự Đồng Nai TV

Đồng Nai

167 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Đình Đại Yên

Đình Đại Yên

Đình Đại Yên thuộc phường Ngọc Hà, quận Ba Đình, Hà Nội, là một di tích gắn với khu “Thập tam trại” phía Tây kinh thành Thăng Long từ thời Lý. Đình thờ Ngọc Hoa công chúa, tương truyền là một cô bé mới 9 tuổi nhưng đã lập công trong cuộc chiến chống quân Chămpa năm 1104. Giả trai theo cha ra trận, Ngọc Hoa đã cải trang thành người bán trầu cau, thuốc lào để thâm nhập doanh trại địch, thu thập tin tức và làm ám hiệu giúp quân ta đánh tan quân giặc. Sau khi khải hoàn, nàng trở về Đại Yên và hóa tại nơi dựng đình ngày nay. Đình được đại tu lớn vào năm 1886, gồm cổng đình, tả hữu vu, tiền tế, đại bái và hậu cung. Trong hậu cung hiện còn khám thờ, tượng, long ngai, bài vị cùng các đạo sắc phong qua các triều đại. Hằng năm, hội làng Đại Yên được tổ chức vào ngày 14 tháng Ba âm lịch, với nhiều nghi lễ và đặc biệt là điệu múa “Dâng hoa” tưởng nhớ Ngọc Hoa công chúa. Với những giá trị lịch sử, văn hóa và kiến trúc nghệ thuật, Đình Đại Yên được xếp hạng di tích lịch sử, kiến trúc, nghệ thuật năm 1990. Nguồn: Hà Nội Danh thắng và Di tích

Hà Nội

244 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Nhà thờ Cao Thắng

Nhà thờ Cao Thắng

Nhà thờ Cao Thắng nằm trên một ngọn đồi nhỏ thuộc xã Sơn Tiến, tỉnh Hà Tĩnh, là nơi tưởng niệm Cao Thắng (1863–1893) – vị tướng tài ba của nghĩa quân Hương Khê và là người cộng sự thân cận của Phan Đình Phùng trong phong trào chống thực dân Pháp cuối thế kỷ XIX. Cao Thắng nổi tiếng với tài cầm quân và đặc biệt là việc nghiên cứu, chế tạo súng trường theo kiểu 1874 của Pháp, phục vụ cuộc khởi nghĩa Hương Khê. Ông hy sinh năm 1893 khi mới 30 tuổi. Sau đó, con cháu họ Cao cùng nhân dân địa phương lập nhà thờ để tưởng nhớ và tri ân người anh hùng. Nhà thờ được xây dựng năm 1907, bằng gỗ lim, gồm ba gian, bốn vì kèo, mái lợp ngói vảy, mang đậm nét kiến trúc truyền thống. Bên trong còn lưu giữ long ngai, bài vị, giá gương cùng các đồ thờ tự sơn son thếp vàng. Với những giá trị lịch sử và kiến trúc nghệ thuật, Nhà thờ Cao Thắng được xếp hạng Di tích lịch sử cấp quốc gia năm 1998. Nguồn: Trang thông tin di tích lịch sử văn hóa

Hà Tĩnh

240 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Địa điểm ghi dấu tội ác của thực dân Pháp tại Lân Áng

Địa điểm ghi dấu tội ác của thực dân Pháp tại Lân Áng

Địa điểm ghi dấu tội ác của thực dân Pháp tại Lân Áng, xã Hưng Vũ, huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn là một di tích lịch sử cách mạng gắn với những năm tháng đấu tranh gian khổ của quân và dân Bắc Sơn. Lân Áng từng là an toàn khu cách mạng, nơi nuôi giấu, bảo vệ cán bộ và các cơ quan cách mạng, đồng thời là địa điểm huấn luyện quân sự của lực lượng du kích. Đặc biệt, ngày 9/2/1945, thực dân Pháp và tay sai đã mật phục, sát hại đồng chí Hoàng Văn Hán – Chỉ huy trưởng Đội Du kích Bắc Sơn năm 1940. Sự hy sinh của đồng chí Hoàng Văn Hán đã khơi dậy lòng căm thù giặc, củng cố quyết tâm đấu tranh của nhân dân địa phương. Lân Áng cũng gắn với quá trình phát triển của lực lượng cách mạng Bắc Sơn, từ Đội Du kích Bắc Sơn đến Cứu quốc quân I, góp phần tạo tiền đề quan trọng cho Cách mạng tháng Tám năm 1945. Ngày nay, tại di tích có bia ghi dấu sự kiện lịch sử năm 1945. Với những giá trị lịch sử tiêu biểu, địa điểm này được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xếp hạng Di tích lịch sử quốc gia năm 2020. Nguồn: Cục Di sản văn hóa

Lạng Sơn

99 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Bờ Lũy – chùa Lò Gạch

Bờ Lũy – chùa Lò Gạch

Bờ Lũy – chùa Lò Gạch: Dấu tích văn hóa Óc Eo độc đáo ở Vĩnh Long. Di tích Bờ Lũy – chùa Lò Gạch là một địa điểm khảo cổ đặc biệt, gắn với những dấu tích của nền văn hóa Óc Eo ở Đồng bằng sông Cửu Long. Di tích được phát hiện trong khuôn viên chùa Kompong Thmo, còn gọi là chùa Lò Gạch. Qua khai quật, các nhà khảo cổ tìm thấy dấu tích một quần thể kiến trúc cổ cùng hệ thống bờ lũy bằng đất quy mô lớn, được xem là một trong những vòng thành có quy mô đáng chú ý ở miền Tây Nam Bộ. Nhiều hiện vật như gạch nung, đá sa thạch, đồ đồng và những lá vàng chạm khắc hình voi, hoa sen được phát hiện tại đây, cho thấy giá trị lịch sử, văn hóa và nghệ thuật đặc sắc của di tích, với niên đại khoảng thế kỷ VIII – IX. Với những giá trị nổi bật, năm 2017, Bờ Lũy – chùa Lò Gạch được công nhận là Di tích cấp quốc gia. Ngày nay, nơi đây không chỉ là điểm nghiên cứu khảo cổ mà còn góp phần giới thiệu những dấu ấn văn hóa cổ của vùng đất Trà Vinh. Nguồn: Báo Dân tộc và Phát triển

Vĩnh Long

219 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Di tích Lưu Cừ II

Di tích Lưu Cừ II

Di tích Lưu Cừ II – Dấu tích văn hóa Óc Eo gần 2.000 năm tuổi. Tọa lạc tại ấp Lưu Cừ II, xã Lưu Nghiệp Anh, tỉnh Vĩnh Long, Di tích Lưu Cừ II là một phế tích kiến trúc tôn giáo Bà La Môn tiêu biểu của nền văn hóa Óc Eo, có niên đại gần 2.000 năm. Di tích được phát hiện vào năm 1985 và khai quật trong giai đoạn 1986–1987. Qua nghiên cứu, các nhà khảo cổ xác định công trình có hai giai đoạn tồn tại, từ thế kỷ I đến thế kỷ V sau Công nguyên, gắn với quá trình phát triển của Vương quốc Phù Nam. Kiến trúc Lưu Cừ II có quy mô lớn, nền móng được xây dựng công phu với nhiều góc cạnh và hành lang bao quanh. Đặc biệt, các cuộc khai quật đã phát hiện nhiều hiện vật liên quan đến tín ngưỡng Hindu, trong đó có linga, yoni và các hiện vật gắn với thần Shiva. Với giá trị đặc biệt về lịch sử, khảo cổ và kiến trúc, năm 1990, Lưu Cừ II được công nhận là Di tích lịch sử – văn hóa cấp quốc gia. Đây là một trong những dấu tích Óc Eo còn tương đối nguyên vẹn, giúp du khách hình dung rõ hơn về một giai đoạn lịch sử quan trọng của vùng đất Nam Bộ xưa. Nguồn: Cổng Thông tin điện tử tỉnh Vĩnh Long

Vĩnh Long

261 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Hội quán Quảng Triệu (Chùa Ông Cần Thơ)

Hội quán Quảng Triệu (Chùa Ông Cần Thơ)

Tọa lạc tại số 32 đường Hai Bà Trưng, thành phố Cần Thơ, Hội quán Quảng Triệu, thường gọi là Chùa Ông, là một công trình tín ngưỡng tiêu biểu của cộng đồng người Hoa gốc Quảng Đông. Chùa được xây dựng từ năm 1894, hoàn thành năm 1896 và đến nay vẫn giữ được gần như nguyên vẹn dáng vẻ cổ kính. Công trình nổi bật với kiến trúc hình chữ “Quốc”, các dãy nhà khép kín bao quanh sân thiên tỉnh. Mái ngói âm dương được trang trí công phu với hình lưỡng long tranh châu, cá hóa long, chim phụng, cùng hệ thống phù điêu, hoành phi, liễn đối và chạm khắc gỗ tinh xảo. Chính điện là nơi thờ Quan Thánh Đế Quân, cùng Thiên Hậu Thánh Mẫu, Phúc Đức Chính Thần và Quan Âm Bồ Tát. Hằng năm, nơi đây diễn ra nhiều lễ vía truyền thống, thu hút đông đảo người dân và du khách đến chiêm bái. Không chỉ có giá trị về kiến trúc, Chùa Ông còn gắn với lịch sử cộng đồng người Hoa và từng là nơi che chở cán bộ cách mạng trong những năm chiến tranh. Với những giá trị đặc sắc ấy, năm 1993, Chùa Ông được công nhận là Di tích quốc gia, trở thành một điểm đến văn hóa – lịch sử nổi bật của Cần Thơ. Nguồn: Wikipedia

Cần Thơ

103 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Hiệp Thiên Cung

Hiệp Thiên Cung

Hiệp Thiên Cung nằm tại quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ, là một công trình tín ngưỡng lâu đời của cộng đồng người Hoa. Được hình thành từ thế kỷ XIX, đến năm 1856, ngôi miếu được tu sửa, mở rộng và mang tên Quan Đế Miếu. Do thờ Quan Thánh Đế Quân, Phúc Đức Chính Thần và Thiên Hậu Thánh Mẫu, nơi đây về sau được gọi là Hiệp Thiên Cung. Trải qua hơn 160 năm, Hiệp Thiên Cung vẫn giữ được vẻ cổ kính với kiến trúc hình chữ “Quốc”, gồm bốn dãy nhà khép kín và khoảng giếng trời ở trung tâm. Nóc cung nổi bật với hình lưỡng long tranh châu, mái lợp ngói âm dương, nhiều cấu kiện gỗ, đá được chạm khắc tinh xảo. Bên trong còn lưu giữ hệ thống hoành phi, liễn đối và nhiều tác phẩm trang trí mang đậm phong cách nghệ thuật truyền thống. Không chỉ có giá trị về kiến trúc, Hiệp Thiên Cung còn là nơi sinh hoạt tín ngưỡng, văn hóa cộng đồng. Hằng năm, nơi đây diễn ra nhiều lễ hội như Nguyên Tiêu, Vu Lan, Vía Bà Thiên Hậu và Vía Ông Quan Thánh Đế Quân. Với những giá trị đặc sắc, Hiệp Thiên Cung được xếp hạng Di tích cấp quốc gia, trở thành một điểm nhấn văn hóa góp phần gìn giữ bản sắc của cộng đồng người Hoa và di sản văn hóa Cần Thơ. Nguồn: Báo Cần Thơ

Cần Thơ

260 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Đền thờ Chủ tịch Hồ Chí Minh

Đền thờ Chủ tịch Hồ Chí Minh

Đền thờ Chủ tịch Hồ Chí Minh tọa lạc tại khóm Vĩnh Hội, phường Long Đức, tỉnh Vĩnh Long, là di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia, đồng thời là biểu tượng cho lòng kính yêu Bác Hồ và tinh thần cách mạng kiên cường của nhân dân miền Nam. Đền được khởi công ngày 10/3/1970, giữa những năm tháng chiến tranh ác liệt. Công trình được xây dựng trên một giồng cát cao, diện tích ban đầu hơn 1.223m². Để tránh sự phát hiện và pháo kích của địch, người dân phải bí mật thi công vào ban đêm. Sau nhiều tháng gian khó, đền được khánh thành vào ngày 26/1/1971. Lời thề “Quyết tâm đánh bại kẻ thù để làm quà dâng Bác” đã thể hiện tình cảm sâu sắc và quyết tâm của quân dân Nam Bộ. Trong chiến tranh, đền nhiều lần bị địch càn quét, đốt phá và bắn phá. Tuy nhiên, người dân địa phương vẫn kiên trì bảo vệ, từng bước xây dựng lại đền kiên cố hơn. Dù bom đạn tàn phá, công trình vẫn được gìn giữ, trở thành biểu tượng cho ý chí bất khuất và lòng son sắt của nhân dân miền Nam đối với Bác Hồ. Ngày nay, khu di tích có diện tích khoảng 5,4 ha, được xây dựng và tôn tạo qua nhiều giai đoạn. Nổi bật là Nhà sàn Bác Hồ, được phục dựng năm 2012 theo mô hình nhà sàn của Bác tại Hà Nội. Khu di tích còn có không gian cây xanh, nhà trưng bày cùng nhiều hình ảnh, hiện vật giới thiệu về quá trình xây dựng và bảo vệ đền trong những năm kháng chiến. Hơn nửa thế kỷ qua, Đền thờ Bác Hồ ở Vĩnh Long không chỉ là nơi người dân dâng hương tưởng nhớ Chủ tịch Hồ Chí Minh mà còn là “địa chỉ đỏ” giáo dục truyền thống yêu nước, cách mạng cho các thế hệ. Di tích là minh chứng cho tình cảm sâu nặng của đồng bào miền Nam đối với Bác, đồng thời góp phần nhắc nhớ về tinh thần đoàn kết, ý chí đấu tranh vì độc lập, tự do của dân tộc. Nguồn: Thời báo VTV

Vĩnh Long

239 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Đình làng Sét

Đình làng Sét

Đình làng Sét nằm ở thôn Sét, xã Định Tân, tỉnh Thanh Hóa, vùng đất được hình thành từ khoảng thế kỷ XIV–XV. Theo lịch sử làng, ông Trương Cảnh Tường, người quê Yên Vực, Hoằng Hóa, là người đầu tiên đến khai hoang, lập ấp tại núi Quy Sơn. Từ vùng đất ban đầu mang tên Ấp Sát, cư dân dần mở rộng xuống đồng bằng, hình thành làng Sát, nay là làng Sét. Nổi bật trong không gian văn hóa của làng là Đình làng Sét, được xây dựng vào năm 1595, dưới thời vua Lê Thế Tông. Trải qua hơn 400 năm với nhiều biến động lịch sử và những lần trùng tu, tôn tạo, ngôi đình vẫn lưu giữ được nhiều nét kiến trúc cổ kính. Cổng đình nổi bật với hai cột cao gần 10m cùng đôi câu đối, tạo nên vẻ uy nghiêm cho di tích. Đình làng Sét là nơi thờ Đô đốc quận công Thượng tướng quân Trương Cảnh Phúc, Trương Đình Lễ và Ngọc Nữ thần nương Trương Thị Phương – những nhân vật được nhân dân địa phương tôn kính. Không chỉ là nơi sinh hoạt tín ngưỡng, đình còn gắn bó với đời sống cộng đồng và lịch sử phát triển của làng Sét. Hằng năm, từ ngày 10 đến 12 tháng 3 âm lịch, người dân địa phương tổ chức lễ hội Kỳ phúc, cầu mong mưa thuận gió hòa, cuộc sống bình an, no ấm. Nguồn: Báo phát thanh và truyền hình Thanh Hóa

Thanh Hóa

279 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Đình Phú Đa

Đình Phú Đa

Đình Phú Đa là một ngôi đình cổ thuộc xã Bình Phú, thành phố Hà Nội, được Bộ Văn hóa và Thông tin xếp hạng Di tích kiến trúc nghệ thuật năm 1993. Đây cũng là nơi gắn với truyền thống múa rối nước nổi tiếng của làng Gia, tên Nôm của thôn Phú Đa, từng thường xuyên biểu diễn rối nước tại chùa Thầy. Đình có kiến trúc một tòa nhà ngang gồm 5 gian 2 chái, bốn mái đao cong và hệ thống 7 bộ vì theo kiểu thượng rường, hạ bẩy. Các cấu kiện gỗ trong đình còn lưu giữ nhiều dấu tích kiến trúc cổ. Đặc biệt, những mảng chạm khắc rồng, hình người cưỡi ngựa, thiếu nữ ca hát thể hiện trình độ nghệ thuật tinh tế, tiêu biểu cho mỹ thuật thế kỷ XVIII. Hình tượng rồng với mắt lồi, mũi lớn, tai dơi, bờm lưỡi mác, thân uốn cong sinh động mang đậm phong cách nghệ thuật thời Hậu Lê. Đình Phú Đa thờ Đào Khang, một vị tướng thời Hai Bà Trưng. Theo truyền thuyết, ông có công giúp Hai Bà Trưng đánh giặc Tô Định, đồng thời lập trang trại tại vùng Phú Đa, dạy dân canh tác, khơi mương, đào ngòi, góp phần xây dựng cuộc sống của cư dân địa phương và được tôn làm phúc thần. Bên cạnh giá trị lịch sử và kiến trúc, đình còn lưu giữ nhiều đồ thờ có giá trị nghệ thuật thời Lê và thời Nguyễn, đặc biệt là bộ tượng rối nước cổ từng được sử dụng trong các buổi biểu diễn. Bàn thờ tổ nghề múa hát, tục gọi là Đức Thánh Nhà Trò, cũng là minh chứng cho truyền thống nghệ thuật dân gian lâu đời của làng. Hằng năm, hội làng được tổ chức vào mùng 3 tháng 4 âm lịch, với các nghi lễ tưởng niệm Đào Khang cùng các hoạt động múa gậy và múa rối nước tại ao trước đình. Nguồn: Hà Nội Danh thắng và Di tích

Hà Nội

299 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Đình Phú Điền

Đình Phú Điền

Đình Phú Điền là một công trình kiến trúc cổ tiêu biểu nằm trong Quần thể Di tích quốc gia đặc biệt Bà Triệu, mang đậm dấu ấn văn hóa làng xã truyền thống của xứ Thanh. Di tích gắn liền với việc thờ Triệu Thị Trinh – Bà Triệu, người nữ anh hùng dân tộc đã đứng lên chống quân Ngô vào thế kỷ III. Theo truyền thuyết, sau khi Bà Triệu hy sinh trên núi Tùng, người dân Phú Điền đã lập đình thờ bà và tôn làm Thành hoàng làng. Đến thế kỷ XVIII, đình được xây dựng theo phong cách kiến trúc đình làng truyền thống. Trải qua nhiều thế kỷ, công trình vẫn được nhân dân gìn giữ tương đối nguyên vẹn và trở thành nơi sinh hoạt văn hóa, tín ngưỡng của cộng đồng. Đình Phú Điền gồm các hạng mục chính như Nghinh môn, Đại đình, tiền đường và hậu cung. Điểm nổi bật của di tích là nghệ thuật chạm khắc gỗ tinh xảo với nhiều hình tượng tứ linh: long, ly, quy, phượng, cùng các họa tiết cây cỏ, hoa lá và hình ảnh voi, ngựa, hươu, gà… Những mảng chạm khắc không chỉ tạo nên vẻ đẹp nghệ thuật mà còn thể hiện ước vọng của người dân về cuộc sống bình yên, no đủ. Đặc biệt, đình hiện còn lưu giữ 64 sắc phong cổ qua các triều đại phong kiến, được xem là những tư liệu quý phản ánh lịch sử và tín ngưỡng của cộng đồng địa phương. Hằng năm vào tháng 2 âm lịch, lễ hội truyền thống được tổ chức tại Phú Điền để tưởng nhớ công lao của Bà Triệu, với các nghi lễ tế, rước kiệu cùng nhiều hoạt động văn hóa, trò chơi dân gian. Nguồn: Báo phát thanh và truyền hình Thanh Hóa

Thanh Hóa

277 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia đặc biệt

Mở

Di tích nổi bật

Xem tất cả
Khu di tích Láng Le Bàu Cò

Khu di tích Láng Le Bàu Cò

Khu di tích Láng Le Bàu Cò tọa lạc tại xã Tân Nhựt, huyện Bình Chánh, Tp HCM. Láng Le Bàu Cò gắn liền với cuộc kháng chiến chống Pháp xâm lược vào năm 1948 với những trận đánh lớn đi vào lịch sử. Di tích Láng Le Bàu Cò được công nhận là di tích lịch sử cấp thành phố vào năm 2003. Sở dĩ được gọi tên là khu di tích Láng Le Bàu Cò vì Tên gọi của khu di tích Láng Le Bàu Cò là do người dân địa phương đặt ra. Xóm làng được thành lập cạnh những con kênh rạch chằng chịt và dòng sông. Láng Le Bàu Cò có vị trí nằm ở bên trong cánh đồng có diện tích rộng lớn và có rất nhiều tôm, cua, cá. Cùng với nhiều loài chim như vịt trời, cò, con le le, cúm núm, cồng cộc, đa đa, diệc, đỏ nách tới kiếm ăn tại đây. Vì vậy, người dân Tân Nhựt gọi với cái tên thân thuộc và mộc mạc đó là Láng Le Bàu Cò. Di tích Láng Le Bàu Cò được xem là cửa ngõ để di chuyển tới trung tâm căn cứ Vườn Thơm và tấn công cơ quan đầu não của quân địch tại Sài Gòn. Trước đây khu di tích Láng Le Bàu Cò vốn là cánh đồng lau sậy mọc um tùm. Vào ngày 15/4/1948 thực dân Pháp đưa 3 nghìn quân lính cùng nhiều vũ khí hiện đại đồng loạt tấn công khu vực Láng Le Bàu Cò nhằm tiêu diệt căn cứ Vườn Thơm. Khi đó lực lượng vũ trang cách mạng ở Láng Le - Bàu vì lực lượng nhỏ và vũ khí thô sơ tuy nhiên được sự giúp đỡ của người dân địa phương cùng với lợi thế về địa hình. Chỉ sau hơn nửa ngày đấu tranh đã chuyển sang tấn công khiến quân Pháp bị thương vong với số lượng lớn. Chiến thắng Láng Le Bàu Cò đã tiêu diệt 300 tên địch và bắt sống 30 lính đánh thuê cùng phá hủy nhiều máy móc, xe nhà binh, súng các loại của quân giặc. Tuy nhiên, về phía ta có nhiều cán bộ chiến sĩ đã anh dũng hy sinh với tuổi đời còn rất trẻ. Ngày 14/10/1966 tại Láng Le tiểu đoàn biệt động quân Việt Nam Cộng Hòa bị dân quân du khách tiêu diệt. Khu di tích Láng Le Bàu Cò có ý nghĩa lịch sử to lớn đối với người dân Sài Gòn nói riêng và cả nước nói chung. Trước lòng căm thù thực dân Pháp, quân dân Láng Le Bàu Cò đã có cuộc chiến vang lừng lịch sử và có ý nghĩa to lớn mở đầu cho phía ta và phía địch. Đối với phía ta trận đánh mở đầu cho sự anh dũng trong tư thế kháng chiến vững mạnh. Còn với quân địch đã phải lùi vào thế bỏ chiến lược và bị tiêu diệt. Thực dân Pháp không còn định hình được chiến lược đánh bại Việt Minh. Hơn thế, tại căn cứ Vườn Thơm, Láng Le Bàu Cò còn diễn ra trận chiến quyết tâm bảo vệ căn cứ của ta và đập tan mọi kế hoạch phá hoại của quân giặc. Khu di tích Láng Le Bàu Cò sau phong trào Đồng Khởi vào năm 1960 còn là hậu cần, bàn đạp của lực lượng vũ trang để giải phóng Long An - Sài Gòn - Gia Định. Để tưởng nhớ sự hy sinh của đồng bào và các chiến sĩ của ta, vào năm 1988 huyện Bình Chánh đã xây dựng công trình lịch sử tại vùng đất Láng Le Bàu Cò với diện tích rộng 1000m2. Nguồn: Báo thông tin điện tử TP Hồ Chí Minh

TP Hồ Chí Minh

17990 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp thành phố

Mở

Di Tích Lịch Sử Nhà Lao Tân Hiệp

Di Tích Lịch Sử Nhà Lao Tân Hiệp

Nhà lao Tân Hiệp còn có tên là "Trung tâm cải huấn Tân Hiệp" tọa lạc ở khu phố 6, phường Tân Tiến, TP Biên Hòa. Di tích Nhà lao Tân Hiệp đã được Bộ Văn Hoá Thể Thao xếp hạng là di tích cấp quốc gia ngày 15-1-1994. Nhà lao Tân Hiệp là một trong sáu nhà tù lớn nhất miền Nam Việt Nam và là nhà tù lớn nhất vùng Đông Nam bộ, được xây dựng ở vị trí quân sự quan trọng, án ngữ phía đông bắc thị xã Biên Hòa. Phía trước là quốc lộ 1; phía sau là đường xe lửa Bắc - Nam. Đây là vị trí biệt lập, thuận tiện trong giao thông, dễ dàng cho việc bảo vệ, canh gác, nhận tù từ nơi khác đến và chuyển tù đi Côn Đảo, Phú Quốc... Nhà lao Tân Hiệp có diện tích 46.520m2 với 8 trại giam, trong đó có 5 trại giam những người tù cộng sản, người yêu nước. Xung quanh nhà tù được bao bọc bởi 4 lớp kẽm gai bùng nhùng với 9 lô cốt, 3 tháp canh cùng đội lính bảo vệ và hệ thống báo động tối tân. Mang tên "Trung tâm cải huấn" nhưng thực chất bên trong là kho súng, phòng xét hỏi, tra tấn với những dụng cụ hiện đại bậc nhất. Mỗi trại giam chỉ có diện tích gần 200m2 nhưng giam giữ từ 300-400 người, có lúc lên đến cả ngàn người. Đặc biệt ở đây có các phòng "cải hối", "chuồng cọp" rất nhỏ hẹp và điều kiện sinh hoạt cực kỳ khắc nghiệt, tù nhân sống chẳng khác gì trong lò thiêu xác. Chế độ ăn uống cực kỳ mất vệ sinh, bọn cai ngục mua gạo mục, cá thối dùng để bón ruộng, chiên bằng dầu luyn cho tù nhân ăn dẫn đến nhiều người bị ngộ độc. Với quyết tâm thoát khỏi nhà tù đế quốc, trở về với Đảng, với nhân dân để tiếp tục chiến đấu, giải phóng dân tộc, ngày 2-12-1956, được sự nhất trí của Liên Tỉnh ủy miền Đông, những chiến sĩ cộng sản bị "câu lưu" trong nhà lao Tân Hiệp dưới sự chỉ đạo trực tiếp của đồng chí Nguyễn Trọng Tâm (Bảy Tâm) - phụ trách Đảng ủy nhà tù và một số đồng chí khác đã bất thần làm một cuộc phá xiềng tập thể giải thoát gần 500 đồng chí, đồng bào yêu nước. Sự kiện này đã làm xôn xao cả Lầu Năm Góc. Mỹ - Diệm vội vã huy động cả quân chủ lực lẫn bảo an, dân vệ đang trấn thủ 3 tỉnh Biên Hòa, Bà Rịa, Thủ Dầu Một và hai biệt đoàn biệt động quân đến bủa lưới bao vây, truy bắt đoàn tù nhưng đều thất bại. Các đồng chí, đồng bào của ta thoát khỏi nhà lao Tân Hiệp đã được sự giúp đỡ, che chở của các cơ sở địa phương, trở về căn cứ an toàn. Trong số tù nhân vượt ngục có các đồng chí: Bảy Tâm, Hai Thông, Lý Văn Sâm... đã trở thành những hạt nhân nòng cốt cho phong trào Đồng Khởi sau này. Năm 2001, để tái hiện phần nào tội ác của Mỹ - Diệm đối với các đồng chí, đồng bào ta bị giam cầm tại nhà lao Tân Hiệp và diễn tả lại toàn bộ cuộc nổi dậy phá khám Tân Hiệp ngày 2-12-1956, Bảo tàng Đồng Nai đã tiến hành sưu tầm hình ảnh, tài liệu, hiện vật trưng bày tại di tích và làm một sa bàn để phục vụ nhu cầu nghiên cứu, tham quan của mọi tầng lớp nhân dân. Hàng ngày, di tích luôn mở cửa đón khách tham quan. Nguồn: Báo Đồng Nai Điện Tử

Đồng Nai

16481 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Đền thờ Nguyễn Hữu Cảnh

Đền thờ Nguyễn Hữu Cảnh

Đền thờ Nguyễn Hữu Cảnh còn gọi là đình Bình Kính tọa lạc bên tả ngạn sông Đồng Nai, xưa kia thuộc ấp Bình Kính, thôn Bình Hoành, tổng Trấn Biên, nay là ấp Nhị Hòa, xã Hiệp Hòa, TP Biên Hòa, đã được Bộ Văn Hoá – Thông Tin – Thể Thao & Du Lịch xếp hạng là di tích lịch sử cấp quốc gia ngày 25-3-1991. Đền thờ Nguyễn Hữu Cảnh được xây dựng vào khoảng cuối thế kỷ 18, ban đầu ngôi đền có qui mô nhỏ, vách làm bằng ván, mái ngói âm dương, cách ngôi đền hiện tại khoảng 400m về hướng Nam. Các tư liệu cho biết: ngôi đền được xây dựng lại lần đầu tiên vào năm Tự Đức thứ tư (1851); đến năm 1923, đền được tái thiết lại ở địa điểm hiện nay. Nguyễn Hữu Cảnh sinh vào năm 1650 tại Gia Miêu, huyện Tống Sơn, tỉnh Thanh Hóa trong một gia đình có nhiều bậc danh tướng đương triều. Ông là người văn võ song toàn, lập được nhiều chiến công lớn và được chúa Nguyễn tin yêu, trọng vọng. Mùa Xuân năm Mậu Dần (1698), ông vâng lệnh chúa Nguyễn vào kinh lược xứ Đàng Trong khi ấy còn rất hoang vu. Đến đất Đồng Nai, ông đặt Đại bản doanh ở Cù lao Phố (nay là xã Hiệp Hòa); lấy đất Đồng Nai làm huyện Phước Long, dựng dinh Trấn Biên, lấy xứ Sài Gòn làm huyện Tân Bình, dựng dinh Phiên Trấn, đất đai mở mang ngàn dặm. Ông chiêu mộ lưu dân đến lập nghiệp, tổ chức bộ máy hành chính từng bước có qui củ, khuyến khích khai hoang, thúc đẩy Cù lao Phố phát triển thành một trong những cảng thị sầm uất, năng động nhất đàng Trong suốt thế kỷ 18 và chính thức sáp nhập vùng đất mới phương Nam vào bản đồ Đại Việt. Sau khi kinh lược phương Nam trở về, năm sau ông lại phụng mệnh chúa Nguyễn Phúc Chu thống lĩnh đại binh dẹp vua Chân Lạp giữ vững miền biên ải phương Nam. Tháng 4 năm Canh Thìn (1700), sau khi hoàn thành sứ mệnh, trên đường trở về đến Rạch Gầm (Tiền Giang) thì ông thọ bệnh qua đời nhằm ngày 16 tháng 5 âm lịch, thọ 51 tuổi. Trên đường di quan ông về quê an táng, quan tài của ông được đình lại khu đất khi xưa ông đặt Đại bản doanh ở Cù lao Phố để cho nhân dân địa phương có dịp bái biệt ông lần cuối. Nơi đình quan đã được nhân dân địa phương xây một ngôi mộ vọng để ghi nhớ sự kiện này. Khi hay tin Nguyễn Hữu Cảnh mất, Chúa Nguyễn vô cùng thương tiếc đã phong tặng ông là Thượng đẳng công thần đặc Trấn phủ Chưởng cơ với tước: Lễ Thành Hầu và đưa bài vị của ông vào thờ tại Thái miếu. Nguồn: Báo Đồng Nai Điện Tử

Đồng Nai

15064 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Di tích chiến thắng La Ngà

Di tích chiến thắng La Ngà

Di tích chiến thắng La Ngà (tại km số 104-112 trên quốc lộ 20 đi Đà Lạt, thuộc xã Phú Ngọc, huyện Định Quán) được Bộ Văn hóa xếp hạng di tích lịch sử cấp quốc gia ngày 12-12-1986. Để cổ vũ cho chiến thắng Việt Bắc thu - đông 1947 và cũng để giáng cho kẻ thù một đòn chí mạng, Ban chỉ huy chi đội 10 đã quyết định phải tổ chức một trận đánh lớn, để quân giặc thấy rằng dân tộc Việt Nam, con người Việt Nam không dễ dàng chịu khuất phục trước bất kì một kẻ thù nào; Bằng tinh thần quả cảm và sự khôn khéo sau gần nửa năm chuẩn bị, nghiên cứu địa hình, chọn địa điểm: vào lúc 15 giờ 12 phút ngày 1/3/1948 trận chiến phục kích La Ngà bắt đầu và kết thúc vào lúc 15 giờ 57 phút cùng ngày, chỉ trong vòng 45 phút. Chiến thắng La Ngà đã làm nức lòng nhân dân Định Quán nói riêng, quân dân Đồng Nai nói chung. Đây là chiến thắng thể hiện sự mưu trí, dũng cảm của quân và dân ta làm cho địch một phen kinh hồn, bạt phía. Từ chiến thắng này lực lượng ta ngày càng thêm lớn mạnh, góp phần đánh bại kế hoạch đánh nhanh, thắng nhanh của địch, buộc chúng phải rơi vào thế bị động. Quần thể danh thắng đá Chồng, Thác Mai, sông La Ngà và Tượng đài chiến thắng La Ngà là một quần thể du lịch kì thú của Định Quán. Vẻ đẹp kỳ thú của Hòn Ba Chồng, Núi Đá Voi, Hòn Dĩa, cùng với ngôi chùa thiên nhiên dưới chân núi đá là những cụm tiêu biểu tạo thành cảnh đẹp hài hòa cho khu danh thắng Đá Chồng. Quần thể Đá Chồng Định Quán còn là nơi lưu lại những dấu tích của cuộc sống người tiền sử. Tại đây dưới các mái đá, ven các khe suối và cả các sườn dốc ven thung lũng đã phát hiện nhiều công cụ sản xuất, sinh hoạt của người xưa bằng đá, đồng, đất nung. Trong suốt cuộc kháng chiến dài 30 năm. Định Quán là một phần quan trọng của Chiến khu Đ. Đá Chồng đã chứng kiến sự hình thành, phát triển, trú quân, triển khai chiến đấu của lực lượng cách mạng. Ngày nay, một phần đất của khu danh thắng Đá Chồng Định Quán đã được sử dụng, xây dựng thành khu Trung tâm văn hóa thể thao huyện Định Quán. Tương lai không xa khu danh thắng Đá Chồng Định Quán sẽ được đầu tư tôn tạo góp phần làm cho cảnh quan thiên nhiên ngày càng tươi đẹp, là địa điểm du lịch sinh thái hấp dẫn. Nguồn: Uỷ Ban Nhân Dân Huyện Định Quán

Đồng Nai

14893 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Tháp cổ Chót Mạt

Tháp cổ Chót Mạt

Di tích Lịch sử-Văn hóa Tháp Chót Mạt, tọa lạc ấp Xóm Tháp, xã Tân Phong, huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh, được Bộ Văn hóa Thông tin (nay là Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch) công nhận là di tích lịch sử - văn hóa ngày 23 tháng 7 năm 1993. Đồng thời là một trong ba công trình tháp cổ cuối cùng còn lại ở miền Nam nước ta. Trải qua nhiều lần trùng tu vào các năm 1938, 2003 và gần đây nhất là vào năm 2013. Mặc dù trải qua các đợt trùng tu tôn tạo, nhưng khu di tích tháp cổ Chót Mạt đã mang cho mình một diện mạo mới nhưng vẫn giữ nguyên được tinh thần kiến trúc cổ. Toàn bộ tòa Tháp được xây dựng bằng gạch và đá phiến với phần đỉnh tháp nhọn dần lên, từ mặt đất lên nơi cao nhất của đỉnh tháp được ước tính là 10m. Ngoài ra, ngọn tháp cổ này nằm trên gò đất cao giữa cánh đồng nên nhìn từ xa nó tựa như ngọn bút đang vươn lên cao dần. Năm 2003 Uỷ ban nhân dân tỉnh Tây Ninh quyết định phê duyệt dự án đầu tư trùng tu tôn tạo bảo tồn di tích tháp Chót Mạt và được tiến hành triển khai trùng tu tôn tạo phục hồi, trưng bày mở hố khai quật năm 2003 đưa vào sử dụng. Ngày 27/11/2019 UBND tỉnh ban hành Quyết định Quy định về phân cấp quản lý, bảo vệ và phát huy giá trị di tích lịch sử văn hóa và danh lam thắng cảnh trên địa bàn tỉnh Tây Ninh. Quyết định giao UBND huyện Tân Biên trực tiếp quản lý 4 di tích, trong đó có di tích cấp Quốc gia di tích Lịch sử- văn Hóa Tháp Chót Mạt. Đặc biệt Di tích Lịch sử-Văn hóa Tháp Chót Mạt trên địa bàn xã Tân Phong, huyện Tân Biên được chọn nằm trong chũi liên kết phát triển du lịch của Tỉnh Tây Ninh. Đây là một địa điểm tham quan rất đáng để khám phá, góp phần phát triển du lịch trên địa bàn xã Tân Phong nói riêng và huyện Tân Biên nói chung. Nguồn: Cổng thông tin điện tử tỉnh Tây Ninh

Tây Ninh

14751 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Dinh Quận Hóc Môn

Dinh Quận Hóc Môn

Dinh Quận Hóc Môn tọa lạc tại số 1, đường Lý Nam Đế, thị trấn Hóc Môn, (cạnh trụ sở UBND huyện) là nơi để lại nhiều sự kiện đấu tranh nổi bật suốt chặng đường dài lịch sử từ 1885 đến ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng của Nhân dân 18 Thôn vườn trầu. Sau khi hạ được Đại đồn Chí Hòa, thực dân Pháp xây dựng tại nơi đây một ngôi nhà gỗ cao 3 tầng dùng làm Đồn binh. Khi tên Trần Tử Ca về nhậm chức Đốc Phủ, dùng Đồn làm Dinh huyện Bình Long. Vốn là một tay say quỷ quyệt của thực dân Pháp, Trần Tử Ca bị nhóm do các ông Phan Văn Hớn (Quản Hớn) và Nguyễn Văn Quá (Chánh Lãnh Binh) cầm đầu gần 1.000 nghĩa quân tiến về đốt Dinh Quận, bắt và cắt đầu bêu giữa chợ. Đó là ngày 8/2/1885 Tết Ất Dậu. Sau đó, Dinh Quận Hóc Môn được xây dựng lại với nền móng đá xanh, tường gạch, có hệ thống phòng thủ từ lầu cao đến tận vòng rào. Lối kiến trúc y như Đồn binh nên người địa phương gọi là Đồn Hóc Môn. Trấn nhậm thay Trần Tử Ca là Đốc phủ Ngôn, đến Quận Trà rồi Quận Thọ. Đây là khoảng thời gian dài người dân vùng Hóc Môn hứng chịu bao cảnh tham tàn, bỉ ổi của thực dân Pháp và bọn tay sai đầu sỏ kể trên. Với truyền thống kiên cường bất khuất của Nhân dân Hóc Môn. Ngày 4/6/1930, khoảng 6 giờ sáng trước Dinh Quận, hàng trăm bà con Hóc Môn kéo biểu tình đòi “bãi bỏ thuế thân, giảm các thuế môn bài và thuế chợ, cấp đất cho dân cày nghèo”. Quận Trà cho mời những người cầm đầu vào Dinh thương lượng, nhưng chúng xảo quyệt bắt giữ họ trong đó có ông Lê Văn Uôi (Bí thư xã Tân Thới Nhì), là người cầm đầu cuộc biểu tình. Mọi người không nao núng, quyết liệt đòi hỏi Quận Trà phải thả những người bị cầm giữ. Đoàn biểu tình càng lúc càng đông, khí thế đấu tranh có phần lan rộng, khiến Quận Trà nhượng bộ. Một mặt chúng thả những người bị giữ, mặc khác chúng gọi điện cho quan thầy ở Sài Gòn cứu viện. 2 giờ sau, cuộc đấu tranh bị 2 tên Blachôlê và Nobbot chỉ huy bắn xối xả vào đoàn biểu tình, gây thương vong nhiều người. Nhưng sự kiện lịch sử gây ấn tượng nhất tại Dinh Quận Hóc Môn là cuộc khởi nghĩa Nam kỳ ngày 23/11/1940. Đồn Hóc Môn rất kiên cố, xây bằng đá xanh như là một pháo đài, cao khoảng 15 thước, có ụ súng và hệ thống phòng thủ lỗ châu mai do một trung đội lính khố xanh trấn giữ. Ngày 22/11/1940, Pháp tăng cường thêm 1 trung đội để đối phó với tình hình. Chiều 22/11/1940, cánh quân của ông Đỗ Văn Cội đột nhập vào thị trấn, giả dạng thường dân, phục kích sau lưng Đồn chờ lệnh cướp Đồn. Một cánh quân khác có nhiệm vụ phá cầu, đốn cây ngăn lộ, đánh chiếm các công sở, nhà việc... Cánh quân từ Phước Vĩnh An, Tân Thông, Tân An Hội, Tân Phú Trung do ông Phạm Văn Sáng và Đặng Công Bỉnh chỉ huy, xuất phát từ ấp Bến Đò, đánh chiếm nhà việc, diệt 1 tên, thu 4 súng, làm chủ tình hình tại đây (Tân Phú trung). Liền đó cánh quân này được lệnh kéo về Hóc Môn. Cánh quân Long Tuy Thượng do ông Bùi Văn Hoạt chỉ huy. Cánh quân thuộc Tổng Long Tuy Trung do ông Đỗ Văn Dậy và Lê Bình Đẳng chỉ huy. Khoảng 24 giờ đêm ngày 22/11/1940, vẫn chưa nghe thấy tiếng pháo lệnh ở Sài Gòn. Sau khi hội ý, các vị chỉ huy những cánh quân thống nhất tấn công Đồn giặc. Lập tức các cánh quân tiến thẳng về Đồn Hóc Môn, nơi trú ngụ của tên Quận trưởng Bùi Ngọc Thọ. 2 nghĩa quân tên Nghé và Kinh xung phong vào cổng trước, hy sinh. Nghĩa quân bốn phía xông vào Đồn như nước vỡ bờ. Trước sức mạnh của nghĩa quân và quần chúng, bọn lính trong Đồn không còn tinh thần kháng cự, bỏ chạy tán loạn. Nghĩa quân chiếm lĩnh hoàn toàn bên trong Đồn nhưng trên lầu, địch vẫn ngoan cố dùng súng bắn tẻ, cùng lúc gọi điện về Sài Gòn, Thủ Dầu Một cấp cứu. Vì nóng lòng bắt cho được tên Quận Thọ nên đồng chí Đỗ Văn Dậy bám ống máng nước để leo lên tầng trên Đồn. Đến lưng chừng bị trúng đạn, đồng chí bị rơi xuống và hy sinh sau đó. Cuộc chiến đấu đang thế giằng co thì viện binh địch đến. Không thể cầm cự, nghĩa quân rút khỏi thị trấn, phân tán về các làng, lực lượng vũ trang rút về ấp Bến Đò (Tân Phú Trung) rồi di chuyển sang ấp Mỹ Hạnh (Đức Hòa). Cuộc tiến công Đồn Hóc Môn (sau gọi là Dinh Quận Hóc Môn) tuy thất bại nhưng đã để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng mọi người dân sự khâm phục lòng dũng cảm của các chiến sĩ cách mạng trong cuộc chiến đấu chống thực dân cướp nước. Trong chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, 7 giờ sáng ngày 30/4/1975, thị trấn Hóc Môn hoàn toàn được giải phóng, lá cờ Tổ quốc phất phới bay trên Dinh Quận, nơi tên Quận trưởng Nguyễn Như Sang và bọn tay sai đã chạy trốn từ tối đêm trước. Ngày nay Dinh Quận Hóc Môn được chọn làm Bảo tàng huyện, nơi đây tập trung nhiều tư liệu trưng bày, minh họa các giai đoạn lịch sử thăng trầm cũng như khí thế đấu tranh cách mạng của quân và dân trong huyện Hóc Môn qua 2 cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ. Một Tượng đài đặt trước di tích Dinh Quận Hóc Môn thể hiện gương hy sinh bất khuất của quân và dân 18 Thôn Vườn trầu, được công nhận là di tích lịch sử văn hóa cấp Quốc gia. Nguồn: Ủy ban nhân dân huyện Hóc Môn

TP Hồ Chí Minh

14083 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Tòa đại sứ quán Mỹ

Tòa đại sứ quán Mỹ

Di tích tòa Đại sứ Mỹ còn được gọi "Nhà trắng phương Đông" là nơi xuất phát các âm mưu thâm độc về quân sự lẫn chính trị nhằm thôn tính lâu dài đất nước Việt Nam, địa điểm di tích là tòa nhà 5 tầng xây dựng theo kiến trúc hiện đại, tọa lạc tại góc đường Mạc Đĩnh Chi - Lê Duẩn, Phường Bến Nghé, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh, trên một mảnh đất rộng gần 5.000m2. Trước đó, tòa đại sứ Mỹ nằm tại số 39 đường Hàm Nghi. Khoảng 10 giờ sáng ngày 30/3/1963, tòa đại sứ Mỹ trên đường Hàm Nghi đã bị đội Biệt động F21 đánh chất nổ làm sập 3 tầng lầu: 1, 2, 3 do đó Mỹ đã quyết định xây lại. Tòa nhà được khởi công xây dựng vào năm 1965, hầu hết vật liệu cũng như máy móc xây dựng đều được chở từ Mỹ sang, dưới sự điều khiển của kỹ sư người Mỹ. Theo thiết kế, tòa nhà bao bọc bởi 7.800 viên đá Taredo có khả năng chống đỡ mìn, đạn pháo. Cửa chính trang bị bằng thép dầy, những cửa khác chắn bởi lớp kín dầy đặc biệt chống đạn. Tất cả cửa sử dụng hệ thống tự động kể cả cửa sắt chắn lối lên các tầng lầu. Bên trong tòa nhà gồm 140 phòng với 200 nhân viên phục vụ ngày đêm ngoài ra bên cạnh tòa nhà còn được xây thêm một dãy nhà phụ gọi là khu "Norodom" dành riêng cho nhân viên C.I.A. Khi khánh thành, tòa nhà chỉ có 3 tầng. Cuối năm 1966 xây thêm 2 tầng và 1 sân thượng dùng làm nơi hạ cánh cho máy bay lên thẳng. Bao quanh tòa nhà là bức tường cao 3m, hai đầu tường sát đường Lê Duẩn xây 2 lô - cốt cao, canh gác ngày đêm. Tòa Đại sứ hoàn thành tháng 9/1967 với một hệ thống phòng thủ như là một pháo đài có 60 lính gác, một hầm tránh bom, một hệ thống màn hình ra-đa nhằm kiểm soát mặt tiền. Ngay sau khi tòa nhà hoàn tất, ngày 24/9/1967, hàng ngàn sinh viên, học sinh kéo đến trước cổng Đại sứ quán Mỹ đấu tranh đòi "Mỹ chấm dứt ném bom miền Bắc", "Mỹ cút về nước" và ra thông báo tố cáo Mỹ "chà đạp và vi phạm nghiêm trọng quyền tự quyết của nhân dân miền Nam". Nhưng sự kiện nổi bật xảy ra tại Tòa Đại sứ Mỹ là trận đánh của Biệt động thành trong Tổng Tiến công và nổi dậy xuân Mậu Thân 1968. Mục tiêu đánh Đại sứ quán Mỹ được bổ sung ngày 24/ 1/1968 do Ngô Thành Vân phụ trách chung. Đội Biệt động 11 nhận lãnh nhiệm vụ quan trọng này gồm đội trưởng Út Nhỏ (đội trưởng trinh sát quân khu) và các chiến sĩ: Bảy Truyền, Tước, Thanh, Chức, Trần Thế Ninh, Chính, Tài, Văn, Đực, Cao Hoài Vinh, Mang, Sáu và 2 lái xe: Trần Sĩ Hùng và Ngô Văn Thuận. Một sự kiện khác cũng không kém phần tủi nhục cho Toà Đại sứ Mỹ là cảnh hỗn loạn tháo chạy xảy ra trong 2 ngày 29 và 30/04/1975 của Mỹ và đồng bọn. Trước sức tấn công thần tốc của quân và dân Việt Nam trong chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, trên 1.000 người Mỹ và hơn 5.000 người Việt thân Mỹ đã chen lấn, xô đẩy, đạp nhau để tranh giành một chỗ trên sân thượng của toà nhà hòng được trực thăng cứu thoát. Di tích này đã được cấp bằng công nhận của Bộ Văn hoá ngày 25/6/1976. Hiện nay, toà nhà Đại Sứ Mỹ đã bị phá bỏ, xây mới thành lãnh sự quán tại Thành phố Hồ Chí Minh, nhưng cạnh đó một bia tưởng niệm ghi nhớ mãi chiến công của các chiến sĩ biệt động đã hy sinh trong trận đánh. Nguồn: Thành Đoàn Thành phố Hồ Chí Minh

TP Hồ Chí Minh

13984 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Lăng Mai Xuân Thưởng

Lăng Mai Xuân Thưởng

Mai Xuân Thưởng là người lãnh đạo phong trào Cần Vương chống Pháp cuối thế kỷ XIX ở Bình Định. Mai Xuân Thưởng sinh năm Canh Thân 1860, mất năm Đinh Hợi 1887 người thôn Phú Lạc, tổng Phú phong, huyện Tuy Viễn, tỉnh Bình Định (nay là thôn Phú Lạc, xã Bình Thành, huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định). Cha là Mai Xuân Tín làm Bố chánh ở Cao Bằng, mẹ là Huỳnh Thị Nguyệt con của một nhà quyền quý trong làng. Mai Xuân Thưởng vốn là người thông minh, ham học. Năm 18 tuổi (1878) ông đỗ Tú tài tại Trường thi Bình Định. năm 25 tuổi (1885) thi đỗ cử nhân. Hưởng ứng chiếu Cần vương của vua Hàm Nghi, Mai Xuân Thưởng về quê Phú Lạc, chiêu mộ nghĩa binh, lập căn cứ ở hòn Sưng dựng cờ cần vương chống Pháp, sau đó Mai Xuân Thưởng đã đem lực lượng của mình gia nhập vào nghĩa quân do Đào Doãn Địch lãnh đạo và được Đào Doãn Địch phong giữ chức Tán lương quân vụ (phụ trách về lương thực của nghĩa quân). Kể từ đó cho đến năm 1887, phong trào cần vương ở Bình Định phát triển mạnh mẽ và lan ra đến Quảng Ngãi, Phú Yên...thu hút hàng chục ngàn người thuộc mọi tầng lớp tham gia. Ngày 20/9/1885 Đào Doãn Địch mất, giao toàn bộ lực lượng cho Mai Xuân Thưởng. Ông chọn vùng núi Lộc Đổng (nay thuộc xã Bình Tường, huyện Tây Sơn) làm đại bản doanh và tổ chức lễ tế cờ , truyền hịch kêu gọi sỹ phu, văn thân, nhân dân tham gia phong trào cần Vương chống Pháp. Trong buổi lễ ấy, nghĩa quân nhiều vùng trong tỉnh Bình Định đã nhất trí suy tôn ông làm Nguyên soái lãnh đạo cuộc khởi nghĩa và nêu cao khẩu hiệu: “Tiền sát tả, hậu đả Tây”. Đầu năm 1887, quân Pháp dưới sự chỉ huy của Trung tá Cherrean và quân triều đình do Trần Bá Lộc chỉ huy cùng với Công sứ Trira đã mở cuộc tấn công lớn lên căn cứ đại bản doanh của phong trào Cần Vương Bình Định, trận giao chiến giữa lực lượng nghĩa quân với giặc Pháp diễn ra vô cùng ác liệt, cuộc chiến đấu không cân sức, cuối cùng lực lượng khởi nghĩa bị đẩy lùi. Tháng 3 năm 1887, sau trận ác chiến ở Bàu Sấu (thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định), Mai Xuân Thưởng bị thương nặng, nghĩa quân rút về Mật khu Linh Ðổng. Ngày 21 tháng 4 năm 1887, Trần Bá Lộc bao vây đánh chiếm căn cứ mật khu Linh Đổng và bắt được một số nghĩa quân, trong đó có thân mẫu Mai Nguyên Soái. Đêm 30 tháng 4 năm 1887, Mai Xuân Thưởng đã cử một đội quân cảm tử đột nhập doanh trại Trần Bá Lộc, giải vây cho những người bị bắt, ông cùng đoàn thuộc hạ gồm 50 người vượt núi vào Phú Yên, tiếp tục kháng chiến, nhưng khi đến đèo Phú Quý (ranh giới giữa Bình Định và Phú Yên) thị bị phục binh Trần Bá Lộc bắt và đưa ra xử trảm tại Gò Chàm (Phía đông Thành Bình Định). Di tích Lăng mộ nhà yêu nước Mai Xuân Thưởng tọa lạc trên ngọn đồi cao của dãy núi Ngang (thuộc thôn Hòa Sơn, xã Bình Tường, huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định) cách thành phố Quy Nhơn khoảng 50km về hướng Tây Bắc; Lăng mộ được xây dựng trên khu đất rộng 1988m2, khánh thành ngày 22 tháng 1 năm 1961.Về tổng thể, Lăng được thiết kế theo kiểu lăng mộ cổ, xung quanh có thành thấp bao bọc. Cổng Lăng (tam quan) là 4 trụ vuông, phía trên thắt lại theo kiểu bầu lọ mang dáng dấp kiến trúc cổng đình, miếu cuối thế kỷ XIX. Giữa nhà Lăng là mộ phần Mai Xuân Thưởng hình khối chữ nhật theo hướng Đông - Tây; Phía đầu mộ dựng tấm Bia đá khắc bài ký ghi tiểu sử và sự nghiệp của Mai Xuân Thưởng: Di tích được Bộ Văn hóa Thông tin quyết định xếp hạng cấp Quốc Gia ngày 20 tháng 4 năm 1995. Nguồn: UBND Huyện Tây Sơn tỉnh Bình Định

Gia Lai

13671 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Thành Nhà Mạc Ở Cao Bằng (Thành Nà Lữ, Thành Bản Phủ, Thành Phục Hòa)

Thành Nhà Mạc Ở Cao Bằng (Thành Nà Lữ, Thành Bản Phủ, Thành Phục Hòa)

Thời kỳ nhà Mạc đóng đô ở Cao Bằng, để phòng bị quân nhà Lê tiến đánh, nhà Mạc đã tu bổ, sửa chữa thành Na Lữ (nay thuộc xã Hoàng Tung, Hòa An) và thành Bản Phủ (nay thuộc xã Hưng Đạo), thành Phục Hòa, ngoài ra còn xây dựng nhiều thành lũy khác ở Cao Bằng, làm cho Cao Bằng trở thành một trung tâm chính trị và quân sự ở vùng biên viễn Đông Bắc thời bấy giờ. Thành Na Lữ và thành Phục Hoà là hai thành được xây dựng từ trước. Theo ghi chép của Bế Hựu Cung trong Cao Bằng thực lục, thành Na Lữ và thành Phục Hòa mở đầu từ đời Đường Ý Tông năm Giáp Thân, niên hiệu Hàm Thông thứ 5 (874). Căn cứ vào sự hiện diện của nhiều ngôi mộ cổ có đá khắc ghi bia mộ tên, địa chỉ, quê quán những người phu dịch xây thành chết ở đây từ thời Hàm Thông có thể khẳng định hai thành này xây từ đời Đường. Thành Na Lữ được xây qua nhiều triều đại khác nhau. Khi nhà Mạc lên Cao Bằng đã cho xây lại bằng gạch. Thành Na Lữ có hình gần chữ nhật, có tổng diện tích khoảng 37,5 ha, chiều dài khoảng 800 m, chiều rộng khoảng 600 m, thành có 4 cửa. Thành Bản Phủ tại kinh đô Nam Bình, nước Nam Cương của Thục Phán khi xưa ở Cao Bình (Cao Bằng), nhà Mạc đã tu bổ thành Vương phủ tại vòng trong của kinh đô cũ Nam Bình và được gọi là thành Bản Phủ hay Vương phủ. Tại kinh đô Nam Bình xưa của nước Nam Cương và của nhà Mạc, thành Bản Phủ vẫn còn dấu tích khá rõ nét. Kinh đô Nam Bình gồm có hai vòng thành, để bảo vệ kinh thành, vòng ngoài có chu vi khoảng 5 km, gồm cả một vùng gò đồi thấp, quanh chân đồi được bạt dựng đứng như một bức tường thành, thuận lợi cho việc xây dựng phòng tuyến bảo vệ. Bờ thành phía Tây chạy song song với bờ sông Bằng đến đầu làng Bó Mạ, nối bờ thành Đông Nam chảy qua trước mặt Bản Phủ theo chân đồi ra gặp quốc lộ 4, phía Đông Bắc chạy theo chân đồi sát phía ngoài quốc lộ 4, lên đến Đầu gò là phía Tây Bắc tiếp tục chạy theo chân đồi, ra đến bờ sông gặp bờ thành phía Tây tạo thành một vòng thành khép kín. Khi nhà Mạc lên đóng đô đã tu sửa lại và xây dựng thêm một số công trình, trong đó thành Bản Phủ (thành nội - nơi của vua làm việc) được xây lên cao hơn trên các tường thành cũ từ thời kỳ Thục Phán, thành nằm trên một khu đất bằng phẳng. Cùng với việc xây dựng lại kinh thành, nhà Mạc còn xây dựng một hệ thống đồn bốt, thành lũy khá dày xung quanh kinh đô và một số điểm biên giới quan trọng, tạo thành một hệ thống bảo vệ kinh thành và bảo vệ biên giới. Thành Phục Hòa (huyện Phục Hoà) được xây theo kiểu hình vuông, mỗi chiều khoảng 400 m, gồm hai vòng thành, khoảng cách giữa hai vòng là 80 m. Hiện nay, tường thành phía Nam đã bị phá huỷ hoàn toàn. Thành Phục Hòa có 2 cổng chính: Cổng phía Bắc được mở thông ra quốc lộ đi Cửa khẩu Tà Lùng ngày nay, nhân dân thường gọi là Pác Cổng, cổng này được xây theo kiểu hình chữ nhật, rộng 8 m, cao 5 m, gồm hai cánh cổng làm bằng gỗ nghiến dày rất chắc chắn; cổng thứ hai ở phía Nam, mở thông ra bờ sông. Cả hai cổng đều bị san phẳng từ lâu, hiện nay không còn vết tích. Gần thành, tại phía Tây Bắc ngoại thành dọc bờ sông còn có nhiều vết tích lò nung gạch, nhân dân cho biết trong quá trình lao động, khai phá đã tìm thấy ở khu vực này nhiều lò gạch còn nguyên vẹn. Qua nghiên cứu, khảo sát cho thấy, tại Cao Bằng, nhà Mạc đã tu bổ, tôn tạo và xây dựng thêm nhiều thành, đồn luỹ, trong đó tu bổ, tôn tạo xây lại thành Bản Phủ, thành Na Lữ, thành Phục Hoà. Các đồn luỹ này đã tạo thành một hệ thống liên hoàn bảo vệ kinh thành khá vững chắc. Đến nay, những thành cổ nhà Mạc xây dựng thời kỳ đóng đô ở Cao Bằng, một số thành xây dựng bằng đất chỉ còn vết tích, nhưng các thành được xây bằng đá vẫn còn rất rõ. Nguồn: Báo Cao Bằng điện tử

Cao Bằng

13337 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

KHU TƯỞNG NIỆM LIỆT SĨ NGÃ BA GIỒNG, DI TÍCH LỊCH SỬ QUỐC GIA

KHU TƯỞNG NIỆM LIỆT SĨ NGÃ BA GIỒNG, DI TÍCH LỊCH SỬ QUỐC GIA

Di tích Ngã Ba Giồng là di tích lịch sử cách mạng thuộc Ấp 5, xã Xuân Thới Thượng, huyện Hóc Môn. Được bao quanh bởi ba con đường: Phan Văn Hớn, Nguyễn Văn Bứa và tỉnh lộ 19. Khu di tích Ngã Ba Giồng là khu tưởng niệm về những sự kiện lịch sử trong hai cuộc khácg chiến chống ngoại xâm. Được công nhận là di tích lịch sử cấp quốc gia vào năm 2002. Ngã ba Giòng (còn có tên gọi đầy đủ là Ngã ba Giòng Bằng Lăng) nằm trên địa phận thôn Xuân Thới Tây thuộc 18 thôn vườn trầu xưa được hình thành từ những năm 1698 đến năm 1731. Từ lâu đời, Ngã ba Giồng là 1 địa danh có tên gọi dân gian đã đi vào lịch sử của quê hương 18 thôn vườn trầu Hóc Môn – Bà Điểm. Tục truyền rằng xưa kia nơi đây là 1 vùng đất giồng tương đối cao ráo và là nơi mọc nhiều cây bằng lăng nên địa danh này có tên gọi từ đó. Sau khi cuộc khởi nghĩa Nam kỳ (23/11/1940) bị thất bại, thực dân Pháp đã tăng cường đàn áp, khủng bố khốc liệt phong trào cách mạng vùng Hóc Môn – Bà Điểm. Chúng đã lập ra ở Hóc Môn 3 trường bắn để giết hại các đồng chí lãnh đạo Đảng, các đồng chí đồng bào yêu nước của quê hương Hóc Môn và các vùng lân cận. Ngã ba Giồng là trường bắn thứ ba ghi lại tội ác tày trời của giặc pháp và bọn tay sai đối với nhân dân Hóc Môn. Rút kinh nghiệm từ 2 trường bắn trước (1 tại rạp hát cũ trung tâm Quận lỵ Hóc Môn, 1 cạnh giếng nước sau Bệnh viện Hóc Môn ngày nay), chúng xử bắn công khai, bắt nhân dân đến xem nhằm mục đích uy hiếp tinh thần cách mạng của nhân dân Hóc Môn. Nhưng cách xử bắn đó đã phản tác dụng, nhân dân Hóc Môn đã tận mắt chứng kiến sự tàn ác của thực dân Pháp, sự hy sinh cao cả của các chiến sĩ cộng sản nên ngọn lửa yêu nước của họ càng bùng lên mãnh liệt. Trường bắn thứ 3 này, chúng không dám xây dựng gần trung tâm Quận lỵ nữa mà đưa ra khu vực Ngã ba Giồng là vùng hoang vắng, thưa dân để tránh sự phản kháng của nhân dân. Tại đây, chúng xây dựng thành 1 trường bắn có mô đất kiên cố dài 12m, cao 2,2m, phía trước có trồng 6 cột bắn, mỗi cột cao 1.7m, hướng bắn quay về phía đồng ruộng (bưng Tràm Lạc). Vào năm 1941, tại đây chúng lén lúc xử bắn rất nhiều lần, không cho nhân dân xem, hàng trăm chiến sĩ cộng sản và đồng bào yêu nước bị chúng giết hại. Với ý nghĩa lịch sử vô cùng thiêng liêng của Ngã ba Giồng, nơi ghi dấu tội ác dã man của giặc Pháp, nơi thể hiện ý chí chiến đấu bất khuất kiên cường và sự hy sinh cao cả của đồng chí và đồng bào ta sau cuộc khởi nghĩa Nam kỳ (23/11/1940); sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng (30/4/1975), huyện Hóc Môn đã nhanh chóng khôi phục và tôn tạo khu di tích lịch sử cách mạng Ngã ba Giồng nhằm giáo dục truyền thống cho các thế hệ thanh thiếu niên. Nơi đây đã trở thành điểm tham quan, nơi tổ chức lễ hội truyền thống trong những ngày lễ lớn hàng năm của huyện Hóc Môn và thành phố đặc biệt là lễ kỷ niệm ngày Nam kỳ Khởi nghĩa (23/11). Hiện nay được sự nhất trí của thành phố, huyện đang tiến hành tôn tạo xây dựng Ngã ba Giồng thành “Khu tưởng niệm liệt sĩ Ngã ba Giồng”. Nguồn: Cổng thông tin điện tử Hóc Môn

TP Hồ Chí Minh

13180 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở