Di tích lịch sử

Việt Nam
KHU DI TÍCH HẢI THƯỢNG LÃN ÔNG

KHU DI TÍCH HẢI THƯỢNG LÃN ÔNG

Khu di tích nằm tại thôn Liêu Xá, xã Liêu Xá, huyện Yên Mỹ, có quan hệ tới Hải Thượng Lãn ông Lê Hữu Trác - Đại y tôn Việt Nam. Ông sinh năm 1720 mất năm 1791, quê tại Liêu Xá. Ông là nhà y học vĩ đại, nhà thơ, nhà văn xuất sắc, một nhà tư tưởng tiến bộ thấm nhuần sâu sắc tinh thần nhân đạo. Sau khi ông mất, nhân dân và giới y học cả nước suy tôn là bậc Y Thánh của Việt Nam. Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác (1720-1791), người làng Liêu Xá, huyện Đường Hào, phủ Thượng Hồng, xứ Hải Dương (nay là thôn Liêu Xá, xã Liêu Xá, huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên). Ông tự đặt cho mình là Hải Thượng Lãn Ông, và không màng danh lợi, vinh hoa phú quý. Ông trở thành một thầy thuốc, một danh y nổi tiếng trong lịch sử Việt Nam. Cuộc đời Hải Thượng Lãn Ông là một dẫn chứng hùng hồn về y đức mà không cần cao giọng giảng giải, thuyết lý nhiều. Ông là người đặt nền móng xây dựng y thuật, một ngôi sao sáng trong làng Y học cổ truyền Việt Nam, người đã để lại cho hậu thế một kho tàng kinh nghiệm về Y học cổ truyền, không những về y lý mà cả thực tiễn hành nghề. Suốt 40 năm trong nghề y, ông đã đem hết tâm tư của mình vào việc chữa bệnh phục vụ nhân dân, nêu cao đạo đức nhân thuật, tận tụy, cần cù nghiên cứu, biên soạn, giảng dạy và đúc kết kinh nghiệm, xây dựng truyền thống y học nước nhà. Người còn là một nhà bác học tài năng, một nhà thơ lỗi lạc của thế kỷ 18, một nhà văn hóa với tư tưởng nhân văn lớn. Trong suốt cuộc đời làm thuốc của mình, ông đã để lại cho đời một bộ sách đồ sộ quý giá là bộ "Hải thượng Lãn ông Y tông tâm lĩnh" gồm 28 tập, 66 quyển. Năm 1791, ông qua đời tại Nghệ Tĩnh, “ngôi sao sáng trên bầu trời y học” khuất bóng nhưng gương sáng của ông còn mãi giữa trời. Sau khi mất, con cháu dòng họ cùng dân làng đã xây dựng nhà tưởng niệm Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác. Ban đầu quy mô khá nhỏ, đến năm 1992, Bộ Văn hóa Thông tin cùng với Bộ Y tế đã cấp kinh phí đầu tư trùng tu mở rộng thành Nhà tưởng niệm. Du khách tới thăm sẽ thấy đây không chỉ là nơi thờ tự mà còn là nơi trưng bày giới thiệu về thân thế sự nghiệp cũng như nhiều tác phẩm y thuật tiêu biểu của ông. Với diện tích 200m2 trưng bày trong khuôn viên rộng 1000m2, có nhiều di tích phụ cận xung quanh tạo nên một quần thể di tích rộng lớn. Gian giữa nhà tưởng niệm đặt khám thờ cùng các câu đối ca ngợi ông. Năm 2006, khu lưu niệm được trùng tu, tôn tạo, trong đó hạng mục nhà lưu niệm được dựng lại thành khu đền thờ chính. Năm 1990, khu di tích lưu niệm Đại danh y Hải Thượng Lãn Ông được Bộ Văn hoá Thông tin xếp hạng cấp Quốc gia. Hàng năm cứ vào rằm tháng giêng, nhân dân cùng những người hành nghề Đông y và các thầy thuốc lại tề tựu về đây để tưởng nhớ và tôn vinh y đức lớn lao của Lê Hữu Trác. Nơi đây đã trở thành điểm đến tâm linh của nhiều du khách thập phương đã đến du xuân đầu năm và thắp hương nguyện cầu cho một năm mới sức khoẻ dồi dào, may mắn, thành công trong cuộc sống. Điều làm nên sức hấp dẫn không chỉ bởi cảnh quan mà đây còn là nơi để hậu thế nhìn lại cùng học tập về đạo đức cũng như y thuật của bậc đại danh y. Nguồn Cổng thông tin điện tử huyện Yên Mỹ , tỉnh Hưng Yên.

Hưng Yên

5636 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia.

Mở

Đình Triệu Đà

Đình Triệu Đà

Đình thờ Triệu Đà (thời Triệu Vũ Đế), thôn 10, xã Xuân Quan, huyện Văn Giang. Đình được xây dựng từ lâu, trùng tu thời Nguyễn niên hiệu Tự Đức thứ 24 (1871). Hiện nay còn lưu giữ hiện vật như: Kiệu, bia đá, ngai, tượng thờ. Lễ hội hằng năm từ ngày 14 đến 16 tháng 2 âm lịch. Đình Triệu Đà xã Xuân Quan, huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên có tên là “Nam Việt Linh từ”, đến thời Lý Anh Tông mới đổi tên là đình Long Hưng. Đình Triệu Đà mang đậm nét kiến trúc của thế kỷ 17 – 18. Khuôn viên đình rộng rãi, thoáng đãng với diện tích vào khoảng 13000m. Đình được xây dựng theo kiểu nội công ngoại quốc, các hạng mục công trình nằm trên một trục đường thẳng trải dài từ cổng đình vào đến hậu cung. Các hạng mục chính của di tích gồm có: cổng ngoài, Nghi Môn, đại bái, hậu cung hạ, hậu cung thượng và hai dãy giải vũ. Mặt tiền đình quay hướng Nam, đó là hướng của trí tuệ, của sự sống. Nghi môn ở đình Triệu Đà khác hẳn so với Nghi môn của rất nhiều tích khác. Nghi môn được làm theo kiểu chồng diêm hai tầng tám mái, các đao đắp đầu rồng và đầu con sô ngẩng cao, mái lợp ngói mũi, đường bờ lóc lưỡng long chầu phật. Phần cổ diêm đắp ba chữ Hán: “Long Hưng Điện” (Điện Long Hưng). Kết cấu kiến trúc Nghi môn kiểu chồng rường đấu sen, bào trơn đóng bén, hai gian bên cạnh đặt hai pho tượng Túc Vệ (lính canh cổng), tượng tạo tác trong tư thế đứng thẳng nghiêm trang của người đứng gác. Hai bên Nghi môn còn có hai cổng phụ làm theo kiểu hai tầng tám mái, phía bên trong cổng phụ là con đường nhỏ đi vào khu nội tự. Đình Triệu Đà xây một cổng chính và hai cổng phụ như ngày nay có thể nơi đây xưa kia Vua quan trong triều thường về đây tế lễ, cầu đảo điều linh ứng. Qua sân là đến khu nội tự, công trình đầu tiên là tòa đại bái với 3 gian 2 dĩ được xây theo kiểu chồng diêm 2 tầng 8 mái. Các đao mái hình đầu rồng ngẩng cao. Đầu bờ nóc đắp hai con sô chầu mặt nhật ở giữa nóc. Đại bái được làm kiểu thông phong, hai đầu hồi bít đốc, mặt dưới và sau để trống tạo lên sự thông thoáng cho di tích. Các bộ vì đại bái được kết cấu kiểu chồng rường đấu sen, các con rường, đầu 7 đều được chạm hoa lá cách điệu. Gian giữa đại bái đặt nhang án thờ công đồng, nhang án làm bằng gỗ và được chạm khắc tứ linh, tứ quý. Trên nhang án để các đồ thờ cúng như: bát hương, bộ đỉnh đồng, đôi lục bình…Hậu cung đình Triệu Đà bao gồm ba gian hai dĩ, mái lợp ngói mũi. Ở gian giữa phía hè hiên được dựng nhô về phía trước tạo thành một gian. Gian này được làm kiểu tứ trụ với hai tầng tám mái. Nơi đay đặt cỗ điệu bát cống. Hai bên hồi hiên đắp hai pho tượng Túc Vệ (lính canh cổng), Tượng tạo tác tư thế đứng thẳng vẻ mặt nghiêm trang. Ngăn cách giữa hè hiên và bên trong là hệ thống của bức bàn, mỗi cách cửa được trạm khắc một chủ đề như: phượng cưỡi mây, long mã cuốn mây….rất tinh sảo theo phong cách nghệ thuật thời Nguyễn. Kết cấu các bộ vì hạ cung kiểu giá chiêng đơn giản được bào trơn đóng bén. Nâng đỡ mái là hệ thống hai hàng cột cái và hai hàng cột quân. Tại trung tâm gian giữa đặt bàn thờ, bên trên để ngai bài vị Thành Hoàng Làng Triệu Vũ Đế. Ngai, bài vị cao 2,1m; dài 0,73m; sâu 0,7m. Đế ngai được làm kiểu chân quỳ dạ cá, mặt hổ phù. Bài vị; phần chán hình quả cầu lửa, bên trong trạm 6 con rồng nằm cuộn tròn; phần thân trang chí tứ linh đường riềm làm thành hình đao lửa; trên thân bài vị khắc bài văn bằng chữ Hán ca ngợi công đức của thần. Ngoài ra trên bàn còn bài trí một số đồ thờ tự như: chóe, đôi chân nến, …đặc biệt là một bát hương cổ mầu me ngọc có đường kính 0,3m; cao 0,32m được trang trí hoa văn sơn thủy hai bên bàn thờ đặt hai pho tượng Thái Giám cao 1,76m; ngang vai 0,5m. Tượng tạo tác trong tư thế đứng thẳng. Hai bên dĩ hạ cung đặt bàn thờ; gian bên trái thờ con, cháu của Triệu Đà; Gian bên phải thờ hoàng hậu và hai công chúa, Trưởng Trang và thứ công chúa. Tiếp nối với tòa hạ cung là ba gian thượng cung với kết cấu kiến trúc kiến trúc các vì kiểu vì kèo trụ chốn, bào trơn đóng bén. Các mảng trạm khắc ở tòa này tập trung chủ yếu ở mặt trước cửa ra vào với các đề tài: hoa lá cách điệu, lưỡng long chầu nguyệt, đao lửa, phượng ngậm hoa sen…, được bàn tai nghệ nhân trạm trổ rất tài tình và đầy chất sáng tạo. Ngoài ra, ở hai bên khu nội tự còn có hai dãy giải vũ, mỗi dãy có 10 gian, kết cấu đơn giản, được sử dụng làm nơi tiếp khách và hội họp. Đình được xếp hạng "Kiến trúc nghệ thuật" theo Quyết định số 49/2007/Quyết Định -Bộ Văn Hóa Thể Thao, ngày 3/8/2007. Nguồn Cổng thông tin điện tử huyện Văn Giang , tỉnh Hưng Yên

Hưng Yên

4127 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia.

Chưa mở cửa

Nhà tưởng niệm đồng chí Lê Văn Lương

Nhà tưởng niệm đồng chí Lê Văn Lương

Đồng chí Lê Văn Lương - người học trò xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, thế hệ đảng viên đầu tiên của Đảng Cộng sản Việt Nam, với 83 năm tuổi đời, gần 70 năm hoạt động cách mạng liên tục, đồng chí đã có những đóng góp quan trọng vào thắng lợi của sự nghiệp cách mạng Việt Nam. Ghi nhận những công lao, cống hiến to lớn đó, đồng chí Lê Văn Lương đã được Đảng và Nhà nước tặng thưởng nhiều danh hiệu cao quý: Huân chương Sao Vàng, Huy hiệu 50 năm tuổi Đảng và nhiều huân, huy chương cao quý khác. Nhà tưởng niệm đồng chí Lê Văn Lương được xây dựng năm 2003 thuộc xã Nghĩa Trụ, huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên. Đây là công trình được Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh Hưng Yên cùng con cháu dòng họ Nguyễn xây dựng nhằm ghi nhớ tới những công lao, cống hiến to lớn của đồng chí với cách mạng Việt Nam. Đây cũng là nơi trưng bày các tư liệu, hình ảnh cũng như tôn thờ đồng chí Lê Văn Lương - Nhà lãnh đạo tiền bối tiêu biểu của Đảng, của cách mạng, người con ưu tú của dân tộc Việt Nam. Nhà tưởng niệm có kết cấu kiểu chữ Đinh (丁), gồm hai tòa Tiền tế, Hậu cung và các hạng mục khác như: cổng, nhà tiếp khách, nhà thờ họ Nguyễn, lầu bia... Các hạng mục kiến trúc được làm theo phong cách cổ truyền còn tương đối đồng bộ vững chắc. Tiền tế là nơi trưng bày và giới thiệu gần 100 tài liệu, hình ảnh, hiện vật tiêu biểu về thân thế, cuộc đời và sự nghiệp hoạt động cách mạng cùng những đóng góp to lớn của đồng chí Lê Văn Lương với quê hương, đất nước. Nối với Tiền tế là một gian Hậu cung kiến trúc đơn giản kiểu kèo cầu quá giang không trang trí hoa văn. Hậu cung là nơi linh thiêng, trang trọng nhất đặt ban thờ đồng chí Lê văn Lương, trên ban thờ đặt pho tượng chân dung đồng chí Lê Văn Lương được đúc bằng do Thủ tướng Phan Văn Khải tặng nhân dịp khánh thành nhà tưởng niệm năm 2003 thể hiện sự quan tâm của Đảng và Nhà nước đối với đồng chí. Cùng trong khuôn viên Nhà tưởng niệm đồng chí Lê Văn Lương là Nhà thờ dòng họ Nguyễn được đồng chí Nguyễn Thị Bích Thuận (vợ đồng chí Lê Văn Lương) xây dựng năm 2005. Nhà thờ đơn sơ nhưng trang trọng, trên ban thờ đặt ngai và bài vị đề “Nguyễn gia Liệt Tổ”. Bên cạnh nhà thờ dòng họ Nguyễn là lầu bia được dựng kiểu tứ trụ với bốn mái cong xoắn chôn ốc. Bên trong đặt tấm bia đá khắc ghi những lời ca ngợi công đức và tấm lòng son sắt vì Đảng vì dân của đồng chí Lê Văn Lương và phu nhân Nguyễn Thị Bích Thuận. Hàng năm, ngày giỗ đồng chí Lê Văn Lương được chính quyền địa phương cùng con cháu dòng họ tổ chức vào ngày 26/3 âm lịch (ngày mất của đồng chí). Đây cũng là dịp mọi người cùng quây quần gặp mặt để tưởng nhớ tới công ơn của các bậc tiền bối đã hy sinh vì độc lập, tự do, hạnh phúc của con cháu hôm nay và mai sau. Để tôn vinh những cống hiến to lớn của đồng chí Lê Văn Lương đối với sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc, đồng thời khẳng định giá trị văn hóa, lịch sử của Nhà tưởng niệm đồng chí Lê Văn Lương, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã ban hành Quyết định số 673/Quyết Định -Bộ Văn Hóa Thể Thao Du Lịch ngày 24/3/2022 công nhận xếp hạng Địa điểm lưu niệm đồng chí Lê Văn Lương là “Di tích lịch sử” cấp Quốc gia./. Nguồn Sở văn hóa thể thao và du lịch.

Hưng Yên

4351 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia.

Mở

Đình Làng Đa Ngưu

Đình Làng Đa Ngưu

Đình Đa Ngưu ở làng Đa Ngưu, xã Tân Tiến, huyện Văn Giang (Hưng Yên) cho biết, căn cứ vào dấu tích lăng Bà Chúa cũng như sắc phong của các triều đại (trong đó có sắc phong của Vua Quang Trung năm xưa để lại, đình Đa Ngưu được xây dựng từ rất sớm. Năm 1520, hai anh em ông Cống Cả, Cống Hai đã đứng lên tổ chức xây dựng đình. Khi khởi dựng, các bô lão trong làng đã mua 101 cây lim và sử dụng 100 cây lim làm cột, 1 cây chẻ ra làm cán đục và không sử dụng bất cứ một đinh sắt nào. Hiếm có một ngôi đình, đền nào tại vùng Đồng bằng Bắc Bộ có cấu trúc hiên với hàng cột bao quanh như đình Đa Ngưu. Theo truyền ngôn của người xưa: “Đa Ngưu như ngưu ngọa, thất thập nhị tinh phong” (nghĩa là: “Làng Đa Ngưu có dáng trâu nằm, có 72 ông thần đất”), chính nơi giữa làng có địa thế cao đẹp, thoáng mát đó đã xây dựng nên ngôi đình có 100 cột. Ngôi đình gồm 3 tòa là: Tiền đình, trung đình và hậu cung. Mặt trước đình nhìn ra hướng Tây Bắc. Gian trung tâm có nhiều bức đại tự lớn chạm trổ hoa lá long quần. Tòa hai có các hàng cửa võng chạm rồng phượng lộng lẫy cùng bức đại tự “Thánh cung vạn tuế”. Các bức hoành phi câu đối sơn son thếp vàng, khảm trai được treo ở các cột và trước ban thờ ca ngợi công đức của ba vị thần thờ ở hậu cung là: Chử Đồng Tử, Tiên Dung và Hồng Vân công chúa. Trước và sau đình có hai giếng Ngọc trồng sen. Những ngày hè hương sen tỏa thơm ngát. Vào ngày hội làng hằng năm (từ ngày 10 đến ngày 12/2 âm lịch), các vị bô lão thường làm lễ tắm rửa cho các ngai trong điện thờ ở hai giếng Ngọc. Phía đông đình là nhà tiên lão-nơi thờ cúng những người có công với nước, phía tây là Khánh Vân Tự. Nghi môn của đình Đa Ngưu được xây dựng theo lối truyền thống của đình, đền vùng đồng bằng Bắc Bộ, gồm 4 trụ biểu tạo thành tam quan. Trụ biểu xây bằng gạch. Hai trụ biểu tại giữa cao, to; hai trụ biểu hai bên nhỏ, thấp. Cả 4 trụ biểu có đỉnh trụ trang trí tứ phượng, thân trụ phía trên trang trí các ô lồng đèn, giữa là ô trang trí câu đối, đế thắt dạng cổ bồng. Giữa hai trụ biểu cao là cổng chính vào đình. Hai bên cổng chính là hai cổng phụ, phía trên có mái che, dạng 4 mái. Xung quanh đình có tường bao. Sân đình rộng 20m, dài 32m, lát gạch Bát Tràng. Giữa sân có một con đường tạo bởi gạch lát cao hơn so với nền sân xung quanh. Bên trái sân có một tòa Tả vu, là nơi đặt các đồ tế lễ. Đại đình gồm 2 tòa Tiền điện, Chính điện đặt song song với nhau. Tiền điện dài 20m, rộng 7,7m, gồm 5 gian, 4 mái, có hành lang rộng 1,4m bao quanh 3 phía. Tiền điện có cấu trúc của một ngôi đình. Gian chính giữa có sàn thấp gọi là gian lòng thuyền, là nơi tế lễ. 4 gian hai bên đều có sàn cao, là nơi hội họp. Tiền điện có 40 cột, cột cái cao 4,2m, đường kính rộng 0,45m, cột quân cao 3,1m, đường kính rộng 0,35m. Chính hệ thống cột bố trí dọc theo hành lang làm cho đình có số cột nhiều hơn so với các ngôi đình truyền thống khác. Phía trước và hai đầu hồi tòa tiền điện đều có cửa bức bàn cao 2,25m, trên lắp chấn song. Đình Đa Ngưu còn là chứng nhân của những sự kiện lịch sử. Phó Đức Chính (1907 -1930) – một trong những lãnh tụ Việt Nam Quốc dân Đảng đã đem tổ chức của mình về đây gây dựng cơ sở chuẩn bị chống Pháp. Năm 1929 – 1930, đình Đa Ngưu là nơi diễn ra các cuộc họp để nghe cán bộ Việt Minh tuyên truyền về Cách mạng Tháng Mười Nga… Với những giá trị to lớn về lịch sử văn hóa và kiến trúc, đình Đa Ngưu đã được xếp hạng di tích cấp quốc gia từ năm 1995. Nguồn Cổng thông tin điện tử huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên.

Hưng Yên

3938 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia.

Mở

Chùa Mễ Sở.

Chùa Mễ Sở.

Chùa Mễ Sở tọa lạc ở thôn Mễ Sở, xã Mễ Sở, huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên. Chùa thuộc hệ phái Bắc tông. Chùa Mễ Sở nằm cạnh đê sông Hồng, nằm giữa một vùng quê trù phú từ lâu đã nổi tiếng với pho tượng Quan Âm nghìn mắt nghìn tay. Chùa được dựng từ thời Hậu Lê và đã được tu sửa nhiều lần, các dấu tích hiện còn chủ yếu được trùng tu vào cuối thế kỷ XIX. Duy chỉ có bức tượng Quan Âm nghìn mắt nghìn tay, còn giữ được tương đối nguyên vẹn. Quan Âm hay Quan Thế Âm có nghĩa là nghe tiếng kêu đau khổ của chúng sinh trong cuộc đời để cứu vớt. Quan Âm có thể hóa hiện thành muôn nghìn hình khác nhau để thích ứng với mọi hoàn cảnh nhằm cứu độ mọi trường hợp đau khổ. Với một pháp lực và quyền năng vô biên, cùng sự minh triết tuyệt đối với thiên thủ thiên nhãn, người cứu độ hết thảy. Tượng được tạo tác trong tư thế ngồi tọa thiền với kích thước khá lớn. Từ chỏm tới mặt ngồi cao 1,4m, bệ cao 0,53m, tòa sen cao 0,23m, với khuôn mặt thanh thoát, thuần hậu, thân hình thon thả, tạo nên một pho tượng đẹp cả về nội dung và hình thức thể hiện. Tượng có hai đôi tay chính, đôi thứ nhất chắp trước ngực, mang ấn “chuẩn đề“, đôi tay còn lại đưa lên phía trên đỡ các đài sen và tượng Phật nhỏ. Các đôi tay lớn ít nhiều có nét mềm mại uyển chuyển, các cánh tay tròn lẳn, đế trần được chắp vào ờ hai cạnh sườn trong tư thế cao thấp khác nhau. Độ mở của các cánh tay vừa đủ cao mà không che khuất pho tượng. Ngay sát phía sau tay lớn là hệ thống tay nhỏ với hàng trăm tay mắt được kết thành 10 lớp mọc theo từng cặp cân xứng. Mười lớp tay mắt này lại được chia làm 3 phần lớn, tạo cảm giác như có ánh hào quang tỏa ra từ đầu tượng. Phía trên đầu tượng ở mũi hào quang chạm nổi hình đám mây với những cánh tay nhỏ đan đều như những cánh chim trong tư thế bay xuống. Con chim này đã tránh cho vầng hào quang nét “vô duyên” của tạo hình, gợi mở cho người xem trí tò mò về Phật pháp. Các tay nhỏ của tượng được thể hiện với những cánh tay dài thon thả, các mắt được đặt trong lòng bàn tay kết ấn cam lộ, các cánh tay này dài ngắn khác nhau theo độ mở dần lấy đầu tượng làm trung tâm, khiến chúng như mang một chức năng kết hợp tạo thành hào quang… Cùng với phần đài sen, bệ tượng, tất cả tạo nên một pho tượng hoàn chỉnh với những đường nét điêu luyện tỉ mỉ. Quan niệm vẻ đẹp đương thời đã được các nghệ nhân gửi gắm vào pho tượng với những đường nét thanh thoát, phúc hậu cho khuôn mặt và dáng tượng. Đây là một trong những pho tượng gỗ tiêu biểu cho mỹ thuật Việt Nam cuối thế kỷ XVIII, đầu thế kỳ XIX. Tượng Quan Âm nghìn mắt nghìn tay ở chùa Mễ Sở là niềm tự hào của điêu khắc tượng Việt, mang nhiều nét sáng tạo mà vẫn phản ánh được tinh thần nhân ái của đạo Phật và tâm hồn Việt Nam. Chùa Mễ Sở được Bộ Văn hóa – Thông tin xếp hạng di tích kiến trúc nghệ thuật cấp Quốc gia ngày 16 tháng 11 năm 1988. Nguồn Cổng thông tin điện tử huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên.

Hưng Yên

4212 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia.

Mở

Đình Đầu và Đền Ngò

Đình Đầu và Đền Ngò

Đền Ngò thờ Hai Bà Trưng, Người phụ nữ Việt Nam đầu tiên phất cờ khởi nghĩa đánh đuổi quân xâm lược ra khỏi bờ cõi, giành lại nền độc lập cho nước nhà. Đền được ông cha ta kiến tạo ngay đầu làng trong một khuôn viên thoáng rộng, đón gió bốn phương, cảnh sắc hài hoà, thâm nghiêm, tráng lệ. Mặt trước đền có hồ sen hình bán nguyệt, in hình bức bình phong lớn có dáng cuốn thư lượn hình cờ kiếm và long, ly, qui phượng. Trước cổng đền là hai cột trụ to, cao vuông vức khắc ghi hai hàng câu đối: - Phong Quận cựu binh uy vạn cổ anh thanh kinh Bắc địa. - Hương viên lưu hiển tích thiên thu linh ứng trần Nam bang. Đại ý là: (Chiến công của nghĩa quân Châu Phong vang trời đất Tiếng thơm của Hai Bà lừng lẫy đến muôn đời) Tiếp đó là hai lầu tượng, trong đó tạc hình đôi voi chiến - Hai Bà cưỡi voi ra trận. Bên trong Đền có hoành phi, câu đối, bài vị, đồ tế tự… đều sơn son thếp vàng choáng ngợp sắc mầu. Hậu cung có hai ngai thờ cổ, tượng Hai Đức Vua Bà ngự trong khám lớn. Tượng cao chừng hơn một mét, đường nét điêu khắc tinh xảo, độc đáo. Với tư thế vươn nên phía trước, hai cánh tay tượng giơ cao ngang tầm mắt, dấu hiệu của chữ Tràng Khoát, dụ trước ba quân, giữ vững sơn hà. Tượng Hai Bà lồng lẫy trong bộ lễ phục màu hồng, toả ánh hào quang lung linh đèn nến. Đền Ngò hiện còn lưu giữ được 18 sắc phong qua các triều đại từ thời Lê Cảnh Hưng. Đó là những văn liệu vô cùng quý giá. Tháng 8-1945, Đền Ngò là nơi diễn ra cuộc mít tinh lớn sau khi cướp chính quyền huyện Văn Giang tuyên bố chấm dứt chế độ cũ, chính quyền mới về tay nhân dân. Nhiều năm tháng trôi qua, sau bao lần trùng tu, tôn tạo, đền Ngò vẫn giữ được vẻ cổ kính năm xưa. Năm 1989, Bộ văn hoá đã cấp công nhận Đền Ngò là di tích lịch sử - văn hoá cấp Quốc gia, được Nhà nước bảo vệ. Địa danh lịch sử Đền Ngò mãi mãi gắn liền với địa danh lịch sử Đồng Chầu, Giếng Da, Bãi Yến. Những địa danh đó đã đánh đấu những kỳ tích lớn lao của một thời kỳ lịch sử, ghi nhận công sức của người Phụng Công theo Hai Bà Trưng khởi nghĩa. Đình Đầu được xây dựng cùng thời với Đền Ngò và đồng thờ phụng Hai Bà Trưng - Người anh hùng dân tộc. Đình Đầu to, đẹp, lộng gió đồng quê, cổ kính, rêu phong, trải sắc mầu năm tháng. Cổng đình lồng đèn thao rủ, hai hàng câu đối nhắc nhở hậu thế trân trọng nếp nề. Đao đình uốn lượn cong lên hướng về tam sơn theo kiểu tứ linh chầu nguyệt bao trùm khu tiền lễ và hậu cung. Gian giữa khu tiền lễ bầy hương án, có đỉnh hạc, lư hương… Trên cao treo cửa võng sơn son thếp vàng. Bốn bức hoành phi rộng khắp các gian đình, mang 4 hàng chữ: Trưng Thánh Vương điện Vạn cổ anh linh Thăng long định đỉnh Chính khí quang minh Tất cả đã khái quát vẻ thiêng liêng thành kính của ngôi đình. Hai bên khu tiền lễ là hai hàng Bát bửu, gươm vàng uy nghi, trang trọng. Hậu cung có tượng Hai Đức Vua Bà tạc bằng đá quý theo mẫu hình Quốc gia ở đền Đồng Nhân – Hà Nội. Quanh đình có nhiều cây cổ thụ tràn trăm năm tuổi, toả bóng mát cùng ngôi đình trầm mặc ghi dấu ấn thời gian. Những năm đầu hoà bình lập lại và những năm chống Mỹ, đình Đầu là địa điểm tổ chức nhiều kỳ Đại hội Đảng bộ cấp xã, nhiều Hội nghị quan trọng của huyện Văn Giang. Năm 1970 cũng tại đình Đầu, Bộ y tế nước Việt Nam dân chủ cộng hoà đã tổ chức Hội nghị cán bộ lãnh đạo ngành Y toàn miền Bắc do Bộ trưởng Phạm Ngọc Thạch chủ trì quyết sách những chủ trương lớn về y học trong thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội và chiến đấu chống Mỹ cứu nước. Đình Đầu có 18 sắc phong qua các triều đại và cũng bắt đầu từ thời nhà Lê. Năm 1989, Bộ văn hoá đã cấp bằng xếp hạng công nhận đình Đầu là di tích lịch sử, văn hoá cấp Quốc gia. Nguồn Cổng thông tin điện tử huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên.

Hưng Yên

4127 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia.

Mở

Chùa Phú Thị ( Hưng Phúc Tự)

Chùa Phú Thị ( Hưng Phúc Tự)

Chùa Phú Thị tọa lạc trên một khuôn viên rộng, nằm phía ngoài và sát ngay chân đê sông Hồng, thuộc xã Mễ Sở, huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên. Chùa được xây dựng theo kiểu chữ “Đinh” (丁), cửa nhìn về hướng Tây Nam và có tên Hán là Hưng Phúc Tự. Chùa được xây dựng từ thời Hậu Lê và theo hệ phái Bắc Tông. Chùa đã được trùng tu nhiều lần và lần gần đây nhất là vào năm 1991. Bước chân vào thăm chùa, đầu tiên du khách sẽ đi qua tam quan - cổng phía ngoài chùa. Nhìn bên ngoài tam quan như 3 kiến trúc riêng biệt với ba cửa. Cửa giữa cao to, được xây hai tầng, mặt bằng hình vuông. Tầng trên và tầng dưới bằng nhau. Trên nóc tầng hai lợp ngói mũi hài với bốn đầu đao tỏa ra bốn hướng. Hai bên tả hữu là hai cửa nhỏ đối xứng. Ngay sau hai cửa nhỏ này là các bậc dẫn lên tầng hai của cửa giữa. Đi qua tam quan là tiền đường (Thượng điện). Nhìn bên ngoài, tiền đường được xây dựng theo kiểu chồng diêm với hai gác chuông và trống ở nóc mái nhà. Chuông chùa (Đại hồng chung) được đúc vào thời vua Minh Mạng. Vào bên trong, du khách sẽ thấy tiền đường gồm năm gian với không gian rộng và thoáng. Bốn hàng cột lim đều đặn được phân bổ ở giữa tiền đường. Trên xà ngang trung tâm tiền đường được bài trí một của võng chạm nổi hình lưỡng long chầu nguyệt và được sơn son thếp vàng. Giáp tường phía trong đặt 6 pho tượng là tượng Khuyến Thiện, tượng Trừng Ác, tượng hai thánh Tăng, tượng hai Thị Giả. Những bức tượng này làm tăng thêm vẻ uy linh của tiền đường. Bên cạnh đó chùa có nhiều pho tượng cổ bằng gỗ hoặc đất nung phủ sơn, như tượng Chuẩn Đề, tượng Địa Tạng (cao 1,08m); bộ tượng Thập Điện Minh Vương (cao 0,90m), tượng Cấp Cô Độc (cao 1,07m). Chùa đã được Bộ Văn hóa – Thông tin công nhận là Di tích lịch sử – văn hóa quốc gia. Theo quyết định số 14 ngày 4 tháng 4 năm 1984. Nguồn Cổng thông tin điện tử huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên.

Hưng Yên

4238 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia.

Mở

Đình Làng Mai Viên

Đình Làng Mai Viên

Đình Mai Viên thuộc thôn Mai Viên, xã Song Mai - một xã có địa bàn rộng, đông dân cư và phát triển trên nhiều lĩnh vực kinh tế, xã hội của huyện Kim Động. Mai Viên được hiểu trong đó “Mai” làng đẹp như một vườn mai, “ Viên” làng có nhiều quan chức, viên chức. Theo thần tích và sắc phong và truyền ngôn lại trong dân, đình thôn Mai Viên được khởi dựng khá sớm vào thời Hậu Lê với quy mô còn nhỏ bé. Đình tọa lạc trên một gò đống cao ráo thoáng mát,cảnh quan đẹp, thuận tiện cho việc sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng của nhân dân. Mặt tiền quay về hướng Đông Nam, phía trước đình là cây đa giếng nước cổ kính có niên đại hàng trăm năm, sân đình được bao phủ bởi tán cây bàng, nhãn mát mẻ. nhìn toàn bộ bên ngoài cho ta cảm thấy dự uy nghi và tôn kính bởi vẻ đồ sộ và cổ kính của ngôi đình làng. Di tích đình Mai Viên được xây dựng theo kiến trúc kiểu chữ I (chữ công) nhưng mất phần hậu cung và 2 nhà chè. Nay di tích còn lại một nhà tiền tế đồ sộ vừa được nhân dân sửa chữa, mái lợp ngói mũi phẳng, đầu hồi 2 bên nóc đình được đắp hai đầu kìm đội lân. Trải dài phần nóc nghệ nhân đắp nổi đôi rồng chầu mặt nguyệt uốn thành 3 khúc khỏe mạnh và uy nghi. Kiến trúc đình Mai Viên cao ráo bề thế, kết cấu vì kèo nóc từ đầu đến phần mái theo kiểu chồng rường đấu xen, hệ thống con gường đỡ hoành chạm nổi hình lá lật cách điệu. Do những biến động của lịch sử và xã hội, kiến trúc đình không còn đồng bộ và phải tu bổ nhiều lần vào thời Nguyễn, vì vậy nghệ thuật kiến trúc mang đậm nét thời Nguyễn. Cũng như những ngôi đình ở các xã khác, đình Mai Viên vừa được coi là trụ sở để dân hội họp, bàn việc làng vừa là nơi thờ thần hoàng. Theo sắc phong và thần tích thì đình thờ 5 vị thành hoàng làng và 3 vị đức thánh tổ như: Trung Thành Đại Vương, Linh Lang Đại Vương, Cao Mang Đại Vương, Đổng Vĩnh Đại Vương và vị Đức thành tổ có công với dân, dạy dân làng làm nghề nung vôi, đóng gạch, làm nghề thợ xây. Trong giai đoạn kháng chiến chống Pháp, đình Mai Viên là cơ sở tụ họp của các đồng chí lão thành cách mạng. Năm 1942 phong trào cách mạng phát triển, các cán bộ cách mạng đã về đây để tạo dựng cơ sở. Đình còn là nơi hậu đóng quân của bộ đội huyện cơ sở in ấn tài liệu kháng chiến, đào hầm bí mật ở hậu cung để bảo vệ bộ đội du kích. Trong những năm chống Mỹ, cơ sở còn khó khăn UBND xã Song Mai tạm mượn đình Mai Viên để họp hành tại đây. Đến năm 1988 mới trả cho thôn. Ngày nay, đình Mai Viên còn lưu giữ các hiện vật quý có giá trị lịch sử, văn hóa như: tại đình hiện có một ngai vàng thờ thời Nguyễn, 3 bát hương thời Nguyễn, 2 hòm sắc, 1 giá chúc với 27 sắc phong qua các triều đại, ống hưởng, đài gỗ và một số đồ thờ khác có niên đại muộn, đỉnh đồng 2 chiếc, nến đồng 2 đôi, lục bình một đôi. Năm 1998 đình làng Mai Viên được nhà nước công nhận là di tích lịch sử cấp quốc gia. Nhân dân địa phương không chỉ coi đây là trung tâm sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng mà còn là nơi để mọi người tổ chức ôn lại truyền thống cha ông, các thuần phong mỹ tục, nếp sống cộng đồng. thông qua đó là sự giao lưu văn hóa giữa các vùng, giữa các thành viên trong cùng một cộng đồng để tạo nên mối gắn kết nhân ái, tình làng nghĩa xóm. Ngôi đình là niềm tự hào của nhân dân trong thôn. Nguồn Cổng thông tin điện tử huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên.

Hưng Yên

4427 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia.

Mở

Đền Bà Chúa Mụa

Đền Bà Chúa Mụa

Bà Chúa Mụa (1580 – 1648)bà tên thật là Trần Thị Cư, sinh ngày 5 tháng 5 năm Canh Thìn (1580) tại làng Mụa, tổng Thiên Thi, phủ Khoái Châu xưa, nay thuộc thôn Cộng Vũ, xã Vũ Xá, huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên. Truyền thuyết kể rằng, vào một ngày kia, chúa Trịnh Tráng xa giá đi qua vùng này, rộn ràng nào ngai, nào kiệu, cờ xí rợp trời, kèn trống vang lừng, dân làng náo nức đi xem. Một cô gái cắt cỏ cạnh đường cái quan vẫn cứ mặc như không hay biết gì. Khi kiệu đi qua, cô không hề nhìn lên, đôi tay thoăn thoắt giật liềm vơ cỏ, miệng hát véo von, trong trẻo: Tay cầm bán nguyệt xênh xang Một trăm thức cỏ lai hàng tay ta Quân lính ngạc nhiên, tiếng hát càng véo von và kiệu chúa từ từ dừng lại. Chúa kéo rèm lên nhác thấy có cô gái có sắc đẹp nghiêng nước nghiêng thành, đối đáp thông minh, biết đây là kỳ nữ. Chúa truyền rước cô về kinh thành Thăng Long rồi ban quốc tính, đổi tên là Trịnh Thị Ngọc Am. Bà giúp chúa trông nom việc học tập trong phủ của các cung tần, mỹ nữ, củng cố mối đoàn kết giữa chúa với triều đình nhà Lê. Bà sinh được một người con gái là Trịnh Thị Minh, được chúa ban cho 4 đĩa vàng và 1 đĩa bạc. Chẳng bao lâu công chúa Thụy Minh qua đời, quá đau buồn, bà xin về tu ở chùa làng. Chúa rất quý mến người vợ tài sắc của mình, cho khai con sông nhánh từ sông Cửu An chạy qua làng Mụa để vận chuyển các loại đồ quý về xây tháp. Hàng ngày, bà lên tháp tưởng vọng về phủ chúa ở Thăng Long. Bà đã bỏ tiền ra giúp dân khai khẩn ruộng đất, khai sông dẫn thủy nhập điền. Bà giàu lòng nhân đức hay giúp đỡ mọi người và cầu Phật ban phúc lành cho dân chúng. Tự bà xin lập và tu sửa các chùa chiền quanh vùng và phổ biến lễ cúng Phật. Bà chẳng những có công lớn đại trùng tu chùa mà còn bỏ tiền cùng dân 13 thôn dựng đình. Bà Trịnh Thị Ngọc Am mất vào tuổi 68, nhân dân tôn bà làm thần và lập đền thờ ngay tại quê hương. Đền Mụa dựng vào thế kỷ thứ 17, trùng tu vào thời Nguyễn, kiến trúc kiểu chữ “Nhị”. Cổng Tam quan khá đồ sộ, có hai hàng câu đối: Tài sắc song toàn nơi phủ chúa Nghĩa tình trọn vẹn với quê hương Cạnh đó có tòa thư điện nhỏ đặt pho tượng phỗng tạc đá xanh, dáng dấp bụng phệ được thờ bằng bát hương cũng bằng đá xanh chạm chân quỳ, có 3 tai mặt hổ phù. Trước cửa đền đặt tấm bia dựng năm 1634 có ghi: Bà chúa Mụa Trịnh Thị Ngọc Am đệ nhất cung tần vương phủ chúa Trịnh Tráng. Tấm bia thứ hai dựng năm 1650 ghi nhận công lao của bà với dân làng trong việc dựng chùa, đình, đền, miếu… Tại gian trung tâm tòa đại bái có nhang án bằng đá, chạm khắc nổi thành ba bức phù điêu: bức giữa chạm nổi hình trong, hai bên chạm “Long cuồn thủy”, xung quanh chạm hoa văn sóng nước cách điệu, mang phong cách Hậu Lê. Trên hai cột cái tòa đại bái có hai hàng câu đối ca ngợi tài đức của Bà: Tài cao nghĩa trọng, uy thế trấn sơn hà Tích đức tu nhân, chúa cung sùng đạo Phật Gian hậu cung đặt tượng bà chúa Mụa. Năm 1634, chúa Trịnh Tráng cho tạc tượng bà bằng đá khi đang sống. Tượng to bằng người thật ngồi trên tòa sen, đầu đội vương miện, chạm nổi hình Phật Tổ Như Lai, tai đeo bông hoa to, chân xếp bằng kiểu người ngồi thiền. Phía trước tượng bà chúa là tượng Quận Công bằng đá, ngồi xếp bằng tròn, mặc áo bào. Hai tòa hai bên thờ tượng Thị Vệ và Kim Đồng chầu bà chúa, thân chạm nổi áo gấp. Sau hậu cung là tòa Cửu phẩm liên hoa, đặt nậm đá đế hoa sen, dưới chạm tượng bà chúa lúc về già. Ngày 08/6/1963 trong khi làm thủy lợi sông cầu Ngàng dân công đã đào được 4 đĩa vàng, 1 đĩa bạc của Chúa Trịnh Tráng ban thưởng cho con gái, ở đáy một đĩa có dòng chữ. “Thụy Minh công chúa kim phụ lai bát tinh công chúa” (chén bạc của cha ban cho con, Thụy Minh công chúa). Từ những giá trị trên, đền Bà Chúa Mụa được Bộ văn hóa - Thông tin xếp hạng là di tích “Nghệ thuật” cấp Quốc gia số 2233-Quyết Định/Bộ Văn hóa Thể Thao ngày 26/6/1995. Đặc biệt, ngày 31/12/2020, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 2283/Quyết Định - Thủ Tướng, công nhận Sưu tập đĩa vàng hoa sen Cộng Vũ (đền Mụa, xã Vũ Xá) có niên đại thế kỷ XI – XII là Bảo vật Quốc gia. Nguồn Cổng thông tin điện tử huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên.

Hưng Yên

3103 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia.

Mở

Đền Đào Xá

Đền Đào Xá

Thôn Đào Xá cùng với hai thôn Ngô Xá và Vĩnh Hậu hợp thành xã Vĩnh Xá. Đào Xá là một thôn lớn có cả đình, chùa, miếu, đền do cư dân theo đạo Phật và một nhà thờ của đạo Thiên chúa giáo. Đền Đào Xá có tên xưa là đền Sướng Thiện, là Tam Giáo Động, được xây dựng ở đầu thôn trên một khu đất cao, thoáng mát từ thập niên đầu thế kỷ XIX. Theo các cụ cao tuổi trong làng kể lại, khoảng năm 1896, cụ Từ trông coi đèn nhang đã sang đền Bạch Mã thuộc huyện Phú Xuyên tỉnh Hà Đông cũ xin tên hèm để thờ, đặt tên cho đền là Sướng Thiện. Từ đó nhân dân trong vùng tìm đến đây lễ bái cầu phúc, hướng thiện và xin thuốc nam về chữa bệnh. Đền được xây dựng theo kiến trúc điêu khắc thời Nguyễn có vòm cuốn bê tông và hình khối nội công ngoại quốc. Đến năm 1929 , nhân dân lại đóng góp công sức và tiền của tu tạo lại đền cho bề thế, khang trang hơn. Khi hội Tam Thánh ra đời, đền thờ Phật – Tiên – Thánh, 3 vị giáo tổ và thờ vọng những vị anh hùng dân tộc đã có công cầm quân chống ngoại xâm như Trần Hưng Đạo, Phạm Ngũ Lão. Tên đền Sướng Thiện hay Tam Giác Động nói lên ý tưởng và tâm nguyện về điều thiện, hành động theo điều thiện. Sau này, tên đền được gọi theo tên thôn: Đền Đào Xá. Chữ Đào chính là tên một dòng họ có người đến khai phá vùng đất này sớm nhất và cũng là họ phát triển đông đúc nhất thời ấy. Thời kỳ 1939 – 1945, Đảng ta vận động đấu tranh cách mạng trong sự khủng bố, lùng sục gắt gao của chính quyền thực dân, đền Đào Xá là một trong những cơ sở cất giấu tài liệu của Đảng bộ Hưng Yên. Trong cuộc Tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945, nhiều cuộc mít tinh hội họp lớn của xã đã được tổ chức tại đền. Khi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp diễn ra ác liệt, vùng đất này từng có thời gian bị địch chiếm đóng, đền Đào Xá lại là nơi cán bộ ta đặt chân an toàn để phát triển phong trào, khi thì đóng vai người đến đền cúng lễ, khi lại là người lên đền xin lá thuốc về chữa bệnh cho người nhà. Trong đền có hầm bí mật nuôi giấu cán bộ. Hòn Non bộ đắp nổi giữa hồ nước trong khuôn viên với mục đích cất giấu tài liệu nên được tạo dáng nhiều hang lạch ăn sâu vào giữa khối đá giả sơn trông lạ mắt mà kín đáo. Bước vào cuộc kháng chiến chống Mỹ, Bộ Tư lệnh Quân khu III đã về đây mở Hội nghị Quân chính bàn việc chống chiến tranh phá hoại của địch và các chủ trương biện pháp chi viện cho chiến trường miền Nam. Tiếp đó, Bộ Y tế lại chọn đền Đào Xá làm địa điểm sơ tán cho xí nghiệp Dược phẩm. Đền Đào Xá còn lưu giữ được nhiều hiện vật quý, ngoài Hòn Non bộ xây đắp công phu, phải kể đến 24 pho tượng mỗi pho đều có vẻ hấp dẫn riêng. Nhiều đồ tế tự có giá trị điêu khắc như pho kiệu Ngọc Bộ, ngai, cửa võng, câu đối cùng với nhiều cổ vật quý hiếm nh lọ độc bình, lọ hoa, choé, bát hương… Đền Đào Xá, xã Vĩnh Xá được Nhà nước xếp hạng di tích “Lịch sử và nghệ thuật” cấp Quốc gia theo Quyết định số 570, tháng 9/1998. Nguồn Cổng thông tin điện tử huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên.

Hưng Yên

3194 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia.

Mở