Di tích lịch sử
Việt NamĐền Ghềnh
Đền Ghềnh - Ngôi đền linh thiêng thờ Bắc Cung Hoàng hậu Lê Ngọc Hân Đền Ghềnh, tên chữ Thiên Quang Linh Từ, tọa lạc bên bờ sông Hồng, thuộc Bồ Đề, Long Biên, Hà Nội. Đây là một trong những ngôi đền nổi tiếng của Thủ đô, không chỉ bởi kiến trúc và tín ngưỡng thờ Mẫu mà còn gắn với cuộc đời của Bắc Cung Hoàng hậu Lê Ngọc Hân – người vợ tài sắc của Hoàng đế Quang Trung. Theo truyền thuyết dân gian, sau khi Hoàng hậu Lê Ngọc Hân và hai người con qua đời, hài cốt của mẹ con bà bị triều Nguyễn quật lên và thả xuống sông Hồng. Người dân làng Ái Mộ đã âm thầm vớt, đắp mộ và lập miếu thờ để tưởng nhớ. Trải qua thời gian, miếu được mở rộng thành Đền Ghềnh như ngày nay. Trong tâm thức nhân dân, Hoàng hậu Lê Ngọc Hân được tôn kính như hóa thân của Mẫu Thoải, vị Thánh Mẫu cai quản sông nước trong tín ngưỡng thờ Mẫu Việt Nam. Ngôi đền được xây dựng vào năm 1858 trên khu đất rộng bên sông Hồng. Hệ thống thờ tự của Đền Ghềnh mang nhiều nét riêng so với các đền Mẫu khác. Chính điện đặt tượng Hoàng hậu Lê Ngọc Hân ở vị trí trung tâm, cùng nhiều ban thờ được bài trí theo truyền thống tín ngưỡng dân gian, tạo nên không gian linh thiêng và giàu giá trị văn hóa. Hằng năm, lễ hội Đền Ghềnh được tổ chức từ mùng 6 đến 12 tháng Tám âm lịch, nổi bật với nghi lễ rước nước trên sông Hồng nhằm cầu mưa thuận gió hòa và tưởng nhớ Hoàng hậu Lê Ngọc Hân. Bên cạnh đó, tục dâng bánh đa và khế – một nét văn hóa đặc sắc của ngôi đền – vẫn được người dân gìn giữ qua nhiều thế hệ. Không chỉ là điểm sinh hoạt tín ngưỡng của người dân địa phương, Đền Ghềnh còn lưu giữ nhiều hiện vật có giá trị như chuông đồng thời Tự Đức, kiệu Long đình, kiệu Mẫu, cùng hệ thống hoành phi, câu đối ca ngợi công đức của Hoàng hậu Lê Ngọc Hân và vẻ đẹp của vùng đất bên sông Hồng. Ngày nay, Đền Ghềnh là điểm đến văn hóa – tâm linh tiêu biểu của Hà Nội, thu hút đông đảo du khách và người hành hương đến tham quan, chiêm bái. Nguồn: Hà Nội Danh thắng và Di tích
Hà Nội
814 lượt xem
Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia
Di tích cách mạng nhà số 5D Hàm Long
Di tích cách mạng nhà số 5D Hàm Long tọa lạc tại phường Phan Chu Trinh, quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội. Đây là địa điểm ghi dấu sự kiện thành lập Chi bộ Cộng sản đầu tiên ở Việt Nam vào cuối tháng 3 năm 1929, một mốc son quan trọng trong lịch sử cách mạng nước ta, mở đường cho sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam. Theo Bảo tàng Lịch sử Quốc gia, từ cuối năm 1928, phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân và xu hướng cộng sản ở Việt Nam phát triển mạnh mẽ. Trước yêu cầu của thực tiễn cách mạng, những hội viên tiên tiến của Hội Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí hội đã bí mật họp tại nhà số 5D Hàm Long để thành lập Chi bộ Cộng sản đầu tiên. Cuộc họp diễn ra vào một đêm cuối tháng 3 năm 1929 với sự tham gia của các đồng chí Ngô Gia Tự, Nguyễn Đức Cảnh, Trần Văn Cung, Trịnh Đình Cửu, Đỗ Ngọc Du, Dương Hạc Đính và Nguyễn Tuân. Đồng chí Nguyễn Phong Sắc do bận công tác đột xuất nên vắng mặt nhưng đã gửi ý kiến tán thành nghị quyết và được công nhận là thành viên chính thức của chi bộ. Đồng chí Trần Văn Cung (bí danh Quốc Anh) được bầu làm Bí thư Chi bộ. Tại cuộc họp, Chi bộ đã xác định những nhiệm vụ trọng tâm như xúc tiến thành lập Đảng Cộng sản, phát triển các tổ chức công hội, nông hội và đẩy mạnh truyền bá chủ nghĩa Mác – Lênin. Sự ra đời của Chi bộ Cộng sản đầu tiên tại 5D Hàm Long đã tạo tiền đề trực tiếp cho việc thành lập Đông Dương Cộng sản Đảng ngày 17/6/1929 và tiến tới thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam đầu năm 1930. Ngôi nhà số 5D Hàm Long vốn là một căn nhà một tầng trong dãy nhà 5A, 5B, 5C, 5D của một gia đình tư sản cho thuê. Nhà có diện tích khoảng 24m², phía sau có sân nhỏ, bếp và khu vệ sinh. Đặc biệt, căn nhà nằm sát một ngõ nhỏ thông ra phố Lê Văn Hưu, tạo điều kiện thuận lợi cho các cán bộ cách mạng bí mật rút lui khi cần thiết. Cuối năm 1928, Kỳ bộ Bắc Kỳ của Hội Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí hội đã thuê căn nhà này làm cơ sở hoạt động bí mật và giao cho đồng chí Trần Văn Cung cùng vợ là Nguyễn Thị Liên trực tiếp quản lý. Trong ngôi nhà đơn sơ, bộ tràng kỷ, chiếc hòm hai đáy dùng để cất giấu tài liệu, chiếc đèn dầu cùng nhiều vật dụng sinh hoạt giản dị đã trở thành những chứng tích lịch sử gắn với quá trình chuẩn bị thành lập Đảng. Ngày 25/11/1959, ngôi nhà được khôi phục thành nhà lưu niệm, trưng bày nhiều tài liệu và hiện vật gắn với sự ra đời của Chi bộ Cộng sản đầu tiên. Năm 1964, di tích được công nhận là Di tích cách mạng Hà Nội. Đến năm 2000, công trình tiếp tục được tu bổ nhằm khôi phục diện mạo như thời điểm diễn ra cuộc họp lịch sử tháng 3 năm 1929. Ngày nay, di tích 5D Hàm Long do Bảo tàng Hà Nội quản lý, là địa chỉ đỏ có ý nghĩa đặc biệt trong giáo dục truyền thống cách mạng, góp phần giúp các thế hệ hôm nay hiểu rõ hơn về quá trình hình thành tổ chức cộng sản đầu tiên và sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam. Nguồn: Bảo tàng Lịch sử Quốc gia.
Hà Nội
253 lượt xem
Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia
Đền thờ Chu Văn An
Đền thờ Chu Văn An tọa lạc bên dòng sông Tô Lịch, thuộc xã Thanh Liệt, huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội. Đây là nơi thờ Chu Văn An (1292–1370) – nhà giáo, nhà nho nổi tiếng thời Trần, người được các thế hệ suy tôn là "Vạn thế sư biểu" (người thầy của muôn đời). Theo các tư liệu lịch sử, sau khi Chu Văn An qua đời, nhân dân quê hương Thanh Liệt đã lập đền thờ và tôn ông làm Thành hoàng làng. Đến thời Lê Trung Hưng (1533–1789), đền được phối thờ thêm các vị đỗ đại khoa của địa phương nên còn mang ý nghĩa là Văn chỉ – nơi tôn vinh những người có học vấn và công lao đối với quê hương. Đền được xây dựng theo kiến trúc truyền thống kiểu chữ "Công", gồm ba hạng mục chính là nhà tiền tế, phương đình và hậu cung. Hậu cung là không gian linh thiêng nhất của di tích, nơi đặt khám thờ sơn son thếp vàng cùng bài vị thờ Chu Văn An. Trải qua nhiều lần trùng tu, đặc biệt vào dịp Đại lễ kỷ niệm 1000 năm Thăng Long – Hà Nội, ngôi đền được tu bổ khang trang nhưng vẫn giữ được nét kiến trúc cổ kính và không gian trang nghiêm. Đền hiện còn lưu giữ nhiều hiện vật có giá trị lịch sử và văn hóa như hai bức y môn, cửa võng, các hoành phi, câu đối, khám thờ, đỉnh đồng, lọ độc bình, sáu bia đá, thần phả cùng năm đạo sắc phong thời Lê và Nguyễn, phản ánh truyền thống tôn sư trọng đạo của dân tộc Việt Nam. Không chỉ là nơi tưởng niệm nhà giáo Chu Văn An, đền còn là địa điểm sinh hoạt tín ngưỡng của nhân dân địa phương và là điểm đến của nhiều học sinh, sinh viên, nhà giáo cùng du khách thập phương đến dâng hương, bày tỏ lòng biết ơn đối với người thầy mẫu mực của nền giáo dục Việt Nam. Với những giá trị nổi bật về lịch sử, văn hóa và giáo dục, năm 1989, Đền thờ Chu Văn An được xếp hạng Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia. Ngày nay, di tích không chỉ góp phần bảo tồn di sản Thăng Long – Hà Nội mà còn là biểu tượng của truyền thống hiếu học và tôn sư trọng đạo của dân tộc. Nguồn: Thông tấn xã Việt Nam
Hà Nội
860 lượt xem
Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia
DI TÍCH LỊCH SỬ MIẾU TRUNG LIỆT
DI TÍCH LỊCH SỬ MIẾU TRUNG LIỆT Miếu Trung Liệt tọa lạc trang nghiêm trên đỉnh Gò Đống Đa, là công trình cổ kính được lập ra để tưởng nhớ các vị trung thần, nghĩa sĩ đã có công oanh liệt và tuẫn tiết để bảo vệ kinh thành. Qua cổng Nghi môn bằng gạch vồ rêu phong và sân gạch nhỏ là tới tòa Đại bái vững chãi, nổi bật với ba chữ "Trung Liệt Miếu" cùng hệ thống hoành phi, câu đối sơn son thếp vàng. Miếu được xây dựng theo lối kiến trúc chữ Đinh (\text{丁}), đầu hồi bít đốc, trên lợp ngói di cổ kính mang đậm dáng dấp nghệ thuật kiến trúc thời Nguyễn từ thế kỷ XIX (năm 1856). Dù nằm trong cùng một khuôn viên, nhưng Miếu Trung Liệt có tính chất thờ tự hoàn toàn độc lập với Gò Đống Đa. Nếu như Gò Đống Đa là chứng tích chiến trường năm 1789 gắn liền với tôn vinh Hoàng đế Quang Trung và chiến thắng quân Thanh, thì Miếu Trung Liệt lại là nơi đặc biệt lập ra để thờ phụng các vị quan yêu nước thời Nguyễn đã anh dũng hy sinh khi thực dân Pháp tấn công thành Hà Nội. Chính vì vậy, trung tâm thờ tự tại Hậu cung của miếu đặt bài vị và tượng thờ của Tổng đốc Nguyễn Tri Phương, người đã tuyệt thực đến chết sau khi thành thất thủ lần thứ nhất năm 1873, và Tổng đốc Hoàng Diệu, người đã tự vẫn dưới gốc đa cổ thụ khi thành thất thủ lần thứ hai năm 1882. Bên cạnh đó, miếu cũng phối thờ Kinh lược sứ Nguyễn Lâm cùng bài vị của vua Quang Trung để quy tụ hồn thiêng sông núi. Công trình đã được xếp hạng di tích lịch sử quốc gia, được đầu tư kinh phí trùng tu nhằm bảo tồn nguyên vẹn các giá trị kiến trúc và khí tiết kiên trung của các bậc tiền nhân. Nguồn: Hà Nội – Danh thắng và Di tích
Hà Nội
465 lượt xem
Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia
Đền thờ Phùng Hưng
Đền thờ Phùng Hưng (Bố Cái Đại Vương) được lập ở nhiều nơi trên đất nước Việt Nam, nhưng ngôi đền ở Đường Lâm (thị xã Sơn Tây, TP Hà Nội) có quy mô lớn nhất, kiến trúc độc đáo và chứa đựng nhiều giá trị lịch sử, văn hóa. Phùng Hưng là người ấp Đường Lâm. Ông là người nhân đức, có lòng yêu thương nhân dân. Phùng Hưng có hai người em là Phùng Hải và Phùng Dĩnh. Ba anh em đều có sức khỏe phi thường: Phùng Hưng đánh được hổ, vật được trâu; hai người em cõng đá nặng ngàn cân. Do vậy mà nhân dân gần xa đều kính phục, tôn Phùng Hưng là Đô Quán, Phùng Hải là Đô Bảo. Sinh vào thời đất nước bị giặc ngoại xâm, họ đã sớm hình thành ý chí đánh đuổi giặc, giành độc lập, tự chủ. Họ chiêu mộ nghĩa quân hào kiệt, dấy binh nổi dậy ở Đường Lâm chống lại ách thống trị của nhà Đường. Khi nghĩa quân đánh thành Tống Bình, tướng địch là Cao Chính Bình thất bại, lo lắng mà chết. Phùng Hưng nắm giữ phủ thành, tổ chức việc chính trị, xây dựng nền độc lập tự chủ cho đất nước trong 7 năm. Sau khi ông mất, nhân dân nhớ ơn và suy tôn ông là Bố Cái Đại Vương. Tại quê hương Phùng Hưng là thôn Cam Lâm, xã Đường Lâm, thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội, nhân dân đã lập đền để tôn thờ ông. Quy mô hiện nay của ngôi đền được hình thành sau đợt sửa chữa, trùng tu lớn vào thế kỷ XIX, gồm các hạng mục: cổng nghi môn, tả hữu mạc, đại bái và hậu cung. Cổng nghi môn được xây dựng đơn giản, có chức năng ngăn cách thế giới tâm linh với cuộc sống trần tục. Qua cổng là hai dãy tả hữu mạc, mỗi dãy ba gian, các bộ vì kèo được thiết kế thông thoáng, thuận tiện cho các sinh hoạt cộng đồng. Đại bái gồm ba gian hai dĩ, hai mái lợp ngói ri. Các bộ vì được kết cấu trên bốn hàng chân cột, liên kết theo lối: “Thượng giá chiêng rường nách, hạ kẻ chuyền, bảy hiên”. Hoa văn trang trí trên các cấu kiện kiến trúc khá giản dị, chủ yếu tập trung ở đầu dư, kìm chạm hình rồng, rường nách chạm vân mây, lá lật, các kẻ và bẩy bào soi chạm lá kết hợp với những dải mây cách điệu. Hậu cung gồm ba gian, xây theo kiểu tường hồi bít đốc. Các cấu kiện kiến trúc thiên về sự bền chắc, trang nghiêm và tôn kính đối với vị anh hùng được thờ phụng. Tượng đồng Phùng Hưng được đặt tại vị trí trang trọng trong hậu cung (tượng được tôn tạo vào đầu thế kỷ XXI). Quê hương Cam Lâm không chỉ có đền thờ Phùng Hưng mà còn lưu giữ nhiều địa danh gắn với cuộc đời và sự nghiệp của ông như Vũng Hàm, đồi Hổ Gầm, đồi Xà Mẫu, giếng Ngọc và rặng duối. Theo truyền thuyết, đây là những nơi anh em họ Phùng từng đánh hổ, luyện võ và tập trận trước khi khởi nghĩa chống quân đô hộ. Đền Phùng Hưng đã được Bộ Văn hóa và Thông tin xếp hạng Di tích lịch sử - kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia năm 1964. Nguồn: Hà Nội – Danh thắng và Di tích.
Hà Nội
762 lượt xem
Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia
Đền và lăng Ngô Quyền
Đền và lăng Ngô Quyền thuộc xã Đường lâm, Thị xã Sơn Tây, Hà Nội. Thôn Cam Lâm, xã Đường Lâm, thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội là mảnh đất “một ấp hai vua” (Phùng Hưng và Ngô Quyền). Ngày nay nơi đây vẫn còn lưu giữ những dấu tích, đền thờ gắn liền với tên tuổi của hai ông, trong đó đặc biệt là đền Phùng Hưng và lăng Ngô Quyền. Ngô Quyền sinh ra và lớn lên trong một gia đình mà người cha đã làm đến chức Châu Mục. Ngô Quyền là người khôi ngô, tuấn tú, tướng mạo khác thường, trí dũng song toàn, sức khoẻ hơn người. Ông sớm tinh thông võ nghệ, kiếm cung... tiếng tăm lẫy lừng. Sinh ra khi đất nước có ngoại xâm, thủa thiếu thời, ông đã làm nhiều việc thiện đức, giúp đỡ người nghèo và chiêu mộ anh tài, hào kiệt, xây dựng căn cứ, chờ ngày khởi nghĩa. Năm 938, giặc Nam Hán do Hoằng Thao đem chiến thuyền ồ ạt kéo vào nước ta phía cửa Bạch Đằng. Bằng chiến thuật quân sự, dùng cọc gỗ vót nhọn, đầu bịt sắt, Ngô Quyền và quân lính đã đánh tan đội thuỷ binh hùng mạnh của giặc cùng với tướng giặc Hoằng Thao - con vua Nam Hán. Chiến thắng oanh liệt của Ngô Quyên trên sông Bạch Đằng đã chấm dứt thời kỳ Bắc thuộc, kéo dài hơn một ngàn năm, mở ra trang sử mới độc lập, tự do lâu dài cho dân tộc ta. Ngô Quyền đã xây dựng lại đất nước, chỉnh đốn chính trị, xây dựng thành quách, định nghi lễ... bộ máy chính quyền mang tính chất độc quyền lâu dài. Đền Ngô Quyền được xây dựng lâu đời và qua nhiều lần trùng tu. Lần trùng tu lớn vào thời Nguyễn, triều Tự Đức (1848 - 1883). Cuối thế kỷ XX đã tu bổ nâng cấp đền, lăng và cảnh quan xung quanh. Quy mô đền hiện gồm các hạng mục: Nghi môn, Tả Hữu mạc, Đại bái và Hậu cung. Đại bái đền gồm 5 gian, xây kiểu tường hồi bít đốc. Các cấu kiện của bộ khung gỗ chủ yếu là bào trơn đóng bén thiên về độ vững trãi cho công trình. Hậu cung kiểu Tiền đạo hậu đốc, bộ khung trang trí đề tài tứ linh, tứ quý... tôn nghiêm, thể hiện sự kính ngưỡng đối với vị thần. Đền thờ Ngô Quyền được xây bên sườn đồi. Các đồ thờ tự như: tượng Ngô Quyền, long ngai bài vị, hương án, giá văn, lộc bình... được bài trí trong Hậu cung. Đại bái trưng bày rất nhiều hiện vật, trong đó chú ý là các cọc ngầm đóng trên sông Bạch Đằng... nói lên thân thế và sự nghiệp của Ngô Quyền. Ngay cạnh đền, phía trước là lăng Ngô Quyền, xây theo hình 4 mái trên bệ cao, có tường gạch bao quanh. Giữa lăng là ngai thờ, bên trong có bia đá “Tiền Ngô vương lăng”, niên đại Minh Mệnh thứ hai (1821). Trước lăng là những rộc sâu, tương truyền là hồ sen nơi thủa nhỏ Ngô Quyền thường cùng bạn chăn trâu, bởi lặn và tập trận. Phía sườn đồi là những rặng duối, tương truyền là nơi Ngô Quyền buộc dây cột voi vào gốc duối. Đền và lăng Ngô Quyền đã được Bộ Văn hoá và Thông tin xếp hạng di tích lịch sử, kiến trúc nghệ thuật năm 1964. Theo Hà Nội Danh thắng và Di tích
Hà Nội
816 lượt xem
Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia
Am Mỵ Châu
Am Mỵ Châu còn được gọi là am Bà Chúa hay đền thờ Mỵ Châu nằm ở phía Tây đình Ngự Triều Di Quy. Phía trước am thờ có một cây đa tương truyền là do Ngô Quyền đã trồng. Cây đa này rất lớn nên thường gọi là cây đa nghìn tuổi, nay không còn nữa, chỉ còn lại một vòm cửa xây gạch là dấu tích dưới vòm của những rễ đa khi xa. Khu am thờ là một kiến trúc gồm 2 phần chính. Tiền tế là một ngôi nhà được xây dựng bằng gỗ 3 gian, tường hồi bít đốc, mái lợp ngói ta. Các bộ vì được làm theo kiểu “thượng giá chiêng, hạ chồng rường, kẻ bẩy”. Tất cả các cấu kiện đều không có chạm khắc hoa văn gì mà chỉ bào soi. Kiến trúc này có niên đại muộn (cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX). Trên thượng lương có dòng chữ Hán ghi rõ niên đại tu bổ: Việt Nam dân chủ cộng hoà, tuế thứ Quý Sửu (1973). Hậu cung là 1 toà nhà xoay dọc, kết cấu chịu lực chính là các bức tường xây bao 3 mặt chỉ để 2 cửa bên thông với tiền tế. Tại tiền tế 2 bên trụ đầu hồi nhà có đắp ngoã đôi câu đối: Trung tín nhất tâm chiêu nhật nguyệt; linh quang vạn cổ đẳng càn khôn (tạm dịch: một lòng trung tín tựa trăng sao; anh linh sáng sủa mãi mãi như trời đất). Tại gian giữa có ban thờ gọi là “hương án tiền”, phía trên có bức cuốn thư đề 4 chữ Hán: Tốn cung diên tuý (cung thờ người con gái ) và có 4 đôi câu đối ở khu vực này nói về lòng trung tín của công chúa Mỵ Châu. Đôi câu đối tại cột cái cạnh hương án: trung tín thệ tâm thân hoá thạch; hưng vong sái lệ vọng trầm châu (lòng trung tín trong tâm đã thề nên thân hoá đá; dòng nước mắt khóc về sự thịnh suy kết thành châu ngọc dưới giếng sâu). Bên cạnh đó một đôi câu đối khác: Phái diễn ngàn hoàng trịnh liệt cao huyền thiên cổ kính; ba trừng ngọc tỉnh hiển linh quang bạch nhất sinh tâm (dòng dõi của nàng là con Lạc cháu Hồng, tấm lòng trinh liệt được nêu gương từ xa đến nay; giếng ngọc toả ánh sáng thiêng liêng tỏ rõ tấm lòng thành). Đi tiếp vào phía trong, trước hậu cung có ban thờ “thập nhị cô” - những người hầu cận của công chúa. Có đôi câu đối trên trụ 2 bên ban thờ: Thiên tải thượng thị gia phi thuỳ năng biệt chi quy chảo nỗ cơ truyền ngoại sử; ngũ luân chung phụ giữ phu quả thục dân giã bạng khai tỉnh thuỷ đội thâm tình (ngàn năm đã qua cái đúng cái sai ai có thể biện minh được, cái móng rùa làm nẫy nỏ thần thì cũng chỉ là truyền thuyết; trong ngũ luân, cha và chồng ai là người thân hơn chỉ có ngọc trai và nước giếng ngọc mới chứng tỏ được thôi). Hậu cung là nơi có đặt ban thờ bà chúa Mỵ Châu. Trên có đặt ngai thờ. Gian trong cùng là nơi đặt tượng đá. Đây chính là “tượng đá Mỵ Châu” đã được kể trong truyền thuyết. Có thể kể thêm rằng: nơi mà Mỵ Châu bị vua cha chém đầu là đèo Mộ Dạ thuộc tỉnh Nghệ An ngày nay nhưng theo câu truyện truyền thuyết thì tượng hoá đá trôi về tận chân thành Ngoại. Tại Nghệ An hiện nay cũng có đền thờ An Dương Vương, cạnh đó là am thờ Mỵ Châu. Địa điểm đó gọi là Núi Cuông, nay đền ở trên đỉnh núi, còn được gọi là đền Cuông. Theo BQL Di tích Thành Cổ Loa
Hà Nội
743 lượt xem
Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia đặc biệt
Đền thờ vua An Dương Vương
Đền thờ vua An Dương Vương còn gọi là đền Thượng được xây dựng trên một quả đồi mà truyền thuyết nói là xưa có cung thất của vua. Di tích đền Thượng có diện tích rộng khoảng 19.138,6m2, được xây dựng theo hướng Nam, các công trình kiến trúc chính của ngôi đền nằm trên trục Dũng đạo (Thần đạo). Hồ nước phía trước khu đền khá lớn, có hình cung tròn với bờ cong tự nhiên được kè bằng đá, có lối đi và trồng cây xung quanh giữa hồ có giếng Ngọc. Trước đây, hồ nước thông với hào của hai vòng thành ngoài và ra tận bến sông phía Đông - Nam thành Ngoại. Theo truyền thuyết thì đây chính là hồ nước mà Mỵ Châu - Trọng Thủy thường từ đây đi thuyền du ngoạn khi chưa xảy ra cuộc chiến tranh xâm lược của Triệu Đà. Sau chiến tranh, Trọng Thủy nhảy xuống đây tự vẫn vì ân hận đã gây ra cái chết của người vợ yêu quý. Trong dân gian còn truyền tụng câu chuyện dòng máu của nàng Mỵ Châu khi bị Vua cha chém đầu, rơi xuống biển, loài trai ăn phải thì hóa thành ngọc trai, nếu đem về rửa ở giếng này thì ngọc càng thêm sáng và do đó giếng nước giữa hồ trước đền Thượng còn có tên là Giếng Ngọc. Đền Thượng có hai nghi môn là Nghi môn ngoại và Nghi môn nội. Nghi môn ngoại được xây dựng bằng gạch không trát, hình thức như một cổng thành có hai tầng, tầng dưới là 3 cửa đi, được xây kiểu cuốn vòm, tầng trên thu gọn dưới dạng vọng lâu 2 tầng 8 mái. Lối lên cửa giữa có đôi rồng đá lớn ở hai bên thành bậc cửa được tạo tác năm 1732. Qua Nghi môn ngoại là sân rồng hạ lát gạch Bát Tràng, giữa sân có một con đường lát đá chạy thẳng đến cửa chính Nghi môn nội. Do có quan niệm cho rằng: đền được xây trên “đầu rồng”, vì thế người ta đã tạo nên ở hai bên Sân rồng hạ 2 giếng nhỏ được gọi là “mắt rồng” tương xứng nhau, bên cạnh có 2 gò đất cao là “hàm rồng”. Nghi môn nội được đặt cao hơn mặt sân, lối lên có 7 bậc thềm đá xanh. Hai bên bậc thềm là đôi rồng tạo bằng vữa hợp chất. Qua Nghi môn nội là sân rồng thượng lát bằng gạch Bát Tràng. Chính giữa sân là con đường lát đá dẫn lên nhà Tiền tế còn được gọi là Đại bái hay Tiền bái. Tiền tế là một kiến trúc bề thế, mái lợp ngói mũi hài, có các góc đao cong vút và đắp tượng nghê chầu. Hai dãy nhà hành lang dài hai bên nối Tiền tế và Trung đường, giữa hai dãy hành lang là một tòa Phương đình. Hậu cung là một tòa nhà kiểu “chuôi vồ”, đấu mái liền với Trung đường. Trong Hậu cung có bức tượng vua An Dương Vương được đúc bằng đồng, nặng 200kg, có niên đại 1897. Nhà bia nằm trong tổng thể kiến trúc ngôi đền, được xây dựng trên một khu đất cao phía Tây của sân thượng, hướng mặt quay vào đền. Đây là một công trình kiến trúc nhỏ có dạng Phương đình, hai tầng tám mái - một kiến trúc gỗ mái lợp ngói mũi hài khá hài hòa xinh xắn. Căn cứ những mảng kiến trúc, hiện vật hiện còn, cho biết đền Thượng có thể được xây dựng khoảng thế kỷ 17-18. Theo BQL Di tích thành cổ loa
Hà Nội
533 lượt xem
Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia đặc biệt
Cửa Bắc
Chứng nhân lịch sử giữa lòng Hoàng thành Hà Nội Nằm trên phố Phan Đình Phùng, Cửa Bắc (Chính Bắc Môn) là cổng thành duy nhất còn nguyên vẹn của Thành Hà Nội thời Nguyễn. Được xây dựng năm 1805 trên nền Cửa Bắc thời Lê, công trình không chỉ là dấu tích quý giá của kiến trúc quân sự xưa mà còn là biểu tượng cho tinh thần kiên cường của quân và dân Hà Nội trong những năm tháng chống giặc ngoại xâm. Cửa Bắc được xây dựng theo kiến trúc vọng lâu với phần cổng thành đồ sộ phía dưới và lầu canh tám mái phía trên. Từ vọng lâu, binh lính xưa có thể quan sát toàn bộ khu vực trong và ngoài thành để bảo vệ kinh thành. Trải qua hơn hai thế kỷ, công trình vẫn giữ được nhiều nét kiến trúc nguyên bản với tường thành bằng gạch và đá kiên cố, cổng gỗ lớn cùng dòng chữ Hán "Chính Bắc Môn" còn nguyên trên cổng. Điểm đặc biệt khiến Cửa Bắc trở thành di tích lịch sử có giá trị là hai vết đạn thần công vẫn còn hằn rõ trên mặt ngoài cổng thành. Đây là dấu tích của cuộc tấn công do quân Pháp tiến hành vào thành Hà Nội năm 1882, nhắc nhớ về những trận chiến oanh liệt trong lịch sử dân tộc. Bên trong vọng lâu hiện là nơi thờ hai vị Tổng đốc Hà Nội Nguyễn Tri Phương và Hoàng Diệu – những vị anh hùng đã chiến đấu và tuẫn tiết để bảo vệ thành Hà Nội trước sự xâm lược của thực dân Pháp. Không gian trang nghiêm cùng những hiện vật trưng bày giúp du khách hiểu thêm về tinh thần yêu nước, ý chí bất khuất của cha ông trong công cuộc bảo vệ Thăng Long – Hà Nội. Đến với Cửa Bắc, du khách không chỉ được chiêm ngưỡng một công trình kiến trúc cổ độc đáo mà còn có cơ hội khám phá quần thể Hoàng thành Thăng Long, tìm hiểu lịch sử kinh đô nghìn năm văn hiến và lưu lại những bức ảnh ấn tượng giữa hàng cây xanh cổ thụ trên phố Phan Đình Phùng – một trong những con đường đẹp nhất Hà Nội. Ngày nay, Cửa Bắc là điểm dừng chân không thể bỏ qua trong hành trình khám phá Thủ đô. Giữa nhịp sống hiện đại, công trình vẫn lặng lẽ gìn giữ những dấu ấn lịch sử, trở thành biểu tượng của lòng yêu nước, sự kiên cường và niềm tự hào về một Hà Nội nghìn năm văn hiến. Theo BQL Di tích Hoàng Thành Thăng Long
Hà Nội
710 lượt xem
Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia đặc biệt
Ô Quan Chưởng
Cửa ô cuối cùng lưu giữ hồn xưa của Hà Nội Giữa nhịp sống sôi động của phố cổ Hà Nội, Ô Quan Chưởng vẫn lặng lẽ đứng đó như một chứng nhân của hơn hai thế kỷ lịch sử. Là cửa ô duy nhất còn sót lại của kinh thành Thăng Long, công trình không chỉ mang giá trị kiến trúc độc đáo mà còn là biểu tượng gợi nhớ về một Hà Nội ngàn năm văn hiến. Được xây dựng từ năm 1749 và trùng tu vào năm 1817 dưới triều Nguyễn, Ô Quan Chưởng còn có tên gọi Đông Hà Môn, nằm ở cửa ngõ phía Đông của kinh thành xưa. Công trình được xây dựng theo kiến trúc cổng vọng lâu với một cửa chính lớn, hai cửa phụ hai bên và vọng lâu bốn mái cong phía trên. Trên cổng vẫn còn nguyên ba chữ Hán "Đông Hà Môn", dấu ấn lịch sử đã tồn tại cùng năm tháng. Trải qua nhiều biến cố của lịch sử, Ô Quan Chưởng vẫn giữ được nét cổ kính với những bức tường gạch phủ rêu phong, mái ngói nhuốm màu thời gian và không gian bình yên giữa lòng phố thị. Đứng dưới cổng thành, du khách có cảm giác như được quay ngược thời gian, trở về với hình ảnh Thăng Long xưa – nơi những đoàn người, xe ngựa từng tấp nập ra vào qua cửa ô mỗi ngày. Không chỉ là một di tích lịch sử, Ô Quan Chưởng còn là điểm dừng chân yêu thích của du khách khi khám phá khu phố cổ Hà Nội. Từ đây, bạn có thể dễ dàng kết hợp tham quan chợ Đồng Xuân, phố Hàng Chiếu, phố đi bộ Hồ Gươm hay thưởng thức những món ăn đặc trưng của ẩm thực Hà thành. Đặc biệt, vào buổi sáng sớm hoặc chiều muộn, ánh nắng xuyên qua cổng thành tạo nên khung cảnh cổ kính, là thời điểm lý tưởng để lưu lại những bức ảnh đậm chất Hà Nội. Ngày nay, Ô Quan Chưởng không chỉ là di tích lịch sử quốc gia, mà còn là biểu tượng của sự trường tồn, lưu giữ ký ức về một Thăng Long xưa giữa lòng Thủ đô hiện đại. Nếu có dịp ghé thăm Hà Nội, đừng quên dừng chân tại Ô Quan Chưởng để cảm nhận vẻ đẹp mộc mạc, bình yên và lắng nghe những câu chuyện lịch sử còn vang vọng theo từng viên gạch cổ. Theo tạp chí người Hà Nội
Hà Nội
710 lượt xem
Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia









