Di tích lịch sử
Việt NamDi tích Nhà hội Bình Trước
Nhà hội Bình Trước là một di tích lịch sử gắn liền với những dấu mốc quan trọng của cách mạng Biên Hòa trong những ngày đầu giành chính quyền. Công trình được xây dựng khoảng năm 1936, vốn là nơi hoạt động của hương chức hội tề làng xã Bình Trước. Nhà hội có kiến trúc khá độc đáo, nổi bật với những mảng trang trí bằng gốm Biên Hòa và các chi tiết điêu khắc gỗ tinh tế, mang đậm nét nghệ thuật kiến trúc dân gian Nam Bộ. Đặc biệt, ngày 23 tháng 9 năm 1945, tại đây diễn ra Hội nghị cán bộ tỉnh Biên Hòa, quyết định thành lập Tỉnh ủy Biên Hòa đầu tiên sau Cách mạng Tháng Tám, với sự tham dự của đồng chí Hà Huy Giáp, đại diện Xứ ủy Nam Kỳ. Hội nghị đã đề ra nhiều nhiệm vụ quan trọng như củng cố chính quyền cách mạng, ổn định đời sống nhân dân, xây dựng lực lượng vũ trang và chuẩn bị cho cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Với những giá trị lịch sử và kiến trúc tiêu biểu, Nhà hội Bình Trước được Nhà nước xếp hạng di tích lịch sử ngày 30 tháng 12 năm 1991. Đây là địa điểm góp phần ghi dấu quá trình hình thành và phát triển của Đảng bộ Biên Hòa trong những năm đầu độc lập. Nguồn: Báo Đồng Nai điện tử
Đồng Nai
257 lượt xem
Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia
Trại lao động đặc biệt Bà Rá
Trại lao động đặc biệt Bà Rá – Chứng tích về nhà tù thực dân Pháp ở Nam Bộ. Nằm dưới chân núi Bà Rá, thuộc phường Phước Long, tỉnh Đồng Nai (trước đây thuộc thị xã Phước Long, tỉnh Bình Phước), Trại lao động đặc biệt Bà Rá là một di tích lịch sử tiêu biểu, ghi dấu tội ác của thực dân Pháp đối với các chiến sĩ yêu nước và cách mạng trong những năm 1940 – 1945. Được thực dân Pháp xây dựng từ năm 1940, trại mang danh nghĩa là "trại lao động", nhưng thực chất là một nhà tù trá hình để giam giữ các tù nhân chính trị và những người yêu nước. Nơi đây từng giam cầm nhiều chiến sĩ cách mạng nổi tiếng như Trần Văn Giàu, Nguyễn Thị Định, Nguyễn Thị Lựu… Trong điều kiện rừng núi hoang vu, khí hậu khắc nghiệt, tù nhân phải lao động khổ sai, thiếu thốn lương thực, thuốc men và chịu nhiều cực hình, song vẫn kiên cường giữ vững ý chí đấu tranh. Ngày nay, khu di tích vẫn còn lưu giữ dấu tích nền trại giam cùng nhiều tư liệu, hiện vật phản ánh cuộc sống và tinh thần bất khuất của các chiến sĩ cách mạng. Đây không chỉ là minh chứng cho một giai đoạn lịch sử đau thương mà còn là biểu tượng của lòng yêu nước, ý chí kiên cường và khát vọng giành độc lập của dân tộc Việt Nam. Nguồn: Theo Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam
Đồng Nai
499 lượt xem
Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia
Di tích lịch sử Địa điểm căn cứ Trung ương cục Miền Nam (1961-1962)
Địa điểm căn cứ Trung ương Cục miền Nam (1961-1962) được Bộ Văn hóa Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) xếp hạng là di tích lịch sử cấp Quốc gia theo Quyết định số 02/2001/Quyết Định -Bộ Văn Hóa Thông Tin ngày 19/01/2001. Hiện nay, Căn cứ Trung ương Cục miền Nam tọa lạc xã Phú Lý, huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai. Trước yêu cầu mới của cuộc cách mạng, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ III đã đề ra nhiệm vụ chiến lược cho hai miền Nam - Bắc. Đặc biệt với cách mạng miền Nam tăng cường sự lãnh đạo trực tiếp, toàn diện của Trung ương Đảng về chủ trương, đường lối và tổ chức thực hiện. Ngày 23/01/1961, Bộ Chính trị ra quyết định thành lập Trung ương Cục miền Nam và chỉ định Ban chấp hành gồm 08 đồng chí do đồng chí Nguyễn Văn Linh (Mười Cúc - Bí thư Trung ương Cục. Đồng chí Võ Chí Công (Võ Toàn) - Phó Bí thư; đồng chí Phan Văn Đáng (Hai Văn) - Phó Bí thư. Các đồng chí ủy viên gồm: Phạm Văn Xô (Hai Xô), Phạm Thái Bường, Võ Văn Kiệt, Trần Lương, Trương Công Thuận. Trung ương Cục miền Nam được giao nhiệm vụ lãnh đạo toàn bộ chiến trường miền Nam từ vĩ tuyến 17 trở vào. Hội nghị Trung ương Cục lần thứ nhất đã đề ra nhiệm vụ cấp bách là xây dựng các cơ quan chuyên môn giúp cấp ủy đề ra các chủ trương, đường lối, theo dõi, kiểm tra, đôn đốc việc thi hành các chủ trương, chỉ đạo nghiệp vụ cho cấp dưới và đào tạo cán bộ thuộc ngành phụ trách. Các cơ quan chuyên môn gồm: + Văn phòng: do đồng chí chí Lê Vụ (Bảy Thành, Dư Khánh, Bảy Khánh) làm Chánh văn phòng. + Ban Tổ chức - Tuyên huấn: do đồng chí Phan Văn Đáng – Trưởng ban; đồng chí Nguyễn Văn Ngượt (Ba Lâm, Ba Rừng) và đồng chí Lê Tự Nhiên - Phó ban. + Ban cơ yếu: do đồng chí Nguyễn Văn Chín làm Trưởng ban; đồng chí Trần Tiến Liên và Nguyễn Hoàng làm Phó ban. + Ban Hậu cần: Do đồng chí Lý Văn Kỷ làm Trưởng ban; đồng chí Nguyễn Hữu Tân (Năm Mộc) làm Phó ban. + Ban An ninh: đầu tiên gọi là Ban bảo vệ An ninh Trung ương Cục, sau đổi thành Ban An ninh Trung ương Cục; do đồng chí Phạm Thái Bường - Trưởng ban; đồng chí Cao Đăng Chiến (Sáu Hoàng) - Phó ban. + Ban Quân sự Miền: Tư lệnh Trần Quang (Bảy Tiến); Chính ủy Trần Lương. Nhiệm vụ chỉ đạo tác chiến, xây dựng, phát triển lực lượng vũ trang , xây dựng hình thành ba thứ quân. + Ban Kinh tài: do đồng chí Phạm Văn Xô (Hai Xô, Hai Già) làm Trưởng ban; đồng chí Nguyễn Văn Phi làm Phó ban. Từ căn cứ này, Trung ương Cục đã xây dựng các cơ quan chuyên môn cấp ủy; đề ra các chủ trương, đường lối; chỉ đạo và lãnh đạo nhân dân miền Nam trường kỳ kháng chiến trong suốt thời gian chiến tranh ác liệt tới ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng; bằng những chiến công vang dội như chiến thắng Hiếu Liêm, Phước Thành… góp phần tô đẹp thêm những trang sử oai hùng của quân dân miền Nam. Trải qua thời gian dài tồn tại và phát triển dưới sự tàn phá của chiến tranh, thiên nhiên và con người di tích Căn cứ Trung ương Cục miền Nam bị xuống cấp, hư hỏng. Năm 2004, thực hiện sự chỉ đạo của Ban Bí thư Trung ương Đảng, Tỉnh ủy, UBND tỉnh Đồng Nai đã tiến hành trùng tu, tôn tạo di tích Căn cứ Trung ương Cục miền Nam với các hạng mục: nhà bia, nhà trưng bày, đền tưởng niệm... nhằm bảo tồn, phát huy các giá trị di tích và thể hiện đạo lý “Uống nước nhớ nguồn” của dân tộc Việt Nam xem như nơi đây là địa chỉ đỏ nhằm giáo dục thế hệ trẻ hôm nay và mai sau. Nguồn Cổng thông tin huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai.
Đồng Nai
4816 lượt xem
Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia.
Địa đạo Nhơn Trạch
Địa đạo Nhơn Trạch tọa lạc tại ấp 5, xã Long Thọ, huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai, còn được gọi là địa đạo Phước An vì khi xưa di tích thuộc xã Phước An, huyện Nhơn Trạch, tỉnh Biên Hòa. Được biết, trước đây từ giữa năm 1963 cho đến cuối năm 1964, hệ thống địa đạo được đào 1.500m đường địa đạo với nhiều ngõ ngách, hầm bí mật. Hệ thống địa đạo liên hoàn khép kín được thiết kế có dạng gần giống chữ chi (Z). Đường xương sống địa đạo được 200m thì được trổ ngách sang hai bên để tạo thành phòng chức năng cho các đơn vị. Tại điểm chính giữa ở mỗi đoạn xương sống địa đạo (100m) được bố trí hai lỗ thông hơi hình phễu úp. Nhiều đoạn địa đạo thiết kế với nhiều đường thẳng gấp khúc, chiều dài mỗi đoạn khoảng 100m. Kích thước của địa đạo tính từ vòm tới đáy dao động: cao 1,8m đến 2m, ngang 1m đến 1,2m. Nóc địa đạo có cấu trúc hình vòm. Ngăn cách giữa các đoạn với nhau bằng một ngăn bí mật có nắp đậy kín, độ dày của ngăn là 1m được khoét một lỗ tròn có đường kính vừa thân người. Miệng chính của địa đạo được bố trí tại trung tâm căn cứ có kích thước dài 2m ngang 1m50, sâu 7m dẫn vào xương sống địa đạo. Độ sâu 7m tính từ mặt đất tới đáy địa đạo được đào theo hình rích rắc tạo thành những bậc thang. Phía trên địa đạo là căn cứ Huyện ủy được bố trí như một tam giác đều, mỗi cạnh dài 70m với ba mặt là giao thông hào sâu 2m, rộng 1m20 tạo thành hệ thống giao thông khép kín. Cách bố trí này được gọi bố trí theo kiểu “kiềng ba chân”, cả ba mặt giao thông hào được xây dựng 7 ụ chiến đấu, mỗi ụ có kích thước ngang 2m, dài 3m, sâu 1m20; phía trên lắp cây, đắp đất dày 1m, ba mặt bố trí ba lỗ châu mai. Bên ngoài hệ thống giao thông hào được bố trí hai hàng chông sắt lớn nhỏ và tầm vông vạt nhọn xen kẽ. Cuối cùng là ba lớp hàng rào kẽm gia. Dẫn vào căn cứ duy nhất có một con đường mòn nằm về phía tây bắc của rừng Lòng Chảo. Tại căn cứ này, quân dân Nhơn Trạch đã làm nên những chiến thắng vang dội trong những năm 1965 - 1970. Từ năm 1972, địa đạo Nhơn Trạch trở thành nơi bám trụ dài ngày của 500 cán bộ chiến sĩ Đoàn 10 Rừng Sác, là nơi xuất phát đánh địch ở các hướng sông Lòng Tàu, kho bom Thành Tuy Hạ… gây cho địch nhiều tổn thất nặng nề. Với những giá trị to lớn đó, Địa đạo Nhơn Trạch đã được Bộ Văn hóa và Thông tin (Nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) công nhận là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia vào ngày 19/01/2001. Ngày nay Địa đạo Nhơn Trạch là địa điểm về nguồn để giáo dục truyền thống cho thế hệ trẻ. Giới trẻ đến để tham quan, tưởng nhớ công lao to lớn của cha ông xưa từ đó tu dưỡng đạo đức, nhân cách, cố gắng phấn đấu, cống hiến để xứng đáng với sự hi sinh to lớn của thế hệ đi trước. Nguồn Cổng thông tin điện tử huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai.
Đồng Nai
6170 lượt xem
Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia.
Căn cứ Khu ủy miền Đông Nam Bộ (Chiến khu Đ)
Khu ủy miền Đông Nam bộ (1962 - 1967) được Bộ Văn Hóa Thông Tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) xếp hạng di tích cấp Quốc gia theo Quyết định số 3744-Quyết Định/Bộ Văn Hóa Thông Tin, ngày 29/11/1997. Tháng 6/1960, Bộ Chỉ huy lực lượng vũ trang giải phóng miền Đông (quân khu miền Đông) và Khu ủy miền Đông (T1) được chính thức thành lập, đặt cơ quan lãnh đạo, chỉ huy tại ngọn suối Linh (gọi là căn cứ 820) thuộc chiến khu Đ. Khu ủy miền Đông do đồng chí Mai Chí Thọ (Tám Cao) làm Bí thư. Đồng chí Nguyễn Hữu Xuyến được cử làm chỉ huy trưởng, đồng chí Lâm Quốc Đăng làm chỉ huy phó. Các cơ quan Khu đều đóng dọc theo suối Linh. Tại đây, Khu ủy, Bộ Tư lệnh quân khu đã đứng chân trong suốt thời gian dài lãnh đạo chỉ đạo phong trào, mệnh lệnh tác chiến; nơi đứng chân và tổ chức chiến đấu bảo vệ các cơ quan lãnh đạo, chỉ huy. Khu căn cứ tọa lạc trên đỉnh đồi đất sỏi khá bằng phẳng, độ dốc thoai thoải, diện tích trên 28ha, độ cao 20m so với bề mặt suối Linh. Toàn bộ khu đồi được bao phủ bởi rừng cây dày đặc trong hệ thống rừng nguyên sinh miền Đông. Một phần căn cứ được bao bọc bởi suối Linh quanh năm nước trong vắt, các loài hải sản dồi dào là nguồn thực phẩm vô tận cung cấp cho các lực lượng quân giải phóng. Căn cứ Khu ủy được cấu thành bởi: Hệ thống giao thông hào có tổng chiều dài 569m, sâu từ 50 đến 60cm, rộng 60cm phân làm ba tuyến (tuyến phòng thủ vòng trong, vòng ngoài và phục vụ cho việc canh gác và chiến đấu. Hệ thống địa đạo liên hoàn theo hướng Đông - Bắc và Tây - Nam có chiều dài trên 260m. Đường đi trong lòng địa đạo có nhiều đoạn gấp khúc, gãy góc, quanh co, có các ngã ba nối thông các đoạn địa đạo với nhau hoặc dẫn lên các miệng địa đạo tại các cửa hầm. Hệ thống miệng địa đạo độc lập chủ yếu dạng hình tròn và chữ nhật, độ sâu từ 3-4m trong các phân đoạn của hệ thống địa đạo. Hệ thống hầm trú ẩn được bố trí đều khắp trên mặt căn cứ, nơi làm việc của lãnh đạo Khu uỷ và các cơ quan trực thuộc gồm: văn phòng, cơ yếu, phục vụ, vệ binh… Ngoài ra, trong Khu căn cứ còn có hệ thống bếp Hoàng Cầm và giếng nước phục vụ cho sinh hoạt. Nằm ở vị trí thuận lợi cả về phòng thủ và tấn công, cách bố trí khoa học, Khu ủy miền Đông Nam bộ là địa bàn đứng chân của Khu ủy, Bộ tư lệnh quân khu trong suốt thời gian từ 1962 - 1967. Từ đây, Khu ủy, Bộ tư lệnh quân khu lãnh đạo, chỉ huy các lực lượng vũ trang phối hợp với quân chủ lực miền Nam làm nên những chiến thắng vang dội như: Phước Thành, Hiếu Liêm, Bình Giã, Đồng Xoài, Đất Cuốc, Bàu Sắn... Từng bước làm phá sản hoàn toàn chiến lược “Chiến tranh đặc biệt ” và ''Chiến tranh cục bộ '' của Mỹ - ngụy, mở rộng và bảo vệ an toàn căn cứ, chuẩn bị mọi mặt cho Tổng tiến công nổi dậy Xuân 1968. Trải qua thời gian, năm 2001, di tích Khu ủy miền Đông Nam bộ được phục hồi lại toàn bộ diện mạo gồm: Hệ thống địa đạo, hệ thống giao thông hào, hầm trú ẩn, văn phòng… Sau khi trùng tu, tôn tạo di tích thường xuyên đón tiếp nhiều đoàn khách trong và ngoài nước; các đồng chí lãnh đạo Trung ương đến tham quan, ôn lại truyền thống hào hùng của một giai đoạn lịch sử đã qua. Chiến tranh đã lùi xa, nhưng Căn cứ Khu ủy miền Đông còn đó như một minh chứng lịch sử hào hùng cho tinh thần, lý tưởng cách mạng cao cả của dân tộc Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ; nỗi ám ảnh cho cho kẻ thù xâm lược và cảm hứng cho văn học thi ca nhân loại. Nguồn Cổng thông tin điện tử huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai.
Đồng Nai
4661 lượt xem
Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia.
Căn cứ Sở Chỉ huy Đặc khu Quân sự Rừng Sác và Đoàn 10 Đặc công Rừng Sác
Ngày 15-4-1966, một binh chủng đặc biệt được thành lập và trở thành bất tử với tên gọi Trung đoàn Đặc công rừng Sác anh hùng. Chiến khu Rừng Sác trải rộng trên diện tích hơn 2.200ha, thuộc các huyện Nhơn Trạch, Long Thành (Đồng Nai) đến H.Cần Giờ (Thành Phố Hồ Chí Minh). Hoạt động trong một điều kiện hết sức khắc nghiệt, giữa rừng ngập mặn, ngay sát nách quân thù với trang thiết bị, vũ khí tối tân, những người chiến sĩ đặc công thủy của Đoàn 10 Rừng Sác chỉ có “trái tim yêu nước nồng nàn, cộng với trí thông minh và trái bộc phá, con gao găm” (lời của đại tá - Anh hùng lực lượng vũ trang Lê Bá Ước, nguyên Trung đoàn trưởng kiêm Chính ủy Đoàn 10, nguyên Phó chỉ huy kiêm Tham mưu trưởng Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh Đồng Nai). Hơn 9 năm bám trụ, Đoàn 10 đã thực hiện hơn 600 trận đánh, hoàn thành mục tiêu khống chế toàn bộ hệ thống vận tải thủy tiếp tế cho Sài Gòn và phía Nam, đồng thời lập những chiến công vang dội ngay ở nội đô. Hơn 900 người đã hy sinh, đến nay còn hơn 500 liệt sĩ chưa tìm thấy... Tuy địa hình, cảnh quan nơi đây vẫn giữ được tương đối với hệ thống động thực vật phong phú nhưng do căn cứ làm chủ yếu bằng các vật liệu thô sơ như: Lá dừa nước, thân cây đước, sau khi chuyển sang địa điểm khác, hệ thống nhà làm việc, các cơ sở binh công xưởng của Sở Chỉ huy Đặc khu quân sự Rừng Sác và Đoàn 10 Đặc công Rừng Sác bị phá hủy hoàn toàn. Trên khu đất của căn cứ xưa hiện có tấm bia đá tưởng niệm do đại tá Lê Bá Ước (đoàn trưởng kiêm Chính ủy Đoàn 10 Đặc công Rừng Sác) lập để tưởng niệm các đồng chí, chiến sỹ đã hy sinh tại Đặc khu quân sự Rừng Sác. Việc đầu tư, tôn tạo di tích góp phần giáo dục truyền thống cách mạng cho thế hệ trẻ và cũng để tỏ lòng tôn kính, tri ân các anh hùng liệt sỹ đã chiến đấu và anh dũng hy sinh tại đây. Căn cứ Sở chỉ huy Đặc khu quân sự Rừng Sác và Đoàn 10 Đặc công Rừng Sác tại xã Phước An, huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xếp hạng di tích lịch sử cấp quốc gia tại Quyết định số 2105/Quyết Định -Bộ Văn Hóa Thể Thao Du Lịch ngày 08/7/2014. Nguồn Bộ Văn Hóa , Thể thao và Du lịch.
Đồng Nai
4638 lượt xem
Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia.
Di tích lịch sử Địa điểm vụ thảm sát Giồng Sắn
Ngày 23/9, Bộ Văn Hóa Thể Thao Du Lịch đã ban hành Quyết định số 3068/Quyết Định -Bộ Văn Hóa Thể Thao Du Lịch xếp hạng di tích quốc gia cho Di tích lịch sử Địa điểm vụ thảm sát Giồng Sắn, thuộc xã Phù Đổng, huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai. Trong thời kỳ chống đế quốc Mỹ xâm lược, địa điểm Giồng Sắn là nơi diễn ra vụ thảm sát của chính quyền Sài Gòn ngày 25/10/1965 làm 536 thường dân chết và rất nhiều người khác bị thương. Sau sự kiện này, huyện uỷ Nhơn Trạch đã tổ chức một cuộc biểu tình với hơn 1.000 người tham gia, phản đối hành động sát hại dân lành của chính quyền Sài Gòn. Cuộc biểu tình gây nên dư luận căm phẫn lớn trong cả nước, lên án sự độc ác, tàn bạo của quân đội Sài Gòn. Cuộc thảm sát này cũng dấy lên dư luận, được báo chí nước ngoài đưa tin, lên án. Để tưởng nhớ những người đã mất trong chiến tranh, năm 2004, huyện Nhơn Trạch khởi công xây dựng công trình Bia - Công viên tưởng niệm Giồng Sắn trên diện tích 15.000m2, đây là di tích ghi dấu, tố cáo tội ác của kẻ thù trong cuộc thảm sát thường dân vô tội diễn ra trên vùng đất Nhơn Trạch của tỉnh Đồng Nai. Địa điểm Giồng Sắn đã được UBND tỉnh Đồng Nai xếp hạng di tích cấp tỉnh năm 2004. Nguồn Bộ Văn Hóa Thể Thao và Du lịch.
Đồng Nai
5347 lượt xem
Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia.
Khu di tích lịch sử địa điểm thành lập Đoàn 125
Khu di tích Đoàn 125 (ấp Suối Râm, xã Long Giao, huyện Cẩm Mỹ), nơi khai sinh của lực lượng vũ trang cách mạng đoàn kết cứu nước Campuchia và cũng là nơi an nghỉ của 49 chiến sĩ Campuchia được xem là một biểu tượng của tình đoàn kết Việt Nam-Campuchia. Cùng với thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ của nhân dân Việt Nam, Thủ đô Phnom Penh của nước bạn Campuchia cũng được giải phóng vào ngày 17/4/1975. Tuy nhiên, ngay sau đó, cách mạng Campuchia lại bước vào thời kỳ đen tối bởi nạn diệt chủng của chế độ Khơ me Đỏ do tập đoàn Pol Pot-Yeng Sari đứng đầu. Trước tình hình đó, được sự giúp đỡ chí nghĩa, chí tình của Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam, những chiến sĩ cách mạng chân chính Campuchia, trong đó có đương kim Thủ tướng Vương quốc Campuchia, ngài Samdec Hun Sen, đã sang Việt Nam để xây dựng lực lượng, đấu tranh lật đổ chính quyền diệt chủng Khơ me Đỏ. Ngày 12/5/1978, tại ấp Suối Râm, xã Long Giao, huyện Cẩm Mỹ, đơn vị tiền thân của lực lượng vũ trang cách mạng đoàn kết cứu nước Campuchia - Đoàn 125 được thành lập, do ngài Hun Sen làm Chỉ huy trưởng. Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, đã có 49 chiến sĩ của Đoàn 125 hy sinh tại đây. Cùng với các lực lượng yêu nước khác của Campuchia, Đoàn 125 đã phát triển thành quân đội hùng mạnh, lật đổ chính quyền Pol Pot, giải phóng nhân dân và đất nước Campuchia thoát khỏi nạn diệt chủng. Ngày 2/1/2012, dưới sự chủ trì của Thủ tướng Chính phủ Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng và Thủ tướng Vương quốc Campuchia Hun Sen, Khu di tích lịch sử địa điểm thành lập Đoàn 125 được khánh thành và Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Việt Nam đã cấp bằng công nhận là Khu di tích văn hóa lịch sử cấp Quốc gia. Nguồn Cổng thông tin điện tử tỉnh Đồng Nai.
Đồng Nai
4793 lượt xem
Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia.
Mộ, Đền thờ Đoàn Văn Cự & 16 Nghĩa binh Thiên Địa Hội
Mộ Đoàn Văn Cự và 16 nghĩa binh Thiên Địa Hội tọa lạc trên khu bình địa tổng kho Long. Bình, phường Long Bình, thành phố Biên Hòa. Đây là nơi an táng Đoàn Văn Cự, lãnh đạo hội kín Thiên Địa hội ở Biên Hoà cùng 16 nghĩa binh đã đứng lên kháng chiến chống lại quân Pháp. Đền thờ có kiến trúc đẹp, bao gồm nhà võ ca và chánh điện, là nơi tưởng nhớ và cầu nguyện cho Đoàn Văn Cự và các nghĩa binh. Mộ và đền thờ Đoàn Văn Cự được Bộ Văn hóa - thông tin xếp hạng di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia tại Quyết định số 722/Quyết Định -Bộ Văn Hóa Thể Thao ngày 25 tháng 4 năm 1998. Di tích gồm hai phần: mộ và đền thờ. Phần mộ là nơi an táng nhà yêu nước Đoàn Văn Cự, thủ lĩnh hội kín “Thiên địa hội” ở Biên Hòa và 16 nghĩa binh tử trận trong trận tấn công của Pháp vào bưng Kiệu năm 1905. Đây là nơi căn cứ kháng chiến của nghĩa binh “Thiên địa hội” Biên Hòa. Ngôi mộ tọa lạc trên khu bình địa, sát bên dòng suối Linh Tuyền, cách trung tâm thành phố Biên Hòa khoảng 8 km. Ban đầu chỉ là ngôi mộ chôn cất đơn sơ; năm 1956 được nhân dân địa phương xây đắp lại nhưng quy mô nhỏ, mãi đến 1990 ngôi mộ mới được xây dựng bề thế như hiện nay. Ngôi mộ hình chữ nhật dài 16,5 m, rộng 2 m cao 0,75 m, phía sau là ngôi miếu nhỏ thờ Đoàn Văn Cự và 16 nghĩa binh. Khu mộ được bảo vệ bởi hai vòng rào bằng gạch, có cổng ra vào, gần như bao quanh khu mộ là dòng suối Linh Tuyền. Ngôi đình cũng được xây dựng từ năm 1956, cách phần mộ khoảng 1km về hướng Đông Bắc. Đền tọa lạc trên khu đất bằng phẳng, rộng gần 3000 m2, thuộc phường Tam Hiệp, trên quốc lộ 15. Ngôi đền được xây dựng theo kiến trúc chữ tam (/) gồm hai phần chính: nhà võ ca và chánh điện. Nhà võ ca có diện tích 303,75 m2 đối diện với đền thờ chính. Bên trong có sân khấu nhỏ dùng để hát bội trong những dịp lễ. Một sân khấu đối diện với chánh điện. Trước khi vào chánh điện phải qua nhà Bái. Đây là nơi khách thập phương ra vào hành lễ. Nối tiếp nhà Bái là chánh điện; phía sau chánh điện là nhà khách và nhà bếp. Đoàn Văn Cự sinh năm 1835 tại làng Bình An, huyện Bình An, tỉnh Biên Hòa (nay là quận Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh) trong một gia đình nho học yêu nước. Ông lãnh đạo hội kín thiên địa hội ở Biên Hòa, một tổ chức yêu nước chống Pháp. Ông đã quy tụ đông đảo lực lượng nghĩa quân tiến hành cuộc kháng chiến chống Pháp (trước khi Đảng Cộng Sản ra đời). Để ngăn chặn ảnh hưởng và dập tắt phong trào ngay từ trong trứng nước, sáng ngày 12 tháng 4 năm 1905 một tiểu đội lính mã tà do tên Sen Đầm chỉ huy kéo xuống bao vây căn cứ Bưng Kiệu. Tên quan ba cùng tốp lính vượt suối Linh tiến vào. Đúng lúc không có quân canh phòng giặc Pháp ồ ạt tấn công. Đoàn Văn Cự đã bị trúng đạn hy sinh trước bàn thờ tổ cúng 16 nghĩa binh. Sau đó nhân dân địa phương đã an táng Ông và 16 nghĩa binh cùng một ngôi mộ. Mặc dù thời gian đã trôi qua, tấm gương can liệt của Đoàn Văn Cự và 16 nghĩa Binh vẫn mãi là tấm gương sáng về lòng yêu mến sự hy sinh của ông và các nghĩa binh mãi mãi được lịch sử lưu danh và ghi nhớ muôn đời. Nguồn Cục di sản văn hóa.
Đồng Nai
4864 lượt xem
Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia.
Mộ Nguyễn Đức Ứng và 27 Nghĩa binh chống Pháp
Từ ngã ba Vũng Tàu, theo quốc lộ 51 nối liền thành phố Biên Hoà với tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, ngôi mộ của Lãnh binh Nguyễn Đức Ứng và 27 nghĩa binh chống Pháp nằm về bên trái, cách quốc lộ 51 khoảng 250m, cách trung tâm huyện Long Thành khoảng 7km về hướng Nam. Di tích hiện là kết quả của lần tái thiết vào năm 1936 và các đợt trùng tu, tôn tạo sau này. Sau khi trùng tu tôn tạo năm 2010 khu mộ Nguyễn Đức Ứng và 27 nghĩa binh toạ lạc trên khu đất cao ráo với tổng diện tích là 27.402m2,diện tích trong hàng rào hiện hữu là 3.837m2 (trong đó diện tích xây dựng là 1.262m2), diện tích đất tạo khoảng lùi xây dựng là 4.571m2 và đất chừa đường đi cạnh hông ngoài khu đất là 570m2. Khu mộ có vị trí như sau: Bắc giáp: Khu đất trồng tràm, tre trúc và nhà vườn. Nam: giáp quốc lộ 51. Đông giáp: Vườn tràm và ruộng lúa. Tây giáp: Đường mòn - con đường đi lại trong xã Long Phước. Nhìn tổng thể, toàn khu mộ được bố trí theo một trục chính, lấy theo trục mộ Nguyễn Đức Ứng ra đến quốc lộ 51 hình thành nên khu đất với bề ngang là 65m,được chia đều ra hai bên theo trục chính. Tổng thể khu mộ được bố trí thành năm khu có vị trí như sau: Cổng tam quan, khu nhà đón tiếp khách : diện tích 5.204m2, khu trồng cây lưu niệm: diện tích 2.084m2, khu nhà bia,đền thờ : diện tích 6.438m2, khu mộ chính : diện tích 6.502m2. Lãnh binh Nguyễn Đức Ứng và 27 nghĩa binh hy sinh trong cuộc chiến đấu đánh trả quân Pháp xâm lược ngày 26-27 tháng 12 năm 1861. Sau khi Nguyễn Đức Ứng và các Nghĩa binh anh dũng hy sinh, nhân dân Long Thành tìm cách đưa thi hài Ông và các nghĩa binh về an táng trong ngôi mộ chung trên một khu đất cao của khu rừng nguyên sinh, ngay căn cứ kháng Pháp của Ông thuộc xã Long Thuận (nay là xã Long Phước, huyện Long Thành). Theo quan niệm phong thuỷ truyền thống thì ngôi mộ nằm trên gò đất hình lưng quy, vị thế cát địa, ảnh hưởng tốt cho sự an cư lạc nghiệp của dân chúng cư trú trong khu vực. Cũng từ đây, mảnh đất này trở thành nơi yên nghỉ ngàn đời của Ông và các nghĩa binh hy sinh vì Tổ quốc, có thể coi như là nghĩa trang liệt sĩ đầu tiên của huyện Long Thành. Mộ Nguyễn Đức Ứng và 27 nghĩa binh chống Pháp được trùng tu vào các năm 1936, năm 1996 và năm 2010. Kiến trúc xây dựng trong tổng thể khu đất tuân theo định hướng chung, nêu bật được ý tưởng “con nhà võ”. Mái ngói nhà bia và đền thờ mang dáng mái đặc trưng của cung đình Huế, triều đại nhà Nguyễn. Với giá trị đó , khu di tích Mộ Nguyễn Đức Ứng và 27 Nghĩa binh chống Pháp đã được xếp hạng di tích lịch sử cấp quốc gia theo quyết định số 2754-Quyết Định /Bộ Trưởng ngày 15 tháng 10 năm 1994. Nguồn Cổng thông tin điện tử huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai.
Đồng Nai
4687 lượt xem
Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia.









