Di tích lịch sử

Việt Nam
Di chỉ khảo cổ Đông Sơn

Di chỉ khảo cổ Đông Sơn

Di chỉ khảo cổ Đông Sơn – nơi lắng đọng tinh hoa văn hóa Việt cổ. Nằm bên sông Mã, thuộc phường Hàm Rồng, tỉnh Thanh Hóa, di chỉ khảo cổ Đông Sơn là một trong những địa điểm quan trọng nhất của nền văn hóa Đông Sơn, có niên đại khoảng hơn 2.000 năm trước. Di chỉ được phát hiện vào năm 1924 khi người dân tình cờ tìm thấy những hiện vật bằng đồng bên bờ sông Mã. Qua nhiều đợt khảo sát và khai quật, hàng loạt hiện vật quý đã được phát hiện như công cụ sản xuất, vũ khí, đồ gốm, đồ trang sức và đặc biệt là trống đồng. Những hiện vật này cho thấy cư dân Đông Sơn đã đạt trình độ cao về luyện kim, sản xuất nông nghiệp, thủ công nghiệp và đời sống tinh thần. Đặc biệt, trống đồng Đông Sơn được xem là một trong những biểu tượng tiêu biểu của nền văn minh Việt cổ, thể hiện kỹ thuật đúc đồng tinh xảo và đời sống tín ngưỡng, lễ hội của cư dân xưa. Không chỉ có giá trị về khảo cổ học, di chỉ Đông Sơn còn góp phần làm sáng tỏ quá trình hình thành và phát triển của văn hóa Việt cổ ở lưu vực sông Mã, đồng thời khẳng định vị trí của văn hóa Đông Sơn trong lịch sử Đông Nam Á. Theo: Báo và Phát thanh, Truyền hình Thanh Hoá

Thanh Hóa

82 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Chiến khu Ngọc Trạo

Chiến khu Ngọc Trạo

Chiến khu Ngọc Trạo nằm trên địa bàn xã Ngọc Trạo, tỉnh Thanh Hóa, là một trong những địa chỉ đỏ tiêu biểu gắn với phong trào cách mạng ở xứ Thanh. Đầu tháng 6 năm 1941, Tỉnh ủy Thanh Hóa lựa chọn vùng Ngọc Trạo để xây dựng chiến khu. Ngày 19 tháng 9 năm 1941, tại Hang Treo, 21 chiến sĩ du kích đầu tiên đã tuyên thệ chiến đấu, hy sinh vì sự nghiệp giải phóng dân tộc. Từ đây, Đội du kích Ngọc Trạo nhanh chóng phát triển, thu hút thanh niên yêu nước từ nhiều địa phương, trở thành một lực lượng vũ trang cách mạng quan trọng của Thanh Hóa. Rạng sáng ngày 19 tháng 10 năm 1941, thực dân Pháp tổ chức cuộc tấn công vào chiến khu. Các chiến sĩ du kích đã anh dũng chiến đấu, đánh giáp lá cà và chủ động rút lui để bảo toàn lực lượng. Dù tồn tại trong thời gian không dài, Chiến khu Ngọc Trạo đã góp phần đặt nền móng cho phong trào đấu tranh vũ trang, để lại nhiều kinh nghiệm quý báu cho cách mạng trước Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945. Ngày nay, Khu di tích Chiến khu Ngọc Trạo là địa chỉ giáo dục truyền thống cách mạng, giúp thế hệ hôm nay hiểu hơn về tinh thần yêu nước, ý chí quật cường và sự hy sinh của các chiến sĩ cách mạng trong những năm tháng gian khó. Nguồn: Báo Quân đội nhân dân

Thanh Hóa

161 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Di tích lịch sử quốc gia Phủ Trịnh

Di tích lịch sử quốc gia Phủ Trịnh

Di tích lịch sử quốc gia Phủ Trịnh – Dấu ấn vương triều Lê – Trịnh trên đất Thanh Hóa. Nằm tại xã Vĩnh Hùng, tỉnh Thanh Hóa, Di tích lịch sử quốc gia Phủ Trịnh là điểm đến giàu giá trị lịch sử, gắn liền với vương triều Lê – Trịnh và thời kỳ các chúa Trịnh giữ vai trò quan trọng trong việc điều hành đất nước. Đây không chỉ là nơi thờ các vị chúa Trịnh mà còn là công trình mang đậm dấu ấn văn hóa, kiến trúc và lịch sử của vùng đất "cung vua, phủ chúa". Phủ Trịnh được xây dựng trên quê hương của dòng họ Trịnh, từng là hành dinh và nơi thờ cúng tổ tiên của các chúa Trịnh trong thời kỳ "phò Lê, diệt Mạc". Trải qua nhiều biến cố lịch sử, khu di tích đã được bảo tồn, tu bổ và tôn tạo với nhiều hạng mục kiến trúc theo phong cách cung đình truyền thống, góp phần tái hiện không gian uy nghi của phủ chúa xưa. Đến tham quan Phủ Trịnh, du khách không chỉ được chiêm ngưỡng những công trình mang giá trị nghệ thuật, kiến trúc mà còn có cơ hội tìm hiểu về giai đoạn lịch sử kéo dài gần 250 năm của các chúa Trịnh. Hằng năm, lễ giỗ Minh Khang Thái Vương Trịnh Kiểm diễn ra vào ngày 18 tháng 2 âm lịch thu hút đông đảo người dân và du khách đến dâng hương, tưởng niệm. Ngày nay, Phủ Trịnh là một trong những điểm đến lịch sử tiêu biểu của Thanh Hóa. Khi kết hợp tham quan cùng Thành Nhà Hồ, động Hồ Công và các danh thắng lân cận, nơi đây góp phần tạo nên hành trình khám phá văn hóa, lịch sử đặc sắc của vùng đất xứ Thanh. Theo: Báo du lịch Thanh Hoá

Thanh Hóa

389 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Di tích lịch sử và thắng cảnh Phủ Na

Di tích lịch sử và thắng cảnh Phủ Na

Di tích lịch sử và thắng cảnh Phủ Na – Điểm đến tâm linh giữa núi rừng xứ Thanh. Nằm dưới chân núi Nưa, thuộc xã Xuân Du, tỉnh Thanh Hóa, Phủ Na (Na Sơn Động Phủ) là một trong những điểm du lịch tâm linh nổi tiếng của xứ Thanh. Di tích gắn với tín ngưỡng thờ Mẫu và lưu giữ sự giao thoa độc đáo giữa tín ngưỡng Việt – Mường, thu hút đông đảo du khách và Phật tử đến chiêm bái, vãn cảnh quanh năm. Được xây dựng từ thời Nguyễn, Phủ Na gồm nhiều hạng mục kiến trúc như đền Cô Ba, chính điện thờ Mẫu, đền Bà Chúa Thượng, đền Cô Chín, đền Quan Hoàng cùng các lầu Cô, lầu Cậu. Nổi bật nhất là đền Mẫu Nghi Thiên với kiến trúc truyền thống, các ban thờ được bài trí trang nghiêm và chạm khắc tinh xảo, tạo nên không gian linh thiêng giữa núi rừng. Không chỉ mang giá trị lịch sử và tín ngưỡng, Phủ Na còn hấp dẫn bởi cảnh quan thiên nhiên trong lành với rừng cây xanh mát, những dãy núi trùng điệp và dòng nước ngầm trong vắt chảy quanh năm từ lòng núi. Khung cảnh sơn thủy hữu tình cùng bầu không khí yên bình mang đến cho du khách cảm giác thư thái khi tham quan và hành hương. Ngày nay, sau khi được trùng tu, tôn tạo, Phủ Na ngày càng khang trang và trở thành điểm đến văn hóa, tâm linh tiêu biểu của Thanh Hóa. Đây là nơi lý tưởng để du khách tìm hiểu giá trị lịch sử, tín ngưỡng dân gian, đồng thời tận hưởng vẻ đẹp hài hòa giữa kiến trúc truyền thống và thiên nhiên hùng vĩ. Theo: Du lịch Thanh Hoá

Thanh Hóa

202 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Khu di tích lịch sử cách mạng Yên Trường

Khu di tích lịch sử cách mạng Yên Trường

Khu di tích lịch sử cách mạng Yên Trường – Địa chỉ đỏ của xứ Thanh. Khu di tích lịch sử cách mạng Yên Trường nằm tại xã Thọ Lập, tỉnh Thanh Hóa. Đây là một trong những di tích lịch sử cách mạng tiêu biểu của địa phương, gắn liền với những dấu mốc quan trọng trong quá trình hình thành và phát triển của phong trào cách mạng ở Thanh Hóa. Nơi đây ghi dấu sự kiện thành lập Chi bộ Đảng đầu tiên của huyện Thọ Xuân cũ vào ngày 22/7/1930 và Hội nghị thành lập Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa vào ngày 29/7/1930. Trải qua gần một thế kỷ, khu di tích vẫn lưu giữ nhiều hiện vật, tư liệu và không gian lịch sử có giá trị, góp phần tái hiện những năm tháng đấu tranh gian khó nhưng đầy hào hùng của các thế hệ đi trước. Trong những năm gần đây, di tích được đầu tư trùng tu, tôn tạo với nhiều hạng mục như nhà truyền thống, nhà di tích, khuôn viên và hệ thống hạ tầng, vừa bảo tồn giá trị lịch sử, vừa đáp ứng nhu cầu tham quan, học tập và nghiên cứu. Ngày nay, Khu di tích lịch sử cách mạng Yên Trường là điểm đến quen thuộc của các đoàn cán bộ, đảng viên, học sinh, sinh viên và du khách trong các hành trình về nguồn. Nơi đây thường xuyên diễn ra các hoạt động dâng hương, sinh hoạt chính trị, giáo dục truyền thống, góp phần bồi đắp lòng yêu nước và niềm tự hào dân tộc cho các thế hệ. Không chỉ mang ý nghĩa lịch sử sâu sắc, Khu di tích lịch sử cách mạng Yên Trường còn là điểm đến giúp du khách hiểu hơn về truyền thống cách mạng vẻ vang của Thanh Hóa. Mỗi công trình, hiện vật và câu chuyện tại di tích đều góp phần lưu giữ ký ức lịch sử, trở thành "địa chỉ đỏ" có ý nghĩa trong hành trình tìm hiểu văn hóa, lịch sử của vùng đất xứ Thanh. Theo: Báo Thanh Hoá

Thanh Hóa

264 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp tỉnh

Mở

Chùa Ngọc Đới

Chùa Ngọc Đới

Chùa Ngọc Đới – Ngôi cổ tự lưu giữ dấu ấn lịch sử và nghệ thuật xứ Thanh Chùa Ngọc Đới tọa lạc tại xã Đông Thành, tỉnh Thanh Hóa, là một trong những ngôi chùa cổ tiêu biểu của vùng đất xứ Thanh. Được xây dựng từ thế kỷ XIII dưới thời Trần, chùa gắn với truyền thuyết vua Trần Nhân Tông ban đai ngọc để dựng chùa sau khi thị sát phòng tuyến chống quân Nguyên Mông. Từ đó, ngôi chùa mang tên Ngọc Đái tự (nay gọi là chùa Ngọc Đới), trở thành điểm sinh hoạt tín ngưỡng quan trọng của người dân địa phương. Chùa được xây dựng theo lối kiến trúc truyền thống "tiền chùa hậu phủ", với chính điện hình chữ Đinh gồm tiền đường năm gian và chính tẩm ba gian. Công trình được làm bằng gỗ lim, mái lợp ngói mũi hài, nổi bật giữa không gian xanh mát với hồ bán nguyệt và cây thông cổ thụ hàng trăm năm tuổi, tạo nên vẻ đẹp thanh tịnh, cổ kính. Không chỉ có giá trị kiến trúc, chùa Ngọc Đới còn lưu giữ nhiều di sản nghệ thuật quý như 32 pho tượng cổ, trong đó có một tượng đồng và 31 tượng gỗ được chạm khắc tinh xảo. Bên cạnh đó là hệ thống hoành phi, câu đối, bia đá, chuông đồng, kiệu Long Đình, kiệu Hoa Bành và nhiều hiện vật thờ tự có giá trị, phản ánh nghệ thuật điêu khắc truyền thống đặc sắc của Việt Nam. Trong suốt chiều dài lịch sử, chùa Ngọc Đới còn gắn liền với các phong trào yêu nước. Cuối thế kỷ XIX, nơi đây từng là căn cứ của nghĩa quân Ba Đình trong phong trào Cần Vương. Những năm trước Cách mạng Tháng Tám, chùa là cơ sở nuôi giấu cán bộ cách mạng và tích cực tham gia các hoạt động kháng chiến, góp phần vào sự nghiệp đấu tranh giành độc lập dân tộc. Nguồn tham khảo: Báo và Phát thanh, Truyền hình Thanh Hoá

Thanh Hóa

604 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Khu di tích lịch sử Lam Kinh

Khu di tích lịch sử Lam Kinh

Ẩn mình giữa vùng đất địa linh nhân kiệt, Khu di tích lịch sử Lam Kinh (huyện Thọ Xuân, Thanh Hóa) mang kiến trúc triều đình đặc trưng cùng dấu ấn lịch sử - văn hóa đậm nét, là minh chứng cho một thời kỳ phát triển rực rỡ của đất nước. Nằm trên địa bàn xã Xuân Lam, thị trấn Lam Sơn, huyện Thọ Xuân, cách thành phố Thanh Hoá 50km về phía Tây, Khu di tích lịch sử Lam Kinh không chỉ giữ được nguyên vẹn những công trình của triều đại nhà Hậu Lê, mà còn lưu giữ nhiều cổ vật quý giá của một thời được coi là hưng thịnh bậc nhất trong lịch sử Việt Nam. Khu di tích lịch sử Lam Kinh mang nhiều ý nghĩa giá trị văn hóa thiêng liêng không chỉ của nhân dân Thanh Hóa mà của cả dân tộc. Ðây là công trình kiến trúc nghệ thuật đặc sắc, mang dấu ấn văn hóa cung đình cùng toàn bộ các bia ký, lăng mộ, minh chứng cho từng bước phát triển rực rỡ của nền kiến trúc nước nhà. Các điện miếu và lăng mộ được bố trí theo quan điểm Nho giáo, thuật phong thủy, có sự hài hòa giữa đồi núi, khe suối, cây xanh, tạo nên một môi trường đẹp, cân bằng giữa cảnh quan thiên nhiên và kiến trúc. Thành điện Lam Kinh xưa được xây dựng theo địa thế “tọa sơn hướng thủy”, một tiêu chuẩn vàng trong phong thủy của người Á Đông. Phía Bắc của kinh thành dựa vào núi Dầu, phía Nam nhìn ra sông Chu, có núi Chúa làm bình phong, phía Đông là rừng Phú Lâm, còn phía Tây được bảo vệ bởi núi Hương và núi Hàm Rồng. Khu hoàng thành, cung điện và thái miếu của kinh thành Lam Kinh vẫn được giữ nguyên vẹn cho đến ngày nay, với cách bố trí hình bàn cờ gồm khu ngọ môn, sân rồng, chính điện, thái miếu… Đường dẫn vào hoàng thành có một con sông đào tên là sông Ngọc, dòng chảy này bắt nguồn từ Tây Hồ, vòng qua trước thành và điện Lam Kinh. Cây cầu Bạch (cầu Tiên Loan Kiều) bắc trên sông Ngọc là lối đi chính dẫn du khách vào thăm Kinh thành cổ Lam Kinh. Cầu có hình cánh cung, được làm theo kiểu dáng kiến trúc độc đáo gọi là thượng gia hạ kiều, tức trên nhà, dưới cầu. Qua cầu khoảng 50m đến một giếng cổ, nước giếng trong xanh và đầy quanh năm, bờ Bắc được lát bậc đá lên xuống, cung cấp nước cho điện Lam Kinh. Trước kia giếng được thả hoa sen nở rất đẹp và thơm, đồng thời giữ cho nước mát trong những ngày hè Ngay sau Chính điện là 9 tòa Thái miếu được bài trí trang nghiêm, linh thiêng với dáng hình cánh cung ôm lấy chính điện. Đây là nơi thờ các vua và thái hậu triều Hậu Lê, chủ yếu thời Lê Sơ với khung cảnh quanh năm nghi ngút khói hương, uy nghi và linh thiêng. Năm 1962, Khu di tích lịch sử Lam Kinh được công nhận là Di tích lịch sử cấp Quốc gia, đến năm 1994 được Chính phủ phê duyệt dự án trùng tu tôn tạo. Năm 2012, nơi đây tiếp tục được công nhận là Di tích Quốc gia đặc biệt. NGUỒN: CỤC DU LỊCH QUỐC GIA VIỆT NAM

Thanh Hóa

3247 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia đặc biệt

Mở

Đền Đồng Cổ

Đền Đồng Cổ

Đền Đồng Cổ là một trong những di tích lịch sử – văn hóa của huyện Yên Định được xếp hạng cấp Quốc gia (2001), cách TP. Thanh Hóa 40 km về phía Tây Bắc. Cùng với các di tích: Lam Kinh, thành nhà Hồ, Đông Sơn, Núi Đọ, Núi Nưa…, đền Đồng Cổ là điểm du lịch tâm linh và về nguồn, tạo thành quần thể di tích lịch sử – văn hóa Nổi tiếng của xứ Thanh có bề dày truyền thống từ lâu đời. Du khách từ TP. Thanh Hóa, ngược Rừng Thông, qua cầu Vạn Hà (sông Chu), đến thị trấn Quán Lào, đi chừng 12 cây số lên xã Yên Thọ là đến với đền Đồng Cổ ở thôn Đan Nê, xã Yên Thọ, nơi vừa có phong cảnh hữu tình, vừa có những huyền thoại gắn với nhiều giai đoạn trong lịch sử đất nước. Hiếm có một di tích nào ở xứ Thanh có lịch sử lâu đời gắn liền với những huyền thoại và nhiều giai đoạn lịch sử của đất nước như Đền Ðồng Cổ. Thuở xưa, với vị trí đắc địa nằm bên bờ hữu sông Mã, Đền Đồng Cổ đã trở thành điểm dừng chân của nhiều tao nhân mặc khách trên đường thiên lý. Ngày nay, danh tiếng của ngôi đền vẫn còn âm vang như mùa xuân vĩnh cửu của dân tộc thu hút du khách xa gần tìm về với cội nguồn. Cách thành phố Thanh Hoá 40km về phía Tây Bắc theo Quốc lộ 47 đến xã Yên Thọ (Yên Định) là du khách đã đến với Đền Đồng Cổ huyền thoại và hữu tình; cùng với di tích Lam Kinh, thành nhà Hồ, Đông Sơn,… đã tạo thành quần thể di tích lịch sử - văn hóa có bề dày truyền thống lâu đời của xứ Thanh. Tương truyền, một vị vua khi đi đánh giặc qua đây có nghỉ lại một đêm trên bến Trường Châu bờ phải sông Mã (nay thuộc xã Yên Thọ). Trong giấc chiêm bao, vua được một vị thần xưng là thần núi Đồng Cổ báo mộng rằng dưới chân núi có trống đồng cổ, đào lên dùng tiếng trống làm linh khí đuổi giặc. Khi vua tỉnh giấc còn nghe tiếng chuông đồng vọng từ ngôi đền dưới chân ba ngọn núi. Nhà vua làm theo những điều mà sơn thần nơi đây báo mộng. Quân giặc nghe tiếng trống đồng âm vang đã sợ khiếp vía và rút chạy. Từ đó, nơi ba ngọn núi đá chụm đầu vào nhau, tạo thế đoàn kết như kiềng ba chân, đã trở nên linh thiêng. Lịch sử ngôi đền ở Thượng Điện đã ghi: “Miếu Đồng Cổ được khởi dựng từ thời Hùng Vương (2569 – trước Công nguyên), đến thời Lý (1020) miếu được sửa sang lại, sang thời Lê - Trịnh (1630), miếu được xây dựng khang trang, to đẹp hơn… Miếu thờ thần núi Đồng Cổ rất hiển linh, vị thần đã giúp các triều đại đánh thắng giặc ngoại xâm và diệt trừ phản loạn: Giúp Vua Hùng đánh thắng giặc Hồ Tôn; giúp Vua Lý đánh thắng giặc Chiêm và diệt trừ phản loạn; giúp Vua Lê - Chúa Trịnh đánh tan nghịch Mạc; các đời Đinh, Lý, Trần, Lê thờ cúng đều ứng nghiệm, giúp việc giữ gìn đất nước…”. Vốn là nơi diễn ra các nghi lễ của các triều đại vua chúa nước ta nên trong đền còn lưu giữ rất nhiều thần tích, sắc phong của các triều đại. Các vương triều Trần, Lê, Trịnh - Nguyễn vẫn duy trì các nghi thức quốc lễ tại đền Đồng Cổ ở Yên Định (Thanh Hóa) và phường Bưởi (Hà Nội). Theo những người cao tuổi trong làng Đan Nê, đền Đồng Cổ từng có 38 gian, bề thế tựa lưng vào Tam Thái Sơn (hay còn gọi là dãy núi Đổng), bao quanh đền là rừng cây nguyên sinh rậm rạp, nhiều cây to, có nhiều chim, thú. Qua biết bao thăng trầm biến đổi, nay chỉ còn những ngọn núi đá với cây mọc tái sinh tầng thấp. Đền có Nghi môn gồm 3 tầng, 8 mái, mang phong cách kiến trúc thế kỷ 15 (thời Lê), được ghép bằng những khối đá vuông vức, cuốn thành vòm tò vò. Theo những bậc đá lên đến ngôi miếu cổ trên núi Xuân, du khách có thể thu vào tầm mắt phong cảnh của dòng sông Mã giữa đôi bờ bạt ngàn những ruộng ngô xanh mướt, xa xa phía bên kia sông là Thành Nhà Hồ cổ kính, trường tồn cùng thời gian. Trước đền, hồ Bán Nguyệt như một tấm gương soi mây trời lồng bóng núi. Thời kháng chiến chống Pháp, hang động Ích Minh trong lòng ngọn núi Tam Thái Sơn là xưởng sản xuất vũ khí của quân đội ta, trong hang còn ghi dấu vỏ bom và những vũ khí tự tạo. Khi quân Pháp phát hiện ra chúng đã cho máy bay ném bom phá đền Đồng Cổ. Ngôi đền chỉ còn lại nền móng, hai tấm bia, miếu nhỏ lưng chừng đỉnh núi Xuân, và chiếc cổng Nghi môn nằm ở phía tây ngôi đền. Đến thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước, một nhà máy điện cũng sơ tán về đây, sản xuất điện phục vụ kháng chiến ngay trong lòng hang Nội ở ngọn núi bên trái ngôi đền. Năm 2010, với ý nghĩa lịch sử và giá trị tâm linh sâu sắc Di tích đền Đồng Cổ ở làng Đan Nê, xã Yên Thọ (Yên Định, Thanh Hóa) được Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội gắn biển công trình kỷ niệm 1000 năm Thăng Long - Hà Nội. Đây thực sự là Di tích lịch sử - văn hóa có giá trị đặc biệt với người dân Việt Nam, nó thể hiện rõ tâm linh hướng thiện và tâm thức về nguồn, vọng ngưỡng lòng trung thành, yêu nước của người Việt Nam, phát huy những giá trị tiếp nối truyền thống thượng võ của dân tộc ta. Đây cũng là điểm tham quan, thưởng ngoạn và thắp hương cầu nguyện của du khách trong và ngoài nước mỗi dịp xuân về. Nguồn Cổng thông tin điện tử tỉnh Thanh Hóa .

Thanh Hóa

7060 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Đền thờ Nguyễn Phục

Đền thờ Nguyễn Phục

Nghè Mỹ Lộc là tên mà dân gian thường gọi thay vì tên quản lý nhà nước Đền thờ Nguyễn Phục - để định danh về tâm linh, tín ngưỡng của người làng mình. Theo Hương ước cổ làng Mỹ Lộc, xã Định Tiến được đóng quyển gần 20 trang bằng chữ Hán, lập ngày 24 tháng 2 năm Thiệu Trị 7, tức năm 1847 (dưới triều Nguyễn) cách nay 176 năm, thì nghè làng Mỹ Lộc thờ Đông Hải Linh ứng Huệ trạch Hoằng Hiệp Quảng nhuận (tức Đông Hải Đại vương Nguyễn Phục). Theo đó, dân làng Mỹ Lộc đã rước chân hương từ nhà thờ Đông Hải Đại vương Nguyễn Phục tại xã Quảng Trường, huyện Quảng Xương (nay thuộc phường Quảng Châu, TP Sầm Sơn) về lập nghè thờ Thần hoàng làng. Còn trong sách “Lịch sử Đảng bộ xã Định Tiến” (NXB Thông tin) lại ghi cụ thể rằng thời điểm đó, ở Lỗ Thôn (nay là thôn Mỹ Lộc) có cụ Mai Văn Y làm quan dưới triều vua Lê Ý tông, niên hiệu Vĩnh Hựu được sắc phong: Phấn lực tướng quân, sau là Minh Vũ tướng quân xin rước chân hương đức Thám hoa Nguyễn Phục - sắc Đông Hải - thượng đẳng thần về lập Thành hoàng làng. Nguyễn Phục quê ở huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương. Ông thi đỗ Hoàng giáp tiến sĩ niên hiệu Thái Hòa (1443-1453) thời vua Lê Nhân tông. Ông đã làm quan đến chức Hàn lâm phi viện tướng quân, kiêm chức sư phụ dạy học cho các Thần vương, Hoàng tử trong triều. Năm 1467, ông được bổ nhiệm chức tham chính sứ, xứ Thanh Hoa. Ông đã có công lớn trong việc đánh đuổi giặc Chiêm Thành và trấn an cửa biển. Có lần, khi vua Lê Thánh tông đem quân đi đánh dẹp Chiêm Thành, Nguyễn Phục giữ chức Đô chỉ huy sứ đốc vận chuyển quân nhu. Một lần đi tiếp tế quân lương, thuyền vận lương gặp bão lớn ở cửa Lạch Trào, ông quyết định chờ tan bão mới xuất quân vì thế lương bị chậm vài ngày. Quân luật khép ông vào tội “Bất tuân quân lệnh”, xử chém vào ngày 20 tháng 10 năm Canh Dần (1470) và táng tại địa phận phường Quảng Châu, TP Sầm Sơn ngày nay. Sau khi ông mất, xét công lao của ông đã đóng góp cho đất nước, vua Lê Thánh tông đã truy tặng sắc phong và cho dựng rất nhiều đền để thờ ông. Các triều đại sau như đời Lê Hiến tông, Lê Dụ tông đều sắc phong Nguyễn Phục hàng Thượng đẳng phúc thần. Một con người khoa bảng, một người dám chịu tội trước hành động của mình, đồng thời là người thương dân, thương quân... tấm lòng ấy khiến Nhân dân khắp nơi nể phục, trong đó có dân làng Mỹ Lộc. Việc rước ngài về thờ cũng bởi mong muốn giáo dục cháu con giữ được đức, tài, để xây dựng làng, xã tốt hơn. Đó là lý do mà đền thờ Nguyễn Phục có mặt trên đất Mỹ Lộc. Đền thờ Nguyễn Phục đã được Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch công nhận xếp hạng di tích cấp tỉnh vào năm 1999. Đền thờ Nguyễn Phục chính là một phần đời sống tâm linh, tín ngưỡng của người dân thôn Mỹ Lộc (Định Tiến). Nguồn Cổng thông tin điện tử tỉnh Thanh Hóa .

Thanh Hóa

6702 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp tỉnh

Mở

Đền thờ Hoàng Minh Tự (Đền Đệ Tam)

Đền thờ Hoàng Minh Tự (Đền Đệ Tam)

Đền Hoàng Minh Tự Sầm Sơn nằm tại địa bàn phường Trường Sơn, thị xã Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hóa. Lịch sử của đền có tên thường gọi như “Hoàng Minh Tự” tên này là được đặt tên theo nhân vật, còn được đặt theo vị trí địa lý còn có tên gọi là đền Hạ hay còn gọi là đền đệ Tam (Sở dĩ gọi tên đền Hạ vì đền nằm ở chân núi Trường Lệ). Phía chân núi có đền Trung (thờ Tô Hiến Thành) đỉnh núi có đền Thượng hay còn gọi là đền Độc Cước. Về nhân vật Hoàng Minh Tự, thần họ Hoàng úy là người Bách Việt từ Nam Hoàng Hà (Trung Quốc) đến Việt Nam rồi ở lại một xã thuộc huyện Hậu Lộc Thanh Hóa. Khoảng năm Long Khánh đời nhà Trần(1373 - 1377) có giặc Chiêm thành đến xâm lấn. Vua nhà Trần thân chinh đi đánh giặc, ông đứng giữa đường đón và xin theo đi đánh giặc. Vua bèn sai ông làm đốc vận quân lương. Ông hoàn thành nhiệm vụ tốt và được vua Trần phong trước “Minh Tự”. Vì vậy nhân dân quen gọi ông là “Hoàng Minh Tự”. Khi ông mất triều đình sai dân lập đền thờ ở Thanh Hóa, theo thông kê của sách có (06) nơi thờ là: Xã Uy Hồ thôn đồng Lạc, thôn Xuân Lôi (Nay là xã Xuân Kỳ - Lộc Tân – Hậu Lộc;) thôn trường Lệ, xã Du Vịnh; Sơn thôn huyên Quảng Xương, đại danh Sơn thôn chính là đền Hoàng Minh Tự mà chúng ta đang thờ phụng đến nay đã hơn 700 năm – Là nơi thờ chính (Làng núi chính là phường Trường Sơn, hiện nay). Đền “Hoàng MinhTự” có kiến trúc kiểu chuôi vồ. Có ba thành phần chính là tiền đường, trung đường, hậu cung. Đây là kiểu kiến trúc đền sớm nhất của nước ta trong đền hiên vật cổ của đền không còn nhiều. Chỉ còn một số hiện vật như hương án, long ngai, đại tự (bức đại tự sơn son thiếp vàng ghi chữ hán”Tối linh từ” tức là đền rất thiêng). Có bốn đạo sắc phong,một cỗ kiệu song loan,một bộ áo chầu.Những hiện vật này được bảo quản tốt (Đang lưu giữ và bảo quản tại đền Độc Cước chờ ngày rước về đền Hạ . Căn cứ vào dòng chữ ghi trên thương lương ,tiền đường .Lần trùng tu gần đây nhất là vào năm bảo đại thứ ba 1928 đến nay (đã tròn 80 năm).Toàn bộ kết cấu cột, xà dọc và bộ vì kèo đền làm bằng vật liệu xi măng cốt thép, làm theo kiểu vuông thành chữ nhật. Các bộ phận như kẻ, đấu, dường đố đều có trang trí họa tiết hoa văn hình mây lá. Hai bức tượng Võ quan đắp bằng vôi mật ( Do công ty tư vấn và thiết kế công trình văn hóa Bộ văn hóa – thông tin, kiểm tra và thống kê tháng 10 năm 2002). Thần “Hoàng Minh Tự” là vị thần mà các nhà nghiên cứu cho biết Thanh Hóa có 06 nơi thờ. Song phường Trường Sơn chúng ta tự hào có đền Hoàng Minh Tự là đền chính, thần “Hoàng Minh Tự” là biểu tượng hoàn hảo của tinh thần đoàn kết cộng đồng, sự lao động cần cù sáng tạo, chống lại các thế lực xấu xa, vì cuộc sống bình yên của nhân dân .vv… mà hậu sinh chúng ta đời nào cũng phải học tập. Thần Hoàng Minh Tự là hình tượng cao đẹp, không mang danh lợi, vì cuộc sống bình yên của nhân dân .vv… mà mỗi chúng ta, ai ai cũng cần học tập noi theo, xin thắp một nén hương, trầm mặc dâng lên đấng thần linh, tổ tiên mà tự nhủ với lòng mình: Hãy rũ bỏ những gì xấu xa, khuất tắt mà làm nhiều việc thiện, làm nhiều việc tốt đẹp góp phần mình xây dựng, điểm tô cho cuộc sống này, cuộc sống hiện tại và tương lai tốt đẹp hơn. Nguồn Cổng thông tin điện tử tỉnh Thanh Hóa .

Thanh Hóa

6343 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp tỉnh

Mở