Di tích lịch sử

Xem dạng bản đồViệt nam

Danh sách điểm di tích (1436)

Đền thờ Chủ tịch Hồ Chí Minh

Đền thờ Chủ tịch Hồ Chí Minh

Đền thờ Chủ tịch Hồ Chí Minh tọa lạc tại khóm Vĩnh Hội, phường Long Đức, tỉnh Vĩnh Long, là di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia, đồng thời là biểu tượng cho lòng kính yêu Bác Hồ và tinh thần cách mạng kiên cường của nhân dân miền Nam. Đền được khởi công ngày 10/3/1970, giữa những năm tháng chiến tranh ác liệt. Công trình được xây dựng trên một giồng cát cao, diện tích ban đầu hơn 1.223m². Để tránh sự phát hiện và pháo kích của địch, người dân phải bí mật thi công vào ban đêm. Sau nhiều tháng gian khó, đền được khánh thành vào ngày 26/1/1971. Lời thề “Quyết tâm đánh bại kẻ thù để làm quà dâng Bác” đã thể hiện tình cảm sâu sắc và quyết tâm của quân dân Nam Bộ. Trong chiến tranh, đền nhiều lần bị địch càn quét, đốt phá và bắn phá. Tuy nhiên, người dân địa phương vẫn kiên trì bảo vệ, từng bước xây dựng lại đền kiên cố hơn. Dù bom đạn tàn phá, công trình vẫn được gìn giữ, trở thành biểu tượng cho ý chí bất khuất và lòng son sắt của nhân dân miền Nam đối với Bác Hồ. Ngày nay, khu di tích có diện tích khoảng 5,4 ha, được xây dựng và tôn tạo qua nhiều giai đoạn. Nổi bật là Nhà sàn Bác Hồ, được phục dựng năm 2012 theo mô hình nhà sàn của Bác tại Hà Nội. Khu di tích còn có không gian cây xanh, nhà trưng bày cùng nhiều hình ảnh, hiện vật giới thiệu về quá trình xây dựng và bảo vệ đền trong những năm kháng chiến. Hơn nửa thế kỷ qua, Đền thờ Bác Hồ ở Vĩnh Long không chỉ là nơi người dân dâng hương tưởng nhớ Chủ tịch Hồ Chí Minh mà còn là “địa chỉ đỏ” giáo dục truyền thống yêu nước, cách mạng cho các thế hệ. Di tích là minh chứng cho tình cảm sâu nặng của đồng bào miền Nam đối với Bác, đồng thời góp phần nhắc nhớ về tinh thần đoàn kết, ý chí đấu tranh vì độc lập, tự do của dân tộc. Nguồn: Thời báo VTV

Vĩnh Long

244 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Đình làng Sét

Đình làng Sét

Đình làng Sét nằm ở thôn Sét, xã Định Tân, tỉnh Thanh Hóa, vùng đất được hình thành từ khoảng thế kỷ XIV–XV. Theo lịch sử làng, ông Trương Cảnh Tường, người quê Yên Vực, Hoằng Hóa, là người đầu tiên đến khai hoang, lập ấp tại núi Quy Sơn. Từ vùng đất ban đầu mang tên Ấp Sát, cư dân dần mở rộng xuống đồng bằng, hình thành làng Sát, nay là làng Sét. Nổi bật trong không gian văn hóa của làng là Đình làng Sét, được xây dựng vào năm 1595, dưới thời vua Lê Thế Tông. Trải qua hơn 400 năm với nhiều biến động lịch sử và những lần trùng tu, tôn tạo, ngôi đình vẫn lưu giữ được nhiều nét kiến trúc cổ kính. Cổng đình nổi bật với hai cột cao gần 10m cùng đôi câu đối, tạo nên vẻ uy nghiêm cho di tích. Đình làng Sét là nơi thờ Đô đốc quận công Thượng tướng quân Trương Cảnh Phúc, Trương Đình Lễ và Ngọc Nữ thần nương Trương Thị Phương – những nhân vật được nhân dân địa phương tôn kính. Không chỉ là nơi sinh hoạt tín ngưỡng, đình còn gắn bó với đời sống cộng đồng và lịch sử phát triển của làng Sét. Hằng năm, từ ngày 10 đến 12 tháng 3 âm lịch, người dân địa phương tổ chức lễ hội Kỳ phúc, cầu mong mưa thuận gió hòa, cuộc sống bình an, no ấm. Nguồn: Báo phát thanh và truyền hình Thanh Hóa

Thanh Hóa

284 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Đình Phú Đa

Đình Phú Đa

Đình Phú Đa là một ngôi đình cổ thuộc xã Bình Phú, thành phố Hà Nội, được Bộ Văn hóa và Thông tin xếp hạng Di tích kiến trúc nghệ thuật năm 1993. Đây cũng là nơi gắn với truyền thống múa rối nước nổi tiếng của làng Gia, tên Nôm của thôn Phú Đa, từng thường xuyên biểu diễn rối nước tại chùa Thầy. Đình có kiến trúc một tòa nhà ngang gồm 5 gian 2 chái, bốn mái đao cong và hệ thống 7 bộ vì theo kiểu thượng rường, hạ bẩy. Các cấu kiện gỗ trong đình còn lưu giữ nhiều dấu tích kiến trúc cổ. Đặc biệt, những mảng chạm khắc rồng, hình người cưỡi ngựa, thiếu nữ ca hát thể hiện trình độ nghệ thuật tinh tế, tiêu biểu cho mỹ thuật thế kỷ XVIII. Hình tượng rồng với mắt lồi, mũi lớn, tai dơi, bờm lưỡi mác, thân uốn cong sinh động mang đậm phong cách nghệ thuật thời Hậu Lê. Đình Phú Đa thờ Đào Khang, một vị tướng thời Hai Bà Trưng. Theo truyền thuyết, ông có công giúp Hai Bà Trưng đánh giặc Tô Định, đồng thời lập trang trại tại vùng Phú Đa, dạy dân canh tác, khơi mương, đào ngòi, góp phần xây dựng cuộc sống của cư dân địa phương và được tôn làm phúc thần. Bên cạnh giá trị lịch sử và kiến trúc, đình còn lưu giữ nhiều đồ thờ có giá trị nghệ thuật thời Lê và thời Nguyễn, đặc biệt là bộ tượng rối nước cổ từng được sử dụng trong các buổi biểu diễn. Bàn thờ tổ nghề múa hát, tục gọi là Đức Thánh Nhà Trò, cũng là minh chứng cho truyền thống nghệ thuật dân gian lâu đời của làng. Hằng năm, hội làng được tổ chức vào mùng 3 tháng 4 âm lịch, với các nghi lễ tưởng niệm Đào Khang cùng các hoạt động múa gậy và múa rối nước tại ao trước đình. Nguồn: Hà Nội Danh thắng và Di tích

Hà Nội

304 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Đình Phú Điền

Đình Phú Điền

Đình Phú Điền là một công trình kiến trúc cổ tiêu biểu nằm trong Quần thể Di tích quốc gia đặc biệt Bà Triệu, mang đậm dấu ấn văn hóa làng xã truyền thống của xứ Thanh. Di tích gắn liền với việc thờ Triệu Thị Trinh – Bà Triệu, người nữ anh hùng dân tộc đã đứng lên chống quân Ngô vào thế kỷ III. Theo truyền thuyết, sau khi Bà Triệu hy sinh trên núi Tùng, người dân Phú Điền đã lập đình thờ bà và tôn làm Thành hoàng làng. Đến thế kỷ XVIII, đình được xây dựng theo phong cách kiến trúc đình làng truyền thống. Trải qua nhiều thế kỷ, công trình vẫn được nhân dân gìn giữ tương đối nguyên vẹn và trở thành nơi sinh hoạt văn hóa, tín ngưỡng của cộng đồng. Đình Phú Điền gồm các hạng mục chính như Nghinh môn, Đại đình, tiền đường và hậu cung. Điểm nổi bật của di tích là nghệ thuật chạm khắc gỗ tinh xảo với nhiều hình tượng tứ linh: long, ly, quy, phượng, cùng các họa tiết cây cỏ, hoa lá và hình ảnh voi, ngựa, hươu, gà… Những mảng chạm khắc không chỉ tạo nên vẻ đẹp nghệ thuật mà còn thể hiện ước vọng của người dân về cuộc sống bình yên, no đủ. Đặc biệt, đình hiện còn lưu giữ 64 sắc phong cổ qua các triều đại phong kiến, được xem là những tư liệu quý phản ánh lịch sử và tín ngưỡng của cộng đồng địa phương. Hằng năm vào tháng 2 âm lịch, lễ hội truyền thống được tổ chức tại Phú Điền để tưởng nhớ công lao của Bà Triệu, với các nghi lễ tế, rước kiệu cùng nhiều hoạt động văn hóa, trò chơi dân gian. Nguồn: Báo phát thanh và truyền hình Thanh Hóa

Thanh Hóa

284 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia đặc biệt

Mở

Bích Câu Đạo Quán

Bích Câu Đạo Quán

Bích Câu Đạo Quán, nằm trên phố Cát Linh, Hà Nội, là một di tích văn hóa – lịch sử gắn với những huyền tích về Trần Tú Uyên, nơi được ví như một “bồng lai tiên cảnh” giữa kinh thành Thăng Long xưa. Theo truyền thuyết, xưa kia Trần Tú Uyên là một chàng thư sinh dựng quán đọc sách trên gò cao đầu phố Bích Câu. Trong một lần đi dự hội, chàng gặp một cô gái xinh đẹp rồi đem lòng tương tư. Sau đó, chàng mua một bức tranh tố nữ giống người con gái ấy về nhà. Kỳ lạ thay, từ trong tranh bước ra một tiên nữ tên Giáng Kiều. Hai người nên duyên, cùng nhau bốc thuốc cứu người, tu tiên học đạo và làm nhiều việc thiện. Sau khi đắc đạo, Trần Tú Uyên được vua Lê Thánh Tông truy phong là “An Quốc chân nhân”. Từ cuối thế kỷ XV, đầu thế kỷ XVI, nơi đây được phát triển thành một đạo quán mang đậm dấu ấn Đạo giáo. Bích Câu Đạo Quán từng là nơi các đạo sĩ tu luyện, đồng thời cũng là chốn tao nhân mặc khách, quan lại và nho sinh tìm đến thưởng cảnh, ngâm vịnh thơ ca. Trải qua nhiều biến động, di tích từng xuống cấp và bị tàn phá, nhưng sau đó được nhân dân nhiều lần tu bổ. Ngày nay, Bích Câu Đạo Quán có kiến trúc gồm Nghi môn, tiền tế, hậu cung, nhà Mẫu và nhà khách, đồng thời lưu giữ nhiều tượng thờ, bia đá và hiện vật có giá trị. Nguồn: Báo Dân Việt

Hà Nội

294 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Lăng mộ và Đền thờ Nguyễn Xí

Lăng mộ và Đền thờ Nguyễn Xí

Lăng mộ và Đền thờ Nguyễn Xí là di tích lịch sử, kiến trúc nghệ thuật tiêu biểu của xứ Nghệ, gắn với cuộc đời và sự nghiệp của Cương Quốc công Nguyễn Xí – một danh tướng, nhà chính trị lỗi lạc dưới triều Hậu Lê. Nguyễn Xí sinh năm 1397 tại Thượng Xá, nay thuộc xã Đông Lộc, tỉnh Nghệ An. Ông tham gia khởi nghĩa Lam Sơn từ những ngày đầu và cùng nghĩa quân lập nhiều chiến công lớn như Bồ Đằng, Trà Lân, Tốt Động – Chúc Động, Xương Giang và Đông Quan. Sau khi đất nước giành độc lập, ông tiếp tục phò tá qua bốn triều vua Lê, có nhiều đóng góp trong xây dựng và bảo vệ quốc gia Đại Việt. Không chỉ có công lao trên chính trường và trận mạc, Nguyễn Xí còn chú trọng khai hoang, lập làng, phát triển giao thông, chợ búa và đời sống nhân dân, đặc biệt tại vùng Cửa Lò – Cửa Hội. Những đóng góp ấy đã để lại dấu ấn sâu đậm trong lịch sử hình thành và phát triển của vùng đất Nghệ An. Nguyễn Xí mất năm 1465, hưởng thọ 69 tuổi và được an táng tại quê nhà. Hai năm sau, vua Lê Thánh Tông cho xây dựng đền thờ ông. Ngày nay, khu lăng mộ và đền thờ cách nhau khoảng 300 mét, nằm giữa không gian làng quê thanh bình. Đền có kiến trúc “nội công, ngoại quốc”, nổi bật với hồ bán nguyệt, hệ thống nghi môn, các công trình gỗ được chạm khắc tinh xảo cùng nhiều đề tài tứ linh, tứ quý và hoa lá truyền thống. Đây là địa chỉ văn hóa – lịch sử quan trọng, góp phần giáo dục truyền thống yêu nước, đạo lý trung nghĩa và niềm tự hào về quê hương xứ Nghệ. Nguồn: Cục Di sản văn hóa

Nghệ An

268 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia đặc biệt

Mở

Đình An Vĩnh

Đình An Vĩnh

Đình An Vĩnh là một trong những ngôi đình cổ tiêu biểu trên đảo Lý Sơn, mang giá trị đặc biệt về lịch sử, văn hóa và chủ quyền biển đảo của Việt Nam. Đình được xây dựng từ khoảng thế kỷ XVIII, trải qua nhiều biến động của thời gian, chiến tranh và thiên tai nhưng vẫn được các thế hệ người dân gìn giữ, trùng tu và bảo tồn. Đình tọa lạc gần cảng biển Lý Sơn, có khuôn viên khoảng 2.000m², mặt đình hướng về đất liền. Công trình mang phong cách kiến trúc thời Nguyễn, có kết cấu hình chữ Tam với đình hạ, đình trung và đình thượng liên kết với nhau. Các họa tiết tứ linh, ngũ phúc được thể hiện trên mái và các cấu kiện kiến trúc, gửi gắm ước vọng về cuộc sống bình an, no đủ của cộng đồng cư dân biển đảo. Đình An Vĩnh còn là nơi thờ các vị tiền hiền và là trung tâm sinh hoạt cộng đồng của 13 dòng họ trên đảo Lý Sơn. Đặc biệt, đây là một trong những địa điểm quan trọng diễn ra Lễ Khao lề thế lính Hoàng Sa vào tháng 3 âm lịch hằng năm. Nghi lễ tưởng nhớ những người lính năm xưa đã vâng mệnh triều đình vượt biển ra Hoàng Sa, Trường Sa thực thi nhiệm vụ, góp phần bảo vệ và khẳng định chủ quyền biển đảo của Việt Nam. Cùng với giá trị kiến trúc và các sinh hoạt văn hóa truyền thống, Đình An Vĩnh là nơi lưu giữ những ký ức lịch sử của cộng đồng cư dân Lý Sơn, thể hiện đạo lý “uống nước nhớ nguồn”, lòng yêu nước và ý thức gìn giữ chủ quyền biển đảo. Đình An Vĩnh đã được xếp hạng Di tích quốc gia, trong khi Lễ Khao lề thế lính Hoàng Sa được công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia. Ngày nay, di tích là điểm đến giàu ý nghĩa đối với du khách khi đến Lý Sơn, góp phần giới thiệu những giá trị văn hóa đặc sắc và truyền thống bảo vệ chủ quyền biển đảo của dân tộc Việt Nam. Nguồn: Báo và Phát thanh, Truyền hình Quảng Ngãi

Quảng Ngãi

298 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Lẫm Phú Lâm

Lẫm Phú Lâm

Lẫm Phú Lâm là một di tích đặc sắc của vùng đất Phú Yên, mang giá trị nổi bật về lịch sử, văn hóa và kiến trúc nghệ thuật. Di tích tọa lạc tại phường Phú Yên, tỉnh Đắk Lắk, trong khuôn viên rộng khoảng 4.000m². Lẫm được hình thành từ xa xưa, ban đầu là nơi chứa nông sản của thôn Phú Lâm, đồng thời là nơi thờ tiền hiền Huỳnh Đức Chiếu – người có công khai phá, tạo dựng vùng đất này. Đây cũng từng là nơi làm việc của bộ máy quản lý thôn và hội họp bàn việc chung của cộng đồng. Điểm đặc biệt nhất của Lẫm Phú Lâm là kiến trúc nhà lá mái, một kiểu kiến trúc truyền thống mang tính đặc thù của Phú Yên và Nam Trung Bộ. Lẫm gồm 3 gian chính và 2 gian phụ, có hệ thống khung gỗ vững chắc với 26 cột. Đặc biệt, công trình có hai lớp mái: lớp mái dưới đắp đất nện trên nền nan tre và lớp mái trên lợp lá tranh, vừa tạo sự bền chắc, vừa thích nghi với khí hậu khắc nghiệt của miền Trung. Bên trong lẫm còn lưu giữ nhiều mảng chạm khắc gỗ tinh xảo với các đề tài truyền thống như long, phượng, tùng, mai, trúc, cúc, chữ thọ, tùng lộc, thể hiện trình độ mỹ thuật và kỹ thuật của nghệ nhân xưa. Trong khuôn viên di tích còn có các công trình tín ngưỡng, cùng hệ thống sắc phong cổ có giá trị về lịch sử và văn hóa. Là một trong những công trình nhà gỗ truyền thống còn tương đối nguyên vẹn, Lẫm Phú Lâm có ý nghĩa đặc biệt trong việc nghiên cứu lịch sử khai phá, đời sống cộng đồng và kiến trúc dân gian vùng Nam Trung Bộ. Nguồn: Báo Đắk Lắk điện tử.

Đắk Lắk

309 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Núi Mã Yên

Núi Mã Yên

Núi Mã Yên – nơi an nghỉ của hai vị vua triều Đinh – Tiền Lê. Núi Mã Yên là ngọn núi đá vôi nằm trong Khu di tích quốc gia đặc biệt Cố đô Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình, có dáng núi tựa chiếc yên ngựa, độ cao khoảng 80–200m. Núi gắn liền với lịch sử triều Đinh – Tiền Lê, triều đại có vai trò đặc biệt quan trọng trong lịch sử dân tộc thế kỷ X. Đây cũng là nơi đặt lăng mộ vua Đinh Tiên Hoàng và vua Lê Đại Hành. Trên đỉnh núi Mã Yên là lăng vua Đinh Tiên Hoàng. Để lên tới lăng, du khách phải vượt qua hơn 200 bậc đá men theo sườn núi. Từ trên cao, có thể phóng tầm mắt bao quát toàn cảnh vùng Cố đô Hoa Lư với những dãy núi đá vôi trùng điệp, cánh đồng và làng quê thanh bình. Vị trí trên cao cũng tạo nên một không gian vừa khoáng đạt, vừa linh thiêng cho nơi an nghỉ của vị vua đã có công dẹp loạn 12 sứ quân, thống nhất đất nước và lập nên nhà nước Đại Cồ Việt năm 968. Dưới chân núi Mã Yên là lăng vua Lê Đại Hành, nằm trong khuôn viên rộng, dựa lưng vào núi và hướng ra cánh đồng phía trước. Nếu lăng vua Đinh nằm trên đỉnh núi, thì lăng vua Lê ở dưới chân núi, tạo nên nét đặc biệt cho quần thể di tích. Lê Đại Hành là người kế tục sự nghiệp của nhà Đinh, đồng thời có công lớn trong việc lãnh đạo quân dân Đại Cồ Việt đánh bại quân Tống xâm lược năm 981, bảo vệ nền độc lập của đất nước. Ngày nay, núi Mã Yên cùng lăng mộ hai vị vua không chỉ là điểm tham quan nổi tiếng của Cố đô Hoa Lư mà còn là nơi để du khách tìm hiểu về một giai đoạn đầy biến động nhưng có ý nghĩa lớn trong tiến trình dựng nước và giữ nước của dân tộc. Nguồn: Báo điện tử Dân Việt

Ninh Bình

326 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia đặc biệt

Mở

Quỷ Môn Quan (Núi Mặt Quỷ)

Quỷ Môn Quan (Núi Mặt Quỷ)

Núi Mặt Quỷ là một điểm di tích trong Khu di tích quốc gia đặc biệt Chi Lăng, thuộc xã Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn, mang nhiều giá trị về lịch sử, văn hóa và cảnh quan, thu hút du khách tìm hiểu về vùng đất từng ghi dấu nhiều chiến thắng trong lịch sử dân tộc. Núi gây ấn tượng bởi một vách đá tự nhiên có hình dáng giống khuôn mặt quỷ, với những hốc đá tạo thành mắt, mũi khá rõ nét. Theo truyền thuyết dân gian, núi Mặt Quỷ không phải biểu tượng của điều dữ mà được xem như vị thần bảo dân, hộ quốc, gắn với những chiến công chống giặc ngoại xâm trên vùng đất Chi Lăng. Nơi đây còn lưu truyền câu chuyện về Liễu Thăng, tướng nhà Minh, sau khi bị chém ở núi Mã Yên đã chạy về phía Bắc, nhưng khi đến chân núi Mặt Quỷ thì kinh hãi, ngã ngựa và tử trận. Những câu chuyện dân gian ấy góp phần làm nên vẻ kỳ bí và sức hấp dẫn của địa danh này. Nguồn: Báo điện tử Pháp luật Việt Nam

Lạng Sơn

200 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia đặc biệt

Mở

Đền Đống Nước

Đền Đống Nước

Đền Đống Nước thuộc làng Ngọc Hà, nay là phường Ngọc Hà, Hà Nội. Theo truyền thuyết, xưa kia vùng đất này thường xuất hiện những mạch nước từ lòng đất phun lên thành từng đống nước, nên dân gian gọi là Đống Nước. Ngọc phả kể rằng, nơi đây thờ Ngọc Nương công chúa – người được cho là con gái Long Vương, từng hiển linh giúp vua Trần Anh Tông đánh giặc. Sau khi thắng trận, nhà vua cho tu sửa miếu và phong thần hiệu cho bà. Ngôi đền hiện nay mang nhiều dấu ấn kiến trúc thời Nguyễn, gồm tam quan, sân vườn, tả mạc, hữu mạc, đền chính và hậu cung. Bên trong, các khám thờ, cửa võng, nhang án được chạm trổ tinh xảo; đặc biệt là không gian thờ Tam Tòa Thánh Mẫu cùng các vị thần trong tín ngưỡng dân gian. Không chỉ có giá trị về kiến trúc và tín ngưỡng, Đền Đống Nước còn là nơi sinh hoạt văn hóa cộng đồng của cư dân làng Ngọc Hà và các làng trại lân cận. Hằng năm, hội đền được tổ chức vào ngày 21 tháng 3 âm lịch với các nghi lễ dâng hương, rước kiệu và các hoạt động văn hóa truyền thống. Với những giá trị tiêu biểu về lịch sử, kiến trúc và văn hóa dân gian, Đền Đống Nước đã được xếp hạng Di tích cấp quốc gia năm 1993. Đây là một trong những di tích góp phần lưu giữ dấu ấn của các làng cổ phía Tây kinh thành Thăng Long xưa. Theo: Hà Nội Danh thắng và Di tích

Hà Nội

364 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Đình Tân Ngãi

Đình Tân Ngãi

Đình Tân Ngãi tọa lạc tại ấp Tân Ngãi, xã Phước Mỹ Trung, tỉnh Vĩnh Long. Đình được xây dựng năm 1850, được phong sắc thần dưới triều vua Tự Đức năm 1852. Trải qua chiến tranh và nhiều lần tu bổ, ngôi đình vẫn được người dân gìn giữ như một không gian tín ngưỡng và sinh hoạt văn hóa cộng đồng. Đình là nơi thờ Bổn Cảnh Thành Hoàng, các vị tiền hiền, hậu hiền, cầu mong quốc thái dân an, mưa thuận gió hòa, mùa màng thuận lợi. Đặc biệt, nơi đây còn ghi dấu nhiều sự kiện quan trọng trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ. Từ năm 1930, đình đã là nơi tổ chức mít tinh, tuyên truyền cách mạng. Trong những năm kháng chiến, đình từng là nơi thành lập chính quyền, tổ chức các hội nghị, mở lớp bình dân học vụ, vận động nhân dân đóng góp “Tuần lễ vàng”. Đặc biệt, từ năm 1960 đến 1975, đình trở thành cơ sở cách mạng quan trọng, nơi cất giấu tài liệu, vũ khí, tiếp nhận thương binh, tập kết quân lương và tổ chức lực lượng chiến đấu. Với những giá trị tiêu biểu về tín ngưỡng dân gian và lịch sử cách mạng, đình Tân Ngãi được công nhận là Di tích lịch sử - văn hóa. Nguồn: Trang thông tin điện tử UBND xã Phước Mỹ Trung

Vĩnh Long

348 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Chùa Ba Si

Chùa Ba Si

Chùa Ba Si, còn gọi là chùa Pysey Varapram, tọa lạc tại ấp Giồng Chùa, xã Phương Thạnh, tỉnh Vĩnh Long theo địa giới hành chính mới. Ngôi chùa được xây dựng từ cuối thế kỷ XVII, trải qua 11 đời trụ trì và là một trong những công trình tiêu biểu cho đời sống văn hóa, tín ngưỡng của đồng bào Khmer tại Trà Vinh. Chùa có khuôn viên rộng khoảng 6 ha, nằm dưới những tán cây cổ thụ, gồm nhiều công trình như cổng, chính điện, thư viện, trai đường và trường học Pali. Kiến trúc chùa mang đậm đặc trưng văn hóa Khmer, thể hiện qua cách bài trí và các đường nét trang trí giàu tính nghệ thuật. Không chỉ là nơi sinh hoạt, hành đạo của đông đảo sư sãi, phật tử và đồng bào Khmer, trong những năm tháng kháng chiến, chùa Ba Si còn là nơi nuôi dưỡng, che chở cán bộ cách mạng địa phương. Với những giá trị nổi bật về lịch sử và văn hóa, chùa Ba Si được Bộ Văn hóa – Thể thao và Du lịch công nhận là Di tích lịch sử Quốc gia năm 2012. Ngày nay, nơi đây tiếp tục là điểm sinh hoạt văn hóa, tín ngưỡng quan trọng, góp phần gìn giữ bản sắc văn hóa Khmer Nam Bộ. Nguồn: Báo Công an Nhân dân

Vĩnh Long

350 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Biệt khu Hải Yến – Bình Hưng

Biệt khu Hải Yến – Bình Hưng

Biệt khu Hải Yến – Bình Hưng nằm tại ấp Thanh Đạm, xã Tân Hải, tỉnh Cà Mau, bên kênh Cái Đôi, cách thị trấn Cái Đôi Vàm khoảng 4 km. Đây là một di tích lịch sử ghi dấu những năm tháng chiến tranh đầy đau thương trên vùng đất Cà Mau. Năm 1957, chính quyền Mỹ - Diệm đưa Nguyễn Lạc Hóa cùng một số hộ dân di cư đến khu vực này, sau đó từng bước xây dựng lực lượng vũ trang và thành lập biệt khu Hải Yến – Bình Hưng. Từ đây, khu vực này trở thành nơi hoạt động của một lực lượng vũ trang chống cách mạng, gây ra nhiều vụ khủng bố, sát hại cán bộ và nhân dân. Theo số liệu của Bảo tàng tỉnh Cà Mau, 1.675 cán bộ và đồng bào đã bị sát hại tại khu vực này. Những mất mát ấy là chứng tích tố cáo tội ác chiến tranh, đồng thời nhắc nhở các thế hệ hôm nay về giá trị của hòa bình và sự hy sinh của cha ông. Ngày nay, Đài tưởng niệm Biệt khu Hải Yến – Bình Hưng được xây dựng tại khu di tích, là nơi tưởng niệm các nạn nhân và giáo dục truyền thống lịch sử cho thế hệ trẻ. Với những giá trị lịch sử đặc biệt, Biệt khu Hải Yến – Bình Hưng được công nhận là Di tích lịch sử - văn hóa cấp Quốc gia ngày 24/11/2000. Nguồn: Cổng Thông tin Điện tử tỉnh Cà Mau

Cà Mau

302 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Di chỉ hang Phia Điểm

Di chỉ hang Phia Điểm

Di chỉ hang Phia Điểm – Dấu tích cư trú của người Việt cổ. Di chỉ hang Phia Điểm nằm tại thôn Nà Soong, xã Yên Trạch, tỉnh Lạng Sơn, là một di tích khảo cổ có giá trị, được xếp hạng di tích lịch sử cấp quốc gia năm 2003. Hang Phia Điểm thuộc không gian văn hóa Mai Pha, có niên đại khoảng 5.000–3.500 năm trước, thuộc hậu kỳ Đá mới – sơ kỳ Kim khí. Qua các đợt khảo sát, các nhà khảo cổ đã phát hiện nhiều hiện vật như rìu đá, mảnh tước, bát bồng, âu gốm, cùng hàng nghìn vỏ nhuyễn thể và xương, răng động vật. Những dấu tích này cho thấy cư dân cổ đã từng sinh sống, lao động và kiếm sống tại đây từ hàng nghìn năm trước. Không chỉ có giá trị khảo cổ, hang Phia Điểm còn sở hữu cảnh quan tự nhiên khá độc đáo với những nhũ đá và các khối núi đá mang hình thù kỳ thú. Đây là điểm đến phù hợp với những ai yêu thích khám phá lịch sử và thiên nhiên. Ngày nay, việc bảo tồn di chỉ Phia Điểm có ý nghĩa quan trọng trong việc gìn giữ những chứng tích về quá trình cư trú và phát triển của cư dân cổ trên vùng đất Lạng Sơn. Nguồn: Trang thông tin Di tích lịch sử, văn hóa Việt Nam

Lạng Sơn

231 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Nhà bia Trương Vĩnh Ký

Nhà bia Trương Vĩnh Ký

Nhà bia Trương Vĩnh Ký nằm tại xã Vĩnh Thành, tỉnh Vĩnh Long, là công trình được dựng tại quê hương, ghi dấu nơi sinh của nhà bác học Trương Vĩnh Ký (1837–1898). Theo tư liệu địa phương, ông sinh ngày 6/12/1837 tại làng Vĩnh Thành, còn gọi là Cái Mơn. Nhà bia được xây dựng theo kiểu bốn mặt thoáng, gồm 16 cột tròn, mái ngói; ở trung tâm là tấm bia đá xanh cao khoảng 2,5 m. Mặt trước bia được khắc bằng ba ngôn ngữ: Pháp, Hán và Quốc ngữ, tạo nên nét đặc biệt cho công trình tưởng niệm một học giả nổi tiếng về ngôn ngữ. Không chỉ có giá trị tưởng niệm, Nhà bia Trương Vĩnh Ký còn là một điểm lưu dấu về quê hương của người có nhiều đóng góp cho chữ Quốc ngữ, giáo dục, học thuật và báo chí Việt Nam. Ngày nay, công trình tiếp tục được gìn giữ như một địa điểm văn hóa gắn với vùng đất Cái Mơn. Nguồn: Cổng Thông tin điện tử tỉnh Vĩnh Long

Vĩnh Long

332 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Di tích lịch sử Giồng Thị Đam – Gò Quản Cung

Di tích lịch sử Giồng Thị Đam – Gò Quản Cung

Di tích lịch sử Giồng Thị Đam – Gò Quản Cung, nay thuộc xã An Phước, tỉnh Đồng Tháp, là địa danh gắn với một chiến thắng có ý nghĩa quan trọng trong phong trào cách mạng ở Nam Bộ. Ngày 26/9/1959, Tiểu đoàn 502 của tỉnh Kiến Phong đã tổ chức trận đánh tại Giồng Thị Đam, tiêu diệt và làm tan rã một bộ phận lớn lực lượng quân địch đang hành quân trên vùng sông nước Đồng Tháp Mười. Ngay sau đó, tại Gò Quản Cung, quân ta tiếp tục đánh bại lực lượng địch đến cứu viện. Chỉ với 42 tay súng, Tiểu đoàn 502 đã giành thắng lợi trước lực lượng đông hơn nhiều lần, thu nhiều vũ khí, phương tiện và bắt giữ tù binh. Chiến thắng Giồng Thị Đam – Gò Quản Cung có ý nghĩa đặc biệt, góp phần nâng cao uy tín của cách mạng, củng cố niềm tin và cổ vũ tinh thần đấu tranh của nhân dân Kiến Phong cũng như các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long. Đây được xem là một trong những trận đánh tiêu biểu của phong trào Đồng khởi ở miền Nam. Để ghi nhớ chiến công lịch sử, khu di tích được xây dựng và bảo tồn tại nơi diễn ra trận đánh. Ngày 19/1/2004, Di tích lịch sử Giồng Thị Đam – Gò Quản Cung được công nhận là Di tích lịch sử quốc gia. Nguồn: Bảo tàng tỉnh Đồng Tháp

Đồng Tháp

149 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Nhà thờ Cái Mơn

Nhà thờ Cái Mơn

Nhà thờ Cái Mơn là một công trình tôn giáo có lịch sử lâu đời ở vùng đất Vĩnh Long, gắn với sự hình thành và phát triển của họ đạo Cái Mơn từ năm 1702. Nhà thờ nằm bên Quốc lộ 57, cạnh rạch Cái Mơn, nổi bật với tháp chuông cao sừng sững giữa vùng quê trù phú. Điểm nhấn đặc biệt của nhà thờ là tháp chuông cao hơn 54 mét, nặng khoảng 800 tấn, gồm 9 tầng. Tháp có bộ 6 quả chuông đồng được đúc tại Pháp từ cuối thế kỷ XIX, tổng trọng lượng khoảng 4 tấn. Trong đó, quả chuông lớn nhất nặng 1 tấn. Tiếng chuông không chỉ báo giờ lễ mà còn mang ý nghĩa tinh thần, nhắc nhở giáo dân hướng đến những điều tốt đẹp. Nhà thờ hiện nay mang phong cách kiến trúc Roman, với những mái vòm, tường dày, mái ngói đỏ và các chi tiết gỗ được chạm khắc tinh xảo, hài hòa với cảnh quan sông nước Nam Bộ. Không chỉ là nơi sinh hoạt tôn giáo, nhà thờ Cái Mơn còn gắn bó với đời sống cộng đồng và nghề trồng cây ăn trái, hoa kiểng, cây giống nổi tiếng của địa phương. Với lịch sử hơn 300 năm, kiến trúc đặc sắc và giá trị văn hóa cộng đồng, Nhà thờ Cái Mơn là một điểm đến tâm linh và văn hóa tiêu biểu của vùng đất Vĩnh Long. Nguồn: Báo Thanh Niên

Vĩnh Long

365 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Di tích nổi bật

Xem tất cả
Khu di tích Láng Le Bàu Cò

Khu di tích Láng Le Bàu Cò

Khu di tích Láng Le Bàu Cò tọa lạc tại xã Tân Nhựt, huyện Bình Chánh, Tp HCM. Láng Le Bàu Cò gắn liền với cuộc kháng chiến chống Pháp xâm lược vào năm 1948 với những trận đánh lớn đi vào lịch sử. Di tích Láng Le Bàu Cò được công nhận là di tích lịch sử cấp thành phố vào năm 2003. Sở dĩ được gọi tên là khu di tích Láng Le Bàu Cò vì Tên gọi của khu di tích Láng Le Bàu Cò là do người dân địa phương đặt ra. Xóm làng được thành lập cạnh những con kênh rạch chằng chịt và dòng sông. Láng Le Bàu Cò có vị trí nằm ở bên trong cánh đồng có diện tích rộng lớn và có rất nhiều tôm, cua, cá. Cùng với nhiều loài chim như vịt trời, cò, con le le, cúm núm, cồng cộc, đa đa, diệc, đỏ nách tới kiếm ăn tại đây. Vì vậy, người dân Tân Nhựt gọi với cái tên thân thuộc và mộc mạc đó là Láng Le Bàu Cò. Di tích Láng Le Bàu Cò được xem là cửa ngõ để di chuyển tới trung tâm căn cứ Vườn Thơm và tấn công cơ quan đầu não của quân địch tại Sài Gòn. Trước đây khu di tích Láng Le Bàu Cò vốn là cánh đồng lau sậy mọc um tùm. Vào ngày 15/4/1948 thực dân Pháp đưa 3 nghìn quân lính cùng nhiều vũ khí hiện đại đồng loạt tấn công khu vực Láng Le Bàu Cò nhằm tiêu diệt căn cứ Vườn Thơm. Khi đó lực lượng vũ trang cách mạng ở Láng Le - Bàu vì lực lượng nhỏ và vũ khí thô sơ tuy nhiên được sự giúp đỡ của người dân địa phương cùng với lợi thế về địa hình. Chỉ sau hơn nửa ngày đấu tranh đã chuyển sang tấn công khiến quân Pháp bị thương vong với số lượng lớn. Chiến thắng Láng Le Bàu Cò đã tiêu diệt 300 tên địch và bắt sống 30 lính đánh thuê cùng phá hủy nhiều máy móc, xe nhà binh, súng các loại của quân giặc. Tuy nhiên, về phía ta có nhiều cán bộ chiến sĩ đã anh dũng hy sinh với tuổi đời còn rất trẻ. Ngày 14/10/1966 tại Láng Le tiểu đoàn biệt động quân Việt Nam Cộng Hòa bị dân quân du khách tiêu diệt. Khu di tích Láng Le Bàu Cò có ý nghĩa lịch sử to lớn đối với người dân Sài Gòn nói riêng và cả nước nói chung. Trước lòng căm thù thực dân Pháp, quân dân Láng Le Bàu Cò đã có cuộc chiến vang lừng lịch sử và có ý nghĩa to lớn mở đầu cho phía ta và phía địch. Đối với phía ta trận đánh mở đầu cho sự anh dũng trong tư thế kháng chiến vững mạnh. Còn với quân địch đã phải lùi vào thế bỏ chiến lược và bị tiêu diệt. Thực dân Pháp không còn định hình được chiến lược đánh bại Việt Minh. Hơn thế, tại căn cứ Vườn Thơm, Láng Le Bàu Cò còn diễn ra trận chiến quyết tâm bảo vệ căn cứ của ta và đập tan mọi kế hoạch phá hoại của quân giặc. Khu di tích Láng Le Bàu Cò sau phong trào Đồng Khởi vào năm 1960 còn là hậu cần, bàn đạp của lực lượng vũ trang để giải phóng Long An - Sài Gòn - Gia Định. Để tưởng nhớ sự hy sinh của đồng bào và các chiến sĩ của ta, vào năm 1988 huyện Bình Chánh đã xây dựng công trình lịch sử tại vùng đất Láng Le Bàu Cò với diện tích rộng 1000m2. Nguồn: Báo thông tin điện tử TP Hồ Chí Minh

TP Hồ Chí Minh

17991 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp thành phố

Mở

Di Tích Lịch Sử Nhà Lao Tân Hiệp

Di Tích Lịch Sử Nhà Lao Tân Hiệp

Nhà lao Tân Hiệp còn có tên là "Trung tâm cải huấn Tân Hiệp" tọa lạc ở khu phố 6, phường Tân Tiến, TP Biên Hòa. Di tích Nhà lao Tân Hiệp đã được Bộ Văn Hoá Thể Thao xếp hạng là di tích cấp quốc gia ngày 15-1-1994. Nhà lao Tân Hiệp là một trong sáu nhà tù lớn nhất miền Nam Việt Nam và là nhà tù lớn nhất vùng Đông Nam bộ, được xây dựng ở vị trí quân sự quan trọng, án ngữ phía đông bắc thị xã Biên Hòa. Phía trước là quốc lộ 1; phía sau là đường xe lửa Bắc - Nam. Đây là vị trí biệt lập, thuận tiện trong giao thông, dễ dàng cho việc bảo vệ, canh gác, nhận tù từ nơi khác đến và chuyển tù đi Côn Đảo, Phú Quốc... Nhà lao Tân Hiệp có diện tích 46.520m2 với 8 trại giam, trong đó có 5 trại giam những người tù cộng sản, người yêu nước. Xung quanh nhà tù được bao bọc bởi 4 lớp kẽm gai bùng nhùng với 9 lô cốt, 3 tháp canh cùng đội lính bảo vệ và hệ thống báo động tối tân. Mang tên "Trung tâm cải huấn" nhưng thực chất bên trong là kho súng, phòng xét hỏi, tra tấn với những dụng cụ hiện đại bậc nhất. Mỗi trại giam chỉ có diện tích gần 200m2 nhưng giam giữ từ 300-400 người, có lúc lên đến cả ngàn người. Đặc biệt ở đây có các phòng "cải hối", "chuồng cọp" rất nhỏ hẹp và điều kiện sinh hoạt cực kỳ khắc nghiệt, tù nhân sống chẳng khác gì trong lò thiêu xác. Chế độ ăn uống cực kỳ mất vệ sinh, bọn cai ngục mua gạo mục, cá thối dùng để bón ruộng, chiên bằng dầu luyn cho tù nhân ăn dẫn đến nhiều người bị ngộ độc. Với quyết tâm thoát khỏi nhà tù đế quốc, trở về với Đảng, với nhân dân để tiếp tục chiến đấu, giải phóng dân tộc, ngày 2-12-1956, được sự nhất trí của Liên Tỉnh ủy miền Đông, những chiến sĩ cộng sản bị "câu lưu" trong nhà lao Tân Hiệp dưới sự chỉ đạo trực tiếp của đồng chí Nguyễn Trọng Tâm (Bảy Tâm) - phụ trách Đảng ủy nhà tù và một số đồng chí khác đã bất thần làm một cuộc phá xiềng tập thể giải thoát gần 500 đồng chí, đồng bào yêu nước. Sự kiện này đã làm xôn xao cả Lầu Năm Góc. Mỹ - Diệm vội vã huy động cả quân chủ lực lẫn bảo an, dân vệ đang trấn thủ 3 tỉnh Biên Hòa, Bà Rịa, Thủ Dầu Một và hai biệt đoàn biệt động quân đến bủa lưới bao vây, truy bắt đoàn tù nhưng đều thất bại. Các đồng chí, đồng bào của ta thoát khỏi nhà lao Tân Hiệp đã được sự giúp đỡ, che chở của các cơ sở địa phương, trở về căn cứ an toàn. Trong số tù nhân vượt ngục có các đồng chí: Bảy Tâm, Hai Thông, Lý Văn Sâm... đã trở thành những hạt nhân nòng cốt cho phong trào Đồng Khởi sau này. Năm 2001, để tái hiện phần nào tội ác của Mỹ - Diệm đối với các đồng chí, đồng bào ta bị giam cầm tại nhà lao Tân Hiệp và diễn tả lại toàn bộ cuộc nổi dậy phá khám Tân Hiệp ngày 2-12-1956, Bảo tàng Đồng Nai đã tiến hành sưu tầm hình ảnh, tài liệu, hiện vật trưng bày tại di tích và làm một sa bàn để phục vụ nhu cầu nghiên cứu, tham quan của mọi tầng lớp nhân dân. Hàng ngày, di tích luôn mở cửa đón khách tham quan. Nguồn: Báo Đồng Nai Điện Tử

Đồng Nai

16483 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Đền thờ Nguyễn Hữu Cảnh

Đền thờ Nguyễn Hữu Cảnh

Đền thờ Nguyễn Hữu Cảnh còn gọi là đình Bình Kính tọa lạc bên tả ngạn sông Đồng Nai, xưa kia thuộc ấp Bình Kính, thôn Bình Hoành, tổng Trấn Biên, nay là ấp Nhị Hòa, xã Hiệp Hòa, TP Biên Hòa, đã được Bộ Văn Hoá – Thông Tin – Thể Thao & Du Lịch xếp hạng là di tích lịch sử cấp quốc gia ngày 25-3-1991. Đền thờ Nguyễn Hữu Cảnh được xây dựng vào khoảng cuối thế kỷ 18, ban đầu ngôi đền có qui mô nhỏ, vách làm bằng ván, mái ngói âm dương, cách ngôi đền hiện tại khoảng 400m về hướng Nam. Các tư liệu cho biết: ngôi đền được xây dựng lại lần đầu tiên vào năm Tự Đức thứ tư (1851); đến năm 1923, đền được tái thiết lại ở địa điểm hiện nay. Nguyễn Hữu Cảnh sinh vào năm 1650 tại Gia Miêu, huyện Tống Sơn, tỉnh Thanh Hóa trong một gia đình có nhiều bậc danh tướng đương triều. Ông là người văn võ song toàn, lập được nhiều chiến công lớn và được chúa Nguyễn tin yêu, trọng vọng. Mùa Xuân năm Mậu Dần (1698), ông vâng lệnh chúa Nguyễn vào kinh lược xứ Đàng Trong khi ấy còn rất hoang vu. Đến đất Đồng Nai, ông đặt Đại bản doanh ở Cù lao Phố (nay là xã Hiệp Hòa); lấy đất Đồng Nai làm huyện Phước Long, dựng dinh Trấn Biên, lấy xứ Sài Gòn làm huyện Tân Bình, dựng dinh Phiên Trấn, đất đai mở mang ngàn dặm. Ông chiêu mộ lưu dân đến lập nghiệp, tổ chức bộ máy hành chính từng bước có qui củ, khuyến khích khai hoang, thúc đẩy Cù lao Phố phát triển thành một trong những cảng thị sầm uất, năng động nhất đàng Trong suốt thế kỷ 18 và chính thức sáp nhập vùng đất mới phương Nam vào bản đồ Đại Việt. Sau khi kinh lược phương Nam trở về, năm sau ông lại phụng mệnh chúa Nguyễn Phúc Chu thống lĩnh đại binh dẹp vua Chân Lạp giữ vững miền biên ải phương Nam. Tháng 4 năm Canh Thìn (1700), sau khi hoàn thành sứ mệnh, trên đường trở về đến Rạch Gầm (Tiền Giang) thì ông thọ bệnh qua đời nhằm ngày 16 tháng 5 âm lịch, thọ 51 tuổi. Trên đường di quan ông về quê an táng, quan tài của ông được đình lại khu đất khi xưa ông đặt Đại bản doanh ở Cù lao Phố để cho nhân dân địa phương có dịp bái biệt ông lần cuối. Nơi đình quan đã được nhân dân địa phương xây một ngôi mộ vọng để ghi nhớ sự kiện này. Khi hay tin Nguyễn Hữu Cảnh mất, Chúa Nguyễn vô cùng thương tiếc đã phong tặng ông là Thượng đẳng công thần đặc Trấn phủ Chưởng cơ với tước: Lễ Thành Hầu và đưa bài vị của ông vào thờ tại Thái miếu. Nguồn: Báo Đồng Nai Điện Tử

Đồng Nai

15068 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Di tích chiến thắng La Ngà

Di tích chiến thắng La Ngà

Di tích chiến thắng La Ngà (tại km số 104-112 trên quốc lộ 20 đi Đà Lạt, thuộc xã Phú Ngọc, huyện Định Quán) được Bộ Văn hóa xếp hạng di tích lịch sử cấp quốc gia ngày 12-12-1986. Để cổ vũ cho chiến thắng Việt Bắc thu - đông 1947 và cũng để giáng cho kẻ thù một đòn chí mạng, Ban chỉ huy chi đội 10 đã quyết định phải tổ chức một trận đánh lớn, để quân giặc thấy rằng dân tộc Việt Nam, con người Việt Nam không dễ dàng chịu khuất phục trước bất kì một kẻ thù nào; Bằng tinh thần quả cảm và sự khôn khéo sau gần nửa năm chuẩn bị, nghiên cứu địa hình, chọn địa điểm: vào lúc 15 giờ 12 phút ngày 1/3/1948 trận chiến phục kích La Ngà bắt đầu và kết thúc vào lúc 15 giờ 57 phút cùng ngày, chỉ trong vòng 45 phút. Chiến thắng La Ngà đã làm nức lòng nhân dân Định Quán nói riêng, quân dân Đồng Nai nói chung. Đây là chiến thắng thể hiện sự mưu trí, dũng cảm của quân và dân ta làm cho địch một phen kinh hồn, bạt phía. Từ chiến thắng này lực lượng ta ngày càng thêm lớn mạnh, góp phần đánh bại kế hoạch đánh nhanh, thắng nhanh của địch, buộc chúng phải rơi vào thế bị động. Quần thể danh thắng đá Chồng, Thác Mai, sông La Ngà và Tượng đài chiến thắng La Ngà là một quần thể du lịch kì thú của Định Quán. Vẻ đẹp kỳ thú của Hòn Ba Chồng, Núi Đá Voi, Hòn Dĩa, cùng với ngôi chùa thiên nhiên dưới chân núi đá là những cụm tiêu biểu tạo thành cảnh đẹp hài hòa cho khu danh thắng Đá Chồng. Quần thể Đá Chồng Định Quán còn là nơi lưu lại những dấu tích của cuộc sống người tiền sử. Tại đây dưới các mái đá, ven các khe suối và cả các sườn dốc ven thung lũng đã phát hiện nhiều công cụ sản xuất, sinh hoạt của người xưa bằng đá, đồng, đất nung. Trong suốt cuộc kháng chiến dài 30 năm. Định Quán là một phần quan trọng của Chiến khu Đ. Đá Chồng đã chứng kiến sự hình thành, phát triển, trú quân, triển khai chiến đấu của lực lượng cách mạng. Ngày nay, một phần đất của khu danh thắng Đá Chồng Định Quán đã được sử dụng, xây dựng thành khu Trung tâm văn hóa thể thao huyện Định Quán. Tương lai không xa khu danh thắng Đá Chồng Định Quán sẽ được đầu tư tôn tạo góp phần làm cho cảnh quan thiên nhiên ngày càng tươi đẹp, là địa điểm du lịch sinh thái hấp dẫn. Nguồn: Uỷ Ban Nhân Dân Huyện Định Quán

Đồng Nai

14896 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Tháp cổ Chót Mạt

Tháp cổ Chót Mạt

Di tích Lịch sử-Văn hóa Tháp Chót Mạt, tọa lạc ấp Xóm Tháp, xã Tân Phong, huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh, được Bộ Văn hóa Thông tin (nay là Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch) công nhận là di tích lịch sử - văn hóa ngày 23 tháng 7 năm 1993. Đồng thời là một trong ba công trình tháp cổ cuối cùng còn lại ở miền Nam nước ta. Trải qua nhiều lần trùng tu vào các năm 1938, 2003 và gần đây nhất là vào năm 2013. Mặc dù trải qua các đợt trùng tu tôn tạo, nhưng khu di tích tháp cổ Chót Mạt đã mang cho mình một diện mạo mới nhưng vẫn giữ nguyên được tinh thần kiến trúc cổ. Toàn bộ tòa Tháp được xây dựng bằng gạch và đá phiến với phần đỉnh tháp nhọn dần lên, từ mặt đất lên nơi cao nhất của đỉnh tháp được ước tính là 10m. Ngoài ra, ngọn tháp cổ này nằm trên gò đất cao giữa cánh đồng nên nhìn từ xa nó tựa như ngọn bút đang vươn lên cao dần. Năm 2003 Uỷ ban nhân dân tỉnh Tây Ninh quyết định phê duyệt dự án đầu tư trùng tu tôn tạo bảo tồn di tích tháp Chót Mạt và được tiến hành triển khai trùng tu tôn tạo phục hồi, trưng bày mở hố khai quật năm 2003 đưa vào sử dụng. Ngày 27/11/2019 UBND tỉnh ban hành Quyết định Quy định về phân cấp quản lý, bảo vệ và phát huy giá trị di tích lịch sử văn hóa và danh lam thắng cảnh trên địa bàn tỉnh Tây Ninh. Quyết định giao UBND huyện Tân Biên trực tiếp quản lý 4 di tích, trong đó có di tích cấp Quốc gia di tích Lịch sử- văn Hóa Tháp Chót Mạt. Đặc biệt Di tích Lịch sử-Văn hóa Tháp Chót Mạt trên địa bàn xã Tân Phong, huyện Tân Biên được chọn nằm trong chũi liên kết phát triển du lịch của Tỉnh Tây Ninh. Đây là một địa điểm tham quan rất đáng để khám phá, góp phần phát triển du lịch trên địa bàn xã Tân Phong nói riêng và huyện Tân Biên nói chung. Nguồn: Cổng thông tin điện tử tỉnh Tây Ninh

Tây Ninh

14758 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Dinh Quận Hóc Môn

Dinh Quận Hóc Môn

Dinh Quận Hóc Môn tọa lạc tại số 1, đường Lý Nam Đế, thị trấn Hóc Môn, (cạnh trụ sở UBND huyện) là nơi để lại nhiều sự kiện đấu tranh nổi bật suốt chặng đường dài lịch sử từ 1885 đến ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng của Nhân dân 18 Thôn vườn trầu. Sau khi hạ được Đại đồn Chí Hòa, thực dân Pháp xây dựng tại nơi đây một ngôi nhà gỗ cao 3 tầng dùng làm Đồn binh. Khi tên Trần Tử Ca về nhậm chức Đốc Phủ, dùng Đồn làm Dinh huyện Bình Long. Vốn là một tay say quỷ quyệt của thực dân Pháp, Trần Tử Ca bị nhóm do các ông Phan Văn Hớn (Quản Hớn) và Nguyễn Văn Quá (Chánh Lãnh Binh) cầm đầu gần 1.000 nghĩa quân tiến về đốt Dinh Quận, bắt và cắt đầu bêu giữa chợ. Đó là ngày 8/2/1885 Tết Ất Dậu. Sau đó, Dinh Quận Hóc Môn được xây dựng lại với nền móng đá xanh, tường gạch, có hệ thống phòng thủ từ lầu cao đến tận vòng rào. Lối kiến trúc y như Đồn binh nên người địa phương gọi là Đồn Hóc Môn. Trấn nhậm thay Trần Tử Ca là Đốc phủ Ngôn, đến Quận Trà rồi Quận Thọ. Đây là khoảng thời gian dài người dân vùng Hóc Môn hứng chịu bao cảnh tham tàn, bỉ ổi của thực dân Pháp và bọn tay sai đầu sỏ kể trên. Với truyền thống kiên cường bất khuất của Nhân dân Hóc Môn. Ngày 4/6/1930, khoảng 6 giờ sáng trước Dinh Quận, hàng trăm bà con Hóc Môn kéo biểu tình đòi “bãi bỏ thuế thân, giảm các thuế môn bài và thuế chợ, cấp đất cho dân cày nghèo”. Quận Trà cho mời những người cầm đầu vào Dinh thương lượng, nhưng chúng xảo quyệt bắt giữ họ trong đó có ông Lê Văn Uôi (Bí thư xã Tân Thới Nhì), là người cầm đầu cuộc biểu tình. Mọi người không nao núng, quyết liệt đòi hỏi Quận Trà phải thả những người bị cầm giữ. Đoàn biểu tình càng lúc càng đông, khí thế đấu tranh có phần lan rộng, khiến Quận Trà nhượng bộ. Một mặt chúng thả những người bị giữ, mặc khác chúng gọi điện cho quan thầy ở Sài Gòn cứu viện. 2 giờ sau, cuộc đấu tranh bị 2 tên Blachôlê và Nobbot chỉ huy bắn xối xả vào đoàn biểu tình, gây thương vong nhiều người. Nhưng sự kiện lịch sử gây ấn tượng nhất tại Dinh Quận Hóc Môn là cuộc khởi nghĩa Nam kỳ ngày 23/11/1940. Đồn Hóc Môn rất kiên cố, xây bằng đá xanh như là một pháo đài, cao khoảng 15 thước, có ụ súng và hệ thống phòng thủ lỗ châu mai do một trung đội lính khố xanh trấn giữ. Ngày 22/11/1940, Pháp tăng cường thêm 1 trung đội để đối phó với tình hình. Chiều 22/11/1940, cánh quân của ông Đỗ Văn Cội đột nhập vào thị trấn, giả dạng thường dân, phục kích sau lưng Đồn chờ lệnh cướp Đồn. Một cánh quân khác có nhiệm vụ phá cầu, đốn cây ngăn lộ, đánh chiếm các công sở, nhà việc... Cánh quân từ Phước Vĩnh An, Tân Thông, Tân An Hội, Tân Phú Trung do ông Phạm Văn Sáng và Đặng Công Bỉnh chỉ huy, xuất phát từ ấp Bến Đò, đánh chiếm nhà việc, diệt 1 tên, thu 4 súng, làm chủ tình hình tại đây (Tân Phú trung). Liền đó cánh quân này được lệnh kéo về Hóc Môn. Cánh quân Long Tuy Thượng do ông Bùi Văn Hoạt chỉ huy. Cánh quân thuộc Tổng Long Tuy Trung do ông Đỗ Văn Dậy và Lê Bình Đẳng chỉ huy. Khoảng 24 giờ đêm ngày 22/11/1940, vẫn chưa nghe thấy tiếng pháo lệnh ở Sài Gòn. Sau khi hội ý, các vị chỉ huy những cánh quân thống nhất tấn công Đồn giặc. Lập tức các cánh quân tiến thẳng về Đồn Hóc Môn, nơi trú ngụ của tên Quận trưởng Bùi Ngọc Thọ. 2 nghĩa quân tên Nghé và Kinh xung phong vào cổng trước, hy sinh. Nghĩa quân bốn phía xông vào Đồn như nước vỡ bờ. Trước sức mạnh của nghĩa quân và quần chúng, bọn lính trong Đồn không còn tinh thần kháng cự, bỏ chạy tán loạn. Nghĩa quân chiếm lĩnh hoàn toàn bên trong Đồn nhưng trên lầu, địch vẫn ngoan cố dùng súng bắn tẻ, cùng lúc gọi điện về Sài Gòn, Thủ Dầu Một cấp cứu. Vì nóng lòng bắt cho được tên Quận Thọ nên đồng chí Đỗ Văn Dậy bám ống máng nước để leo lên tầng trên Đồn. Đến lưng chừng bị trúng đạn, đồng chí bị rơi xuống và hy sinh sau đó. Cuộc chiến đấu đang thế giằng co thì viện binh địch đến. Không thể cầm cự, nghĩa quân rút khỏi thị trấn, phân tán về các làng, lực lượng vũ trang rút về ấp Bến Đò (Tân Phú Trung) rồi di chuyển sang ấp Mỹ Hạnh (Đức Hòa). Cuộc tiến công Đồn Hóc Môn (sau gọi là Dinh Quận Hóc Môn) tuy thất bại nhưng đã để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng mọi người dân sự khâm phục lòng dũng cảm của các chiến sĩ cách mạng trong cuộc chiến đấu chống thực dân cướp nước. Trong chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, 7 giờ sáng ngày 30/4/1975, thị trấn Hóc Môn hoàn toàn được giải phóng, lá cờ Tổ quốc phất phới bay trên Dinh Quận, nơi tên Quận trưởng Nguyễn Như Sang và bọn tay sai đã chạy trốn từ tối đêm trước. Ngày nay Dinh Quận Hóc Môn được chọn làm Bảo tàng huyện, nơi đây tập trung nhiều tư liệu trưng bày, minh họa các giai đoạn lịch sử thăng trầm cũng như khí thế đấu tranh cách mạng của quân và dân trong huyện Hóc Môn qua 2 cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ. Một Tượng đài đặt trước di tích Dinh Quận Hóc Môn thể hiện gương hy sinh bất khuất của quân và dân 18 Thôn Vườn trầu, được công nhận là di tích lịch sử văn hóa cấp Quốc gia. Nguồn: Ủy ban nhân dân huyện Hóc Môn

TP Hồ Chí Minh

14086 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Tòa đại sứ quán Mỹ

Tòa đại sứ quán Mỹ

Di tích tòa Đại sứ Mỹ còn được gọi "Nhà trắng phương Đông" là nơi xuất phát các âm mưu thâm độc về quân sự lẫn chính trị nhằm thôn tính lâu dài đất nước Việt Nam, địa điểm di tích là tòa nhà 5 tầng xây dựng theo kiến trúc hiện đại, tọa lạc tại góc đường Mạc Đĩnh Chi - Lê Duẩn, Phường Bến Nghé, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh, trên một mảnh đất rộng gần 5.000m2. Trước đó, tòa đại sứ Mỹ nằm tại số 39 đường Hàm Nghi. Khoảng 10 giờ sáng ngày 30/3/1963, tòa đại sứ Mỹ trên đường Hàm Nghi đã bị đội Biệt động F21 đánh chất nổ làm sập 3 tầng lầu: 1, 2, 3 do đó Mỹ đã quyết định xây lại. Tòa nhà được khởi công xây dựng vào năm 1965, hầu hết vật liệu cũng như máy móc xây dựng đều được chở từ Mỹ sang, dưới sự điều khiển của kỹ sư người Mỹ. Theo thiết kế, tòa nhà bao bọc bởi 7.800 viên đá Taredo có khả năng chống đỡ mìn, đạn pháo. Cửa chính trang bị bằng thép dầy, những cửa khác chắn bởi lớp kín dầy đặc biệt chống đạn. Tất cả cửa sử dụng hệ thống tự động kể cả cửa sắt chắn lối lên các tầng lầu. Bên trong tòa nhà gồm 140 phòng với 200 nhân viên phục vụ ngày đêm ngoài ra bên cạnh tòa nhà còn được xây thêm một dãy nhà phụ gọi là khu "Norodom" dành riêng cho nhân viên C.I.A. Khi khánh thành, tòa nhà chỉ có 3 tầng. Cuối năm 1966 xây thêm 2 tầng và 1 sân thượng dùng làm nơi hạ cánh cho máy bay lên thẳng. Bao quanh tòa nhà là bức tường cao 3m, hai đầu tường sát đường Lê Duẩn xây 2 lô - cốt cao, canh gác ngày đêm. Tòa Đại sứ hoàn thành tháng 9/1967 với một hệ thống phòng thủ như là một pháo đài có 60 lính gác, một hầm tránh bom, một hệ thống màn hình ra-đa nhằm kiểm soát mặt tiền. Ngay sau khi tòa nhà hoàn tất, ngày 24/9/1967, hàng ngàn sinh viên, học sinh kéo đến trước cổng Đại sứ quán Mỹ đấu tranh đòi "Mỹ chấm dứt ném bom miền Bắc", "Mỹ cút về nước" và ra thông báo tố cáo Mỹ "chà đạp và vi phạm nghiêm trọng quyền tự quyết của nhân dân miền Nam". Nhưng sự kiện nổi bật xảy ra tại Tòa Đại sứ Mỹ là trận đánh của Biệt động thành trong Tổng Tiến công và nổi dậy xuân Mậu Thân 1968. Mục tiêu đánh Đại sứ quán Mỹ được bổ sung ngày 24/ 1/1968 do Ngô Thành Vân phụ trách chung. Đội Biệt động 11 nhận lãnh nhiệm vụ quan trọng này gồm đội trưởng Út Nhỏ (đội trưởng trinh sát quân khu) và các chiến sĩ: Bảy Truyền, Tước, Thanh, Chức, Trần Thế Ninh, Chính, Tài, Văn, Đực, Cao Hoài Vinh, Mang, Sáu và 2 lái xe: Trần Sĩ Hùng và Ngô Văn Thuận. Một sự kiện khác cũng không kém phần tủi nhục cho Toà Đại sứ Mỹ là cảnh hỗn loạn tháo chạy xảy ra trong 2 ngày 29 và 30/04/1975 của Mỹ và đồng bọn. Trước sức tấn công thần tốc của quân và dân Việt Nam trong chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, trên 1.000 người Mỹ và hơn 5.000 người Việt thân Mỹ đã chen lấn, xô đẩy, đạp nhau để tranh giành một chỗ trên sân thượng của toà nhà hòng được trực thăng cứu thoát. Di tích này đã được cấp bằng công nhận của Bộ Văn hoá ngày 25/6/1976. Hiện nay, toà nhà Đại Sứ Mỹ đã bị phá bỏ, xây mới thành lãnh sự quán tại Thành phố Hồ Chí Minh, nhưng cạnh đó một bia tưởng niệm ghi nhớ mãi chiến công của các chiến sĩ biệt động đã hy sinh trong trận đánh. Nguồn: Thành Đoàn Thành phố Hồ Chí Minh

TP Hồ Chí Minh

13990 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Lăng Mai Xuân Thưởng

Lăng Mai Xuân Thưởng

Mai Xuân Thưởng là người lãnh đạo phong trào Cần Vương chống Pháp cuối thế kỷ XIX ở Bình Định. Mai Xuân Thưởng sinh năm Canh Thân 1860, mất năm Đinh Hợi 1887 người thôn Phú Lạc, tổng Phú phong, huyện Tuy Viễn, tỉnh Bình Định (nay là thôn Phú Lạc, xã Bình Thành, huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định). Cha là Mai Xuân Tín làm Bố chánh ở Cao Bằng, mẹ là Huỳnh Thị Nguyệt con của một nhà quyền quý trong làng. Mai Xuân Thưởng vốn là người thông minh, ham học. Năm 18 tuổi (1878) ông đỗ Tú tài tại Trường thi Bình Định. năm 25 tuổi (1885) thi đỗ cử nhân. Hưởng ứng chiếu Cần vương của vua Hàm Nghi, Mai Xuân Thưởng về quê Phú Lạc, chiêu mộ nghĩa binh, lập căn cứ ở hòn Sưng dựng cờ cần vương chống Pháp, sau đó Mai Xuân Thưởng đã đem lực lượng của mình gia nhập vào nghĩa quân do Đào Doãn Địch lãnh đạo và được Đào Doãn Địch phong giữ chức Tán lương quân vụ (phụ trách về lương thực của nghĩa quân). Kể từ đó cho đến năm 1887, phong trào cần vương ở Bình Định phát triển mạnh mẽ và lan ra đến Quảng Ngãi, Phú Yên...thu hút hàng chục ngàn người thuộc mọi tầng lớp tham gia. Ngày 20/9/1885 Đào Doãn Địch mất, giao toàn bộ lực lượng cho Mai Xuân Thưởng. Ông chọn vùng núi Lộc Đổng (nay thuộc xã Bình Tường, huyện Tây Sơn) làm đại bản doanh và tổ chức lễ tế cờ , truyền hịch kêu gọi sỹ phu, văn thân, nhân dân tham gia phong trào cần Vương chống Pháp. Trong buổi lễ ấy, nghĩa quân nhiều vùng trong tỉnh Bình Định đã nhất trí suy tôn ông làm Nguyên soái lãnh đạo cuộc khởi nghĩa và nêu cao khẩu hiệu: “Tiền sát tả, hậu đả Tây”. Đầu năm 1887, quân Pháp dưới sự chỉ huy của Trung tá Cherrean và quân triều đình do Trần Bá Lộc chỉ huy cùng với Công sứ Trira đã mở cuộc tấn công lớn lên căn cứ đại bản doanh của phong trào Cần Vương Bình Định, trận giao chiến giữa lực lượng nghĩa quân với giặc Pháp diễn ra vô cùng ác liệt, cuộc chiến đấu không cân sức, cuối cùng lực lượng khởi nghĩa bị đẩy lùi. Tháng 3 năm 1887, sau trận ác chiến ở Bàu Sấu (thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định), Mai Xuân Thưởng bị thương nặng, nghĩa quân rút về Mật khu Linh Ðổng. Ngày 21 tháng 4 năm 1887, Trần Bá Lộc bao vây đánh chiếm căn cứ mật khu Linh Đổng và bắt được một số nghĩa quân, trong đó có thân mẫu Mai Nguyên Soái. Đêm 30 tháng 4 năm 1887, Mai Xuân Thưởng đã cử một đội quân cảm tử đột nhập doanh trại Trần Bá Lộc, giải vây cho những người bị bắt, ông cùng đoàn thuộc hạ gồm 50 người vượt núi vào Phú Yên, tiếp tục kháng chiến, nhưng khi đến đèo Phú Quý (ranh giới giữa Bình Định và Phú Yên) thị bị phục binh Trần Bá Lộc bắt và đưa ra xử trảm tại Gò Chàm (Phía đông Thành Bình Định). Di tích Lăng mộ nhà yêu nước Mai Xuân Thưởng tọa lạc trên ngọn đồi cao của dãy núi Ngang (thuộc thôn Hòa Sơn, xã Bình Tường, huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định) cách thành phố Quy Nhơn khoảng 50km về hướng Tây Bắc; Lăng mộ được xây dựng trên khu đất rộng 1988m2, khánh thành ngày 22 tháng 1 năm 1961.Về tổng thể, Lăng được thiết kế theo kiểu lăng mộ cổ, xung quanh có thành thấp bao bọc. Cổng Lăng (tam quan) là 4 trụ vuông, phía trên thắt lại theo kiểu bầu lọ mang dáng dấp kiến trúc cổng đình, miếu cuối thế kỷ XIX. Giữa nhà Lăng là mộ phần Mai Xuân Thưởng hình khối chữ nhật theo hướng Đông - Tây; Phía đầu mộ dựng tấm Bia đá khắc bài ký ghi tiểu sử và sự nghiệp của Mai Xuân Thưởng: Di tích được Bộ Văn hóa Thông tin quyết định xếp hạng cấp Quốc Gia ngày 20 tháng 4 năm 1995. Nguồn: UBND Huyện Tây Sơn tỉnh Bình Định

Gia Lai

13677 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Thành Nhà Mạc Ở Cao Bằng (Thành Nà Lữ, Thành Bản Phủ, Thành Phục Hòa)

Thành Nhà Mạc Ở Cao Bằng (Thành Nà Lữ, Thành Bản Phủ, Thành Phục Hòa)

Thời kỳ nhà Mạc đóng đô ở Cao Bằng, để phòng bị quân nhà Lê tiến đánh, nhà Mạc đã tu bổ, sửa chữa thành Na Lữ (nay thuộc xã Hoàng Tung, Hòa An) và thành Bản Phủ (nay thuộc xã Hưng Đạo), thành Phục Hòa, ngoài ra còn xây dựng nhiều thành lũy khác ở Cao Bằng, làm cho Cao Bằng trở thành một trung tâm chính trị và quân sự ở vùng biên viễn Đông Bắc thời bấy giờ. Thành Na Lữ và thành Phục Hoà là hai thành được xây dựng từ trước. Theo ghi chép của Bế Hựu Cung trong Cao Bằng thực lục, thành Na Lữ và thành Phục Hòa mở đầu từ đời Đường Ý Tông năm Giáp Thân, niên hiệu Hàm Thông thứ 5 (874). Căn cứ vào sự hiện diện của nhiều ngôi mộ cổ có đá khắc ghi bia mộ tên, địa chỉ, quê quán những người phu dịch xây thành chết ở đây từ thời Hàm Thông có thể khẳng định hai thành này xây từ đời Đường. Thành Na Lữ được xây qua nhiều triều đại khác nhau. Khi nhà Mạc lên Cao Bằng đã cho xây lại bằng gạch. Thành Na Lữ có hình gần chữ nhật, có tổng diện tích khoảng 37,5 ha, chiều dài khoảng 800 m, chiều rộng khoảng 600 m, thành có 4 cửa. Thành Bản Phủ tại kinh đô Nam Bình, nước Nam Cương của Thục Phán khi xưa ở Cao Bình (Cao Bằng), nhà Mạc đã tu bổ thành Vương phủ tại vòng trong của kinh đô cũ Nam Bình và được gọi là thành Bản Phủ hay Vương phủ. Tại kinh đô Nam Bình xưa của nước Nam Cương và của nhà Mạc, thành Bản Phủ vẫn còn dấu tích khá rõ nét. Kinh đô Nam Bình gồm có hai vòng thành, để bảo vệ kinh thành, vòng ngoài có chu vi khoảng 5 km, gồm cả một vùng gò đồi thấp, quanh chân đồi được bạt dựng đứng như một bức tường thành, thuận lợi cho việc xây dựng phòng tuyến bảo vệ. Bờ thành phía Tây chạy song song với bờ sông Bằng đến đầu làng Bó Mạ, nối bờ thành Đông Nam chảy qua trước mặt Bản Phủ theo chân đồi ra gặp quốc lộ 4, phía Đông Bắc chạy theo chân đồi sát phía ngoài quốc lộ 4, lên đến Đầu gò là phía Tây Bắc tiếp tục chạy theo chân đồi, ra đến bờ sông gặp bờ thành phía Tây tạo thành một vòng thành khép kín. Khi nhà Mạc lên đóng đô đã tu sửa lại và xây dựng thêm một số công trình, trong đó thành Bản Phủ (thành nội - nơi của vua làm việc) được xây lên cao hơn trên các tường thành cũ từ thời kỳ Thục Phán, thành nằm trên một khu đất bằng phẳng. Cùng với việc xây dựng lại kinh thành, nhà Mạc còn xây dựng một hệ thống đồn bốt, thành lũy khá dày xung quanh kinh đô và một số điểm biên giới quan trọng, tạo thành một hệ thống bảo vệ kinh thành và bảo vệ biên giới. Thành Phục Hòa (huyện Phục Hoà) được xây theo kiểu hình vuông, mỗi chiều khoảng 400 m, gồm hai vòng thành, khoảng cách giữa hai vòng là 80 m. Hiện nay, tường thành phía Nam đã bị phá huỷ hoàn toàn. Thành Phục Hòa có 2 cổng chính: Cổng phía Bắc được mở thông ra quốc lộ đi Cửa khẩu Tà Lùng ngày nay, nhân dân thường gọi là Pác Cổng, cổng này được xây theo kiểu hình chữ nhật, rộng 8 m, cao 5 m, gồm hai cánh cổng làm bằng gỗ nghiến dày rất chắc chắn; cổng thứ hai ở phía Nam, mở thông ra bờ sông. Cả hai cổng đều bị san phẳng từ lâu, hiện nay không còn vết tích. Gần thành, tại phía Tây Bắc ngoại thành dọc bờ sông còn có nhiều vết tích lò nung gạch, nhân dân cho biết trong quá trình lao động, khai phá đã tìm thấy ở khu vực này nhiều lò gạch còn nguyên vẹn. Qua nghiên cứu, khảo sát cho thấy, tại Cao Bằng, nhà Mạc đã tu bổ, tôn tạo và xây dựng thêm nhiều thành, đồn luỹ, trong đó tu bổ, tôn tạo xây lại thành Bản Phủ, thành Na Lữ, thành Phục Hoà. Các đồn luỹ này đã tạo thành một hệ thống liên hoàn bảo vệ kinh thành khá vững chắc. Đến nay, những thành cổ nhà Mạc xây dựng thời kỳ đóng đô ở Cao Bằng, một số thành xây dựng bằng đất chỉ còn vết tích, nhưng các thành được xây bằng đá vẫn còn rất rõ. Nguồn: Báo Cao Bằng điện tử

Cao Bằng

13342 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

KHU TƯỞNG NIỆM LIỆT SĨ NGÃ BA GIỒNG, DI TÍCH LỊCH SỬ QUỐC GIA

KHU TƯỞNG NIỆM LIỆT SĨ NGÃ BA GIỒNG, DI TÍCH LỊCH SỬ QUỐC GIA

Di tích Ngã Ba Giồng là di tích lịch sử cách mạng thuộc Ấp 5, xã Xuân Thới Thượng, huyện Hóc Môn. Được bao quanh bởi ba con đường: Phan Văn Hớn, Nguyễn Văn Bứa và tỉnh lộ 19. Khu di tích Ngã Ba Giồng là khu tưởng niệm về những sự kiện lịch sử trong hai cuộc khácg chiến chống ngoại xâm. Được công nhận là di tích lịch sử cấp quốc gia vào năm 2002. Ngã ba Giòng (còn có tên gọi đầy đủ là Ngã ba Giòng Bằng Lăng) nằm trên địa phận thôn Xuân Thới Tây thuộc 18 thôn vườn trầu xưa được hình thành từ những năm 1698 đến năm 1731. Từ lâu đời, Ngã ba Giồng là 1 địa danh có tên gọi dân gian đã đi vào lịch sử của quê hương 18 thôn vườn trầu Hóc Môn – Bà Điểm. Tục truyền rằng xưa kia nơi đây là 1 vùng đất giồng tương đối cao ráo và là nơi mọc nhiều cây bằng lăng nên địa danh này có tên gọi từ đó. Sau khi cuộc khởi nghĩa Nam kỳ (23/11/1940) bị thất bại, thực dân Pháp đã tăng cường đàn áp, khủng bố khốc liệt phong trào cách mạng vùng Hóc Môn – Bà Điểm. Chúng đã lập ra ở Hóc Môn 3 trường bắn để giết hại các đồng chí lãnh đạo Đảng, các đồng chí đồng bào yêu nước của quê hương Hóc Môn và các vùng lân cận. Ngã ba Giồng là trường bắn thứ ba ghi lại tội ác tày trời của giặc pháp và bọn tay sai đối với nhân dân Hóc Môn. Rút kinh nghiệm từ 2 trường bắn trước (1 tại rạp hát cũ trung tâm Quận lỵ Hóc Môn, 1 cạnh giếng nước sau Bệnh viện Hóc Môn ngày nay), chúng xử bắn công khai, bắt nhân dân đến xem nhằm mục đích uy hiếp tinh thần cách mạng của nhân dân Hóc Môn. Nhưng cách xử bắn đó đã phản tác dụng, nhân dân Hóc Môn đã tận mắt chứng kiến sự tàn ác của thực dân Pháp, sự hy sinh cao cả của các chiến sĩ cộng sản nên ngọn lửa yêu nước của họ càng bùng lên mãnh liệt. Trường bắn thứ 3 này, chúng không dám xây dựng gần trung tâm Quận lỵ nữa mà đưa ra khu vực Ngã ba Giồng là vùng hoang vắng, thưa dân để tránh sự phản kháng của nhân dân. Tại đây, chúng xây dựng thành 1 trường bắn có mô đất kiên cố dài 12m, cao 2,2m, phía trước có trồng 6 cột bắn, mỗi cột cao 1.7m, hướng bắn quay về phía đồng ruộng (bưng Tràm Lạc). Vào năm 1941, tại đây chúng lén lúc xử bắn rất nhiều lần, không cho nhân dân xem, hàng trăm chiến sĩ cộng sản và đồng bào yêu nước bị chúng giết hại. Với ý nghĩa lịch sử vô cùng thiêng liêng của Ngã ba Giồng, nơi ghi dấu tội ác dã man của giặc Pháp, nơi thể hiện ý chí chiến đấu bất khuất kiên cường và sự hy sinh cao cả của đồng chí và đồng bào ta sau cuộc khởi nghĩa Nam kỳ (23/11/1940); sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng (30/4/1975), huyện Hóc Môn đã nhanh chóng khôi phục và tôn tạo khu di tích lịch sử cách mạng Ngã ba Giồng nhằm giáo dục truyền thống cho các thế hệ thanh thiếu niên. Nơi đây đã trở thành điểm tham quan, nơi tổ chức lễ hội truyền thống trong những ngày lễ lớn hàng năm của huyện Hóc Môn và thành phố đặc biệt là lễ kỷ niệm ngày Nam kỳ Khởi nghĩa (23/11). Hiện nay được sự nhất trí của thành phố, huyện đang tiến hành tôn tạo xây dựng Ngã ba Giồng thành “Khu tưởng niệm liệt sĩ Ngã ba Giồng”. Nguồn: Cổng thông tin điện tử Hóc Môn

TP Hồ Chí Minh

13186 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở