Di tích lịch sử
Việt NamĐình làng Lý Hòa
Đình Lý Hòa thuộc xã Hải Trạch, huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình. Đình nằm trên một vùng đất cao giữa làng, với địa thế đẹp, thoáng mát. Cách quốc lộ 1A theo đường bờ sông về phía Đông Bắc chừng 1 km, đình hướng về phía Nam, trước mặt là con sông Lý hiền hòa chảy xuôi ra biển. Đình Lý Hòa được xây dựng năm 1737, do dân làng cùng nhau góp công, góp của. Mới đầu đình chỉ có 4 trụ bằng lim, hàng năm khi tế lễ nhân dân mới dựng lên lợp tranh, khi tế lễ xong lại hạ xuống xếp lại. Vị thần được thờ trong đình làng “Cương khẩu Đại vương”, một vị thần giữ cửa biển Cương Gián được thờ ở đình làng Cương Gián (Nghi Xuân - Nghệ An) - Gia phả các dòng họ ở Lý Hòa đều ghi các vị thần tổ ở làng Cương Gián - xứ Nghệ vào. Năm 1804 - 1808 khi Hội đồng hương Lý vững mạnh, thì nhân dân quyên góp để làm, mái đình được lợp bằng ngói vảy, phần hậu chẩn chỉ để giữ thờ. Sau đó dựng thêm đình trung. Năm 1824 xây cất thêm phần ngoài, hai gian cũ để thờ đồ tử khí. Theo phần phả để lại thì trong cùng “tứ trụ” gồm 4 vị thần: Thiên Yana, Hạnh Tiểu Nương và hai nàng công chúa con Thiên Yana (dân gọi là tứ vị đại càn). Đình giữa thờ thành hoàng và thờ vọng các vị thần có miếu dinh trong làng. Ngoài cùng thờ thập nhị gia tiên (tiên tổ 12 họ) có sắc bằng của vua. Nói đến làng Lý Hoà, không ai lại không biết đến dòng họ Nguyễn Duy, một dòng họ trong nhiều đời kế tục đỗ đạt làm quan to, được kính trọng. Trong thời kỳ nhà Nguyễn, kể từ năm Minh Mạng thứ 10 mở đại khoa đầu tiên cho đến khoa thi cuối cùng 1919, dòng họ Nguyễn Duy ở làng Lý Hòa đã đóng góp 5 vị đại khoa (tiến sĩ). Đó là trường hợp có một không hai trong lịch sử khoa cử Việt Nam thời phong kiến. Đình Lý Hòa ngoài việc thờ tự các vị tổ khai cơ làng, khai cơ nghề nghiệp cho con cháu, thờ tự các danh khoa danh giá của làng, còn gắn liền với các sự kiện lịch sử tiêu biểu của địa phương, của tỉnh trong thời kỳ tiền khởi nghĩa giành chính quyền ở huyện lỵ, trong thời kỳ chống thực dân Pháp xâm lược nước ta đặc biệt là trong cuộc chống chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ. Những ngày đầu chuẩn bị cho việc vận động quần chúng, tập hợp lực lượng trong mặt trận Việt Minh để cùng địa phương tiến tới khởi nghĩa giành chính quyền. Đình Lý Hòa là nơi các chiến sĩ cách mạng đã cất dấu tài liệu và đi lại bắt liên lạc, nhóm họp để trao đổi các chủ trương lớn của cấp trên. Ngày 23/8/1945, cả làng đã hội tụ tại đình, đổ về huyện đường. Cùng các địa phương trong huyện làm nên cuộc khởi nghĩa cách mạng tháng Tám giành chính quyền ở huyện lỵ thắng lợi. Trong cuộc chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ. Đình Lý Hòa nói riêng, làng Lý Hòa nói chung là một trong những nơi đánh phá cực kỳ dã man của giặc Mỹ. Địch đánh từ trên trời xuống, từ biển vào.v.v... Các thế hệ, các lớp thanh niên của làng trước khi lên đường nhập ngũ đều tập trung tại đình để được nhắc nhở phát huy truyền thống cha ông, sống xứng đáng với tổ tiên đã tạo dựng ra nền văn hóa tinh thần, văn hóa vật chất và quyết tâm bảo vệ quê hương đất nước, trong những năm tháng chiến tranh quyết liệt, làng Lý Hòa vinh dự được các đồng chí Võ Nguyên Giáp, Đồng Sĩ Nguyên, Lê Quang Hoà... khi vào chiến trường đều ghé thăm. Đình Lý Hòa cũng như làng Lý Hòa nói chung bị đánh đi đánh lại nhiều lần, đình bị bom Mỹ tàn phá, nhưng làng còn là đình còn. Nhân dân địa phương vẫn kiên trì bám trụ, một tấc không đi, một ly không rời, bám làng bám quê hương. Chắc tay chèo tay súng, hưởng ứng khẩu hiệu: “xe chưa qua nhà không tiếc, đường chưa thông không tiếc máu tiếc xương”. Những cột đình bị sập, bị gãy, cùng với nhà cửa, nhân dân tháo dỡ để phục vụ cho những chuyến xe qua, đảm bảo giao thông, đảm bảo mạch máu vì miền Nam ruột thịt. Những chiến sĩ bị thương, những đoàn an dưỡng đều dừng chân tại đình để sau đó ra Bắc, vào Nam. Từ ngày hòa bình lập lại đến nay, đình làng thành nơi hội họp, nơi sinh hoạt văn hóa, là trung tâm chính trị, xã hội của cộng đồng làng xã, nơi các thế hệ con cháu tìm hiểu thêm quá khứ rực rỡ của tổ tiên, nâng cao lòng tự hào và trách nhiệm của mỗi người đối với quê hương làng xóm. Đình Lý Hòa có giá trị lịch sử kiến trúc nghệ thuật tiêu biểu, là nơi thờ tự các vị tổ có công khai sáng làng và các nghề đặc trưng của làng biển (việc tế lễ của đình ngoài hai kỳ Xuân - Thu, mỗi năm có đại trường câu, có việc của làng, ngày tết. Ngoài ra cứ 6 năm có một kỳ tế lễ thành hoàng rất long trọng). Đình Lý Hòa là hiện thân của bản sắc văn hóa làng quê Việt Nam cùng với biết bao giá trị văn hóa đáng được bảo tồn. Hơn nữa đình còn gắn liền với những sự kiện lịch sử tiêu biểu của địa phương, của tỉnh, đặc biệt từ năm 1945 đến nay. Đình còn là một công trình mang biểu tượng lịch sử văn hóa, là nơi sinh hoạt văn hóa của làng biển Lý Hoà. Nơi giáo dục phát huy truyền thống hiếu học, lòng yêu quê hương đất nước cho các thế hệ hôm nay và mai sau. Nguồn Cổng thông tin điện tử huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình
Quảng Trị
6210 lượt xem
Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia.
Cây đa di sản Việt Nam
Cây đa đền Thượng thuộc giống đa lông. Thời điểm được công nhận, cây được xếp vào cây di sản có chu vi toàn bộ thân cây lớn nhất Việt Nam, với chu vi 44m, cao hơn 36m, có tuổi đời trên 300 năm. Đến nay, cây đã phát triển thêm rất nhiều rễ phụ và hàng nghìn rễ con bao bọc xung quanh. Rất khó phân biệt đâu là thân chính, đâu là rễ phụ, bởi theo thời gian, các rễ phụ đã phát triển, gắn chặt vào nhau thành cụm rễ khổng lồ không khác gì thân chính. Cùng với chế độ chăm sóc cây di sản theo quy định của Nhà nước, cây đa cổ thụ ở đền Thượng luôn được người dân bảo vệ. Mỗi năm cây ra rất nhiều rễ nhưng không ai bẻ cành, ngắt rễ hoặc trèo leo. Cây có nhiều tầm gửi, nhiều gốc phong lan bám chặt trên những cành cao, rễ lớn càng tô thêm vẻ đẹp cổ kính và tự nhiên. Thời điểm được công nhận là “Cây di sản Việt Nam”, cây đa ở đền Thượng là cây cổ thụ đầu tiên của tỉnh được Hội Bảo vệ thiên nhiên và Môi trường Việt Nam công nhận là Cây di sản Việt Nam. Cây sừng sững, hiên ngang, vươn cao ngay bên bờ sông Nậm Thi, cạnh đền Thượng - nơi thờ Quốc công Tiết chế Hưng Đạo Vương - Trần Quốc Tuấn, người có công to lớn trong sự nghiệp bảo vệ bờ cõi, non sông đất nước, trở thành niềm tự hào của người dân nơi mảnh đất biên cương - Lào Cai. Nguồn “Báo Lào Cai điện tử”
Lào Cai
6670 lượt xem
Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia
Động Tiên Cảnh
Theo khảo sát của Phòng Nghiên cứu - Sưu tầm (Bảo tàng tỉnh Lào Cai), động Tiên Cảnh có tổng chiều dài 158m, đường đi lại còn khá khó khăn do chưa được đầu tư, tôn tạo. Động có 3 khu vực hội tụ những nét riêng biệt, không lẫn nhau về hình nhũ và cảnh sắc mà tự nhiên kiến tạo, tạo thành điểm hấp dẫn du khách ưa loại hình du lịch mạo hiểm, khám phá. Cửa động Tiên Cảnh có dạng hố sụt tự nhiên được che chắn bởi một mái đá rộng, chắc chắn. Mái cửa động có nhiều hình thù mà tự nhiên tạo tác thành, như hình con bọ, răng khủng long, mũi kiếm nhọn dày đặc theo hình răng lược. Ở khu vực này, các khối nhũ đá kết lại nối tiếp nhau từ vòm xuống dưới như những mái tóc dài miên man, phía trái vách động nhũ rất sáng, rủ xuống như bức rèm, ở đó rễ cây đan dày xen lấn lớp nhũ mịn màng tựa bức tranh sơn mài sống động. Về tổng thể, mái cửa động giống như hàm của con rồng đang mở rộng, ngáp dài sau bao thế kỷ nằm ngủ yên giữa thiên nhiên hùng vỹ. Bước qua cửa động sẽ đến động Sơn Trang với vòng động màu nâu, nền động thoải cùng vân đá như những thửa ruộng bậc thang của vùng núi cao thu nhỏ, đây là khu vực tập trung nhiều nhũ đá nhất, tạo thành sơn lâm hùng vỹ. Ngồi trên tảng đá lớn nhất được tự nhiên sắp đặt giữa động, ngắm toàn cảnh nhũ đá giống như lâu đài tráng lệ của châu Âu; nhiều khối nhũ tựa như khối pha lê khổng lồ, phát ra ánh sáng huyền ảo mỗi khi có tia sáng chiếu vào. Đây là điểm dừng chân đầu tiên để ngắm nhìn những gì tráng lệ, kiều diễm nhất của động Sơn Trang. Đứng ở mỗi góc nhìn khác nhau, mỗi người đắm chìm vào những cảm xúc của riêng mình, nhưng có một điểm chung không thể phủ nhận đó chính là thấy được vẻ tuyệt mỹ của thắng cảnh này. Khu vực tiếp theo bị thu hẹp, lối đi nhỏ với nhiều nhũ đá mọc từ dưới đất lên, như dải san hô, khiến người ta có cảm giác đang ở dưới lòng đại dương bao la, nên được người địa phương đặt tên là Thủy Cung. Trên rặng san hô, nhũ đá được khéo léo tạo hình bức tượng mẹ bồng con trước ngực, ở phía dưới có 3 cột đá nối liền thông đến đỉnh động giống như trụ cổng trước khi vào thủy cung, cánh cổng tự nhiên mở ra cả một tòa thiên nhiên kỳ vỹ, đặc sắc. Đi hết Thủy Cung là đến đáy động với nền rộng, bằng phẳng, nơi đây hội tụ rất nhiều nhũ đá buông dài từ trần đến tận đáy động. Vách động được kiến tạo bởi lớp đá chắc chắn phủ lớp bột đất màu nâu đậm. Chính lớp đất phủ ấy khiến động không tạo ra tiếng vang dội đối với âm thanh. Tại khu vực này có các khối nhũ mọc lên từ nền động tạo thành chiếc bàn trà với 3 nhũ đá trồi xung quanh giống như con người đang thưởng thức trà chiều. Tất cả tạo nên một bức tranh lấp lánh, nhất là khi có ánh sáng chiếu vào... Với những giá trị về lịch sử, thẩm mỹ, kinh tế du lịch, khoa học và quốc phòng, an ninh, tháng 10/2019, danh thắng động Tiên Cảnh đã được UBND tỉnh Lào Cai xếp hạng là di tích danh lam, thắng cảnh cấp tỉnh. Rồi mai đây, khi được quan tâm đầu tư, động Tiên Cảnh có thể trở thành điểm du lịch hấp dẫn, mang đặc trưng của Xuân Thượng nói riêng và Bảo Yên nói chung. Qua đó phát huy hiệu quả những giá trị về thiên nhiên, văn hóa, con người, giúp người dân xã Xuân Thượng phát triển kinh tế, nâng cao thu nhập. NGUỒN: Báo Lào Cai điện tử
Lào Cai
6170 lượt xem
Xếp hạng : Di tích cấp tỉnh
Đền Làng Lúc
Di tích lịch sử - văn hóa đền Làng Lúc tọa lạc tại bản Lúc, xã Bảo Hà (huyện Bảo Yên). Đền được xây dựng để tỏ lòng tôn kính của đồng bào các dân tộc nơi đây đối với 3 vị tướng của quan Hoàng Bảy. Các ông đã có công đánh đuổi giặc phương Bắc, khai ấp lập làng, dạy Nhân dân phát triển kinh tế, cung cấp quân lương cho tướng Nguyễn Hoàng Bảy đánh giặc vào cuối thời Lê (thế kỷ XVII). Sử sách còn ghi lại, bấy giờ, khắp vùng Quy Hóa thuộc châu Thủy Vĩ, châu Văn Bàn (khu vực Bảo Hà ngày nay) luôn bị giặc phương Bắc xâm chiếm, cướp phá, giết hại người dân vô tội. Nhận thấy tình hình ngày càng cấp bách, triều nhà Lê, niên hiệu Cảnh Hưng (1740 - 1786) cử viên tướng thứ Bảy họ Nguyễn lên trấn thủ Quy Hóa. Danh tướng họ Nguyễn đưa quân tiến đánh dọc sông Hồng, giải phóng Khảu Bàn và xây dựng căn cứ Bảo Hà vững chắc, chờ thời cơ đánh đuổi giặc xâm lược. Trong số quân lính của danh tướng họ Nguyễn, có 3 anh em họ Hoàng nhiều lần góp công đánh đuổi quân xâm lăng, đã xin lệnh tướng được đi tìm vùng đất mới để đưa dân tới khai hoang, lập bản, làm nơi luyện tập binh sĩ và tăng gia, sản xuất, cung cấp lương thực cho nghĩa quân. 3 anh em họ Hoàng chọn địa điểm tại bản Lúc rồi chiêu mộ đồng bào dân tộc Tày, Dao các vùng lân cận về đây lập bản. Sau một thời gian, các ông cùng dân bản khai phá được 4 cánh đồng lớn, đặt tên là Cốc Tràm, Tàng Luông, Nà Kê, Cốc Tún. 3 ông dạy dân cấy lúa nước, trồng ngô, sản xuất lương thực phục vụ đời sống hằng ngày và chi viện cho đoàn quân của tướng Nguyễn Hoàng Bảy thêm hùng mạnh. Những đóng góp to lớn của 3 anh em họ Hoàng đã nhận được sự tôn kính, niềm tin của đồng bào các dân tộc nơi đây. Sau khi mất, các ông được người dân tôn làm thành hoàng làng, lập miếu thờ ở chính giữa làng Lúc. Nhìn từ ngoài vào, ngôi đền trang nghiêm gồm 3 gian thờ lần lượt là: Cung thờ Ban công đồng; cung thờ tướng Hoàng Bảy; cung thờ Tam tòa Thánh Mẫu. Từng chi tiết trong ngôi đền đều được chạm khắc tinh tế, tạo vẻ uy linh. NGUỒN: Báo Lào Cai điện tử
Lào Cai
6445 lượt xem
Xếp hạng : Di tích cấp tỉnh
Đình làng Tượng Sơn
Đình Tượng Sơn nằm ngay trung tâm xã Quảng Long, trên một thế đất tương đối cao, phía trước có dòng sông Mai (sông Kênh Kịa) chảy qua, sau dựa vào triền cát như ôm trọn lấy làng Tượng Sơn. Lịch sử xây dựng đình làng gắn với lịch sử xây dựng và phát triển cùng với những biến động về chính trị - xã hội diễn ra trên vùng đất Quảng Long, Quảng Trạch (thời phong kiến thuộc xã Đại Đan, tổng Thuận Bài). Đình được xây dựng vào năm Canh Ngọ (1750), đời vua Cảnh Hưng thứ XI đến nay đã hơn 250 năm. Đình Tượng Sơn lúc đầu xây dựng để thờ và ghi công các vị tổ đã có công khai khẩn lập ra làng Đại Đan và những vị được vua giao "Bảo quốc hộ dân", sau này thờ các vị thần trung quân ái quốc. Qua ký ức của nhiều thế hệ dân làng, đình Tượng Sơn là một trong những ngôi đình lớn trên đất Quảng Bình lúc bấy giờ. Đình được xây dựng và bài trí khá công phu. Đình gồm sân đình, tiền đình và hậu đình. Sân đình, tiền đình là nơi diễn ra lễ hội và nơi vui chơi giải trí, gặp mặt tế lễ, hội họp, rước sắc của làng. Hậu đình là nơi thờ Thành Hoàng và các vị thần có công với quê hương đất nước. Đình Tượng Sơn là sự kết hợp giữa chính quyền và thần quyền. Sau vụ đàn áp phong trào Cần Vương ở huyện Quảng Trạch thất bại (1888), thực dân Pháp điên cuồng tìm cách trả thù. Chúng đã lợi dụng hiềm khích giữa dân lương giáo, xúi giục bọn việt gian đội lốt tôn giáo đốt cháy đình làng. Dù rằng lúc này Đình chỉ còn lại dấu tích một thời, nhưng hình ảnh ngôi đình làng vẫn in đậm trong ký ức của mỗi người dân. Với tâm huyết đó, mùa xuân năm Nhâm Tý (1912) đình làng được khởi công xây dựng lại trên nền đình cũ theo kiến trúc của triều Nguyễn. Sau một năm chung lòng chung sức, góp công góp của của cộng đồng làng, đến mùa xuân năm Quý Sửu (1913) đình làng hoàn thành. Về cấu trúc, đình xây dựng lại lần 2 cơ bản vẫn như cũ nhưng đồ sộ và hoàn hảo hơn. Đặc biệt phần trang trí phối cảnh bên ngoài cũng như các chi tiết đường nét hoa văn, chạm trổ hình ảnh con voi trận được khắc ở bình phong đều thể hiện rõ tinh thần thượng võ của vùng đất Tượng Sơn. Riêng phần hậu đình ngoài việc thờ Thành Hoàng làng còn thờ vua Quang Trung và danh tướng Nguyễn Dụng ở chính diện hợp với ý nguyện lòng dân. Năm 1968, do tính chất của cuộc chiến tranh phá hoại ngày càng ác liệt của đế quốc Mỹ, ngôi đình lại bị bom đánh sập. Mãi cho đến năm 1993, Đảng bộ và nhân dân Quảng Long đã phục hồi lại phần hậu đình gồm 3 gian, được xây bằng đá, gạch, xi măng, mái lợp ngói như hiện trạng ngày nay. Tuy nhiên, việc làm đó cũng mới chỉ dừng lại việc phục hồi nơi thờ tự, chứ chưa tái hiện lại phần kiến trúc nghệ thuật của ngôi đình ngày xưa. Đình Tượng Sơn là một công trình lịch sử - văn hóa, là nơi hội tụ những sinh hoạt văn hóa truyền thống tốt đẹp của vùng đất Quảng Long là nơi trao truyền giá trị văn hóa giữa các thế hệ. Các phong tục, lễ hội của làng diễn ra ở Đình đều tập trung phản ánh các quan niệm thờ cúng và thể hiện tư tưởng người nông dân làng xã trong sự tôn vinh các vị thần. Trong những năm vận động thành lập chi bộ Đảng ở địa phương, Đình Tượng Sơn là nơi các chiến sĩ cộng sản đi lại, họp kín để trao đổi, tuyên truyền những chủ trương, đường lối của Đảng. Thời kỳ tiến tới tổng khởi nghĩa Cách mạng Tháng 8, đình làng cũng là nơi diễn ra các cuộc mít tinh của mặt trận Việt Minh kêu gọi quần chúng nổi dậy hưởng ứng sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc. Đêm 19/8/1945, tại đình làng, Ban vận động và chỉ đạo khởi nghĩa xã được thành lập. Tại đây ngày 23/8/1945, tên lý trưởng đã giao nộp ấn tín và sổ sách cho Việt Minh. Hoà bình lập lại (1954), đình Tượng Sơn là trụ sở hành chính trong một thời gian khá dài của uỷ ban xã Quảng Long. Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, để đảm bảo cho việc chi viện sức người, sức của cho tiền tuyến miền Nam. Đình Tượng Sơn trở thành nơi tập kết, dừng chân của các đơn vị bộ đội, nơi trung tâm tiếp nhận hàng hóa, vũ khí. Ngoài ra đình cũng là nơi chứa đựng quân khí của đại đội 365, pháo 37, Bệnh viện Quảng Trạch cũng đóng ở đây. Khi phát hiện được những điểm cất dấu hàng nên đế quốc Mỹ đã tập trung đánh phá ác liệt vùng đất Quảng Long, lúc này đình đã bị đánh sập. Nhưng với tinh thần tất cả cho tiền tuyến, tất cả để chiến thắng, Đảng bộ và nhân dân Quảng Long đã dùng số gỗ còn lại để làm hầm phòng không, hầm cứu thương và phần lớn đưa ra làm cầu Kênh Kịa cho xe qua. Có thể nói trong những năm tháng đầy khó khăn, gian khổ, hy sinh chống lại cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ, đình Tượng Sơn đã góp một phần đẩy nhanh sự nghiệp thống nhất đất nước. Với những giá trị về mặt lịch sử trên năm 2003, đình Tượng Sơn được Bộ Văn hóa-Thể thao và Du lịch công nhận là di tích lịch sử cấp quốc gia. Nguồn Cổng thông tin điện tử tỉnh Quảng Bình.
Quảng Trị
5958 lượt xem
Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia.
Đình làng Già Hạ - Việt Tiến
Công trình đình làng Già Hạ được phục dựng theo đúng nguyên mẫu đình làng xưa và dựa trên những mô tả của các cụ cao niên, nhân chứng hiện đang sinh sống trên địa bàn xã. Tổng diện tích khu di tích gần 300 m2, diện tích xây dựng đình làng gần 100 m2. Tổng mức đầu tư trên 500 triệu đồng, trong đó Nhà nước hỗ trợ 410 triệu đồng, Nhân dân đóng góp trên 100 triệu đồng gồm tiền mặt và ngày công lao động. Theo các tư liệu lịch sử, vào tháng 11 năm 1947, Tỉnh ủy và Ủy ban Kháng chiến Hành chính tỉnh Lào Cai chủ trương cùng Nhân dân tản cư về Lục Yên tỉnh Yên Bái, ở xã Hùng Việt (là xã Việt Tiến, huyện Bảo Yên ngày nay). Tại đình làng Già Hạ, Tỉnh uỷ Lào Cai đã tổ chức hội nghị cán bộ Đảng toàn tỉnh bàn về hương hướng kháng chiến, xây dựng lực lượng trong khu căn cứ, củng cố chi bộ nông thôn và bàn về việc mở chiến dịch biên giới, chiến dịch Lê Hồng Phong tiến tới giải phóng Lào Cai. Không chỉ là căn cứ cách mạng, đình làng xưa còn là nơi hội họp, sinh hoạt văn hóa văn nghệ của Nhân dân trong vùng. Do vậy, việc phục dựng và đầu tư xây dựng lại đình làng Già Hạ là niềm mong mỏi của cấp ủy, chính quyền và Nhân dân địa phương. NGUỒN: ĐÀI PHÁT THANH - TRUYỀN HÌNH LÀO CAI
Lào Cai
5718 lượt xem
Xếp hạng : Di tích cấp tỉnh
Đền Pịt - Lương Sơn
Từ lâu, trong đời sống tâm linh của đồng bào Tày, ngôi đền là chốn linh thiêng thờ phụng Vua Hùng, nơi thực hành tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương. Sự độc đáo của ngôi đền chính là sự giao thoa văn hóa, tín ngưỡng giữa miền xuôi và miền ngược, kết tinh những giá trị nhân văn cao đẹp. Đó là đền Pịt thuộc bản Tày Pịt, xã Lương Sơn (Bảo Yên - Lào Cai). Sau khi cuộc khởi nghĩa Thái Bình Thiên Quốc ở Trung Hoa thất bại, nhiều tàn quân đã chạy dạt sang Việt Nam. Trong đó, nhóm tàn quân do Lưu Vĩnh Phúc đứng đầu đã kéo về Lục Yên và thành lập quân Cờ Đen. Để nuôi sống tàn quân, chúng ra lệnh cho các chức dịch địa phương phải nộp lương thực, thực phẩm, bắt thanh niên trai tráng xung vào đội quân của chúng. Đời sống nhân dân vô cùng khổ cực. Đến năm 1872, giặc Cờ Vàng do Hoàng Sùng Anh cầm đầu kéo từ Vân Nam sang Lào Cai. Một cuộc chiến khốc liệt giữa quân Cờ Đen và quân Cờ Vàng đã khiến nhân dân trong vùng rơi vào cảnh vô cùng bi thảm. Giặc cỏ vùng biên giới chưa yên thì năm 1885, thực dân Pháp đánh các tỉnh miền núi phía Bắc. Từ đó trở đi, dân tộc ta rơi vào cảnh lầm than, nước mất nhà tan, nhân dân vô tội chịu nhiều tầng áp bức bóc lột. Dưới nhiều tầng áp bức bóc lột kéo dài từ những năm cuối thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX, đời sống nhân dân các dân tộc ở Lương Sơn vô vùng tăm tối. Không có gì ngạc nhiên khi mọi người cần một điểm tựa về tâm linh. Sau nhiều lần nhờ các vị cao nhân kiếm tìm thì những người có uy tín trong cộng đồng người Tày ở Bản Pịt đã quyết định rước chân nhang thờ vua Hùng Vương ở Bạch Hạc, Phú Thọ về thờ tại đền. Từ khi rước chân nhang thờ các Vua Hùng về thờ, đời sống người dân thôn Pịt, xã Lương Sơn đã được nâng đỡ, động viên về mặt tinh thần. Việc thờ cúng Vua Hùng cùng với sơn thần, thổ địa của làng được duy trì suốt từ thời gian đó cho đến ngày nay. Đền Pịt tọa lạc trên mảnh đất rộng trên 4000m2, vị trí thoáng, phía trước là 2 bậc sân rộng khoảng 300m2, nền của di tích cao hơn mặt sân 50cm, cây cối và những thửa ruộng bậc thang bao quanh tạo nên khung cảnh hữu tình. Hiện nay đền Pịt là ngôi nhà gỗ 1 gian chính giữa và 2 chái được làm bằng gỗ, vật liệu còn rất tốt, yếu tố kỹ thuật đạt thẩm mỹ cơ bản. Đền hướng chính Đông. Trong đền có một bát hương cổ, toàn bộ nền đá, vết tích dựng đền vẫn còn. Nhiều năm trước đây, đến ngày hội của đền vào tháng Giêng, các chị em phụ nữ thường làm một mâm quả còn, én. Kết thúc phần nghi lễ cúng và thụ lộc, các cụ đến một mảnh ruộng để ném còn vòng, chơi én, đánh quay... Tất cả mọi người nam nữ, già trẻ đều nô nức, phấn khởi, tinh thần thăng hoa chuẩn bị một năm mới với nhiều hân hoan. Các quả còn, khi chơi xong sẽ được giữ tại gia đình nhà thầy cúng đến năm sau, khi làm cái mới, mới hóa cái cũ. Với những giá trị nhiều mặt, đền Pịt đã được UBND tỉnh Lào Cai xếp hạng di tích lịch sử cấp tỉnh. Đền Pịt xã Lương Sơn là địa chỉ tâm linh, không gian sinh hoạt văn hóa, tín ngưỡng của đồng bào các dân tộc nơi đây. Đặc biệt, ngôi đền gắn với tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương - di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại. Ngôi đền là minh chứng cho sự giao thoa văn hóa Tày - Việt. Đền Pịt là điểm nhấn tâm linh trong lộ trình phát triển du lịch tâm linh của địa phương. NGUỒN: Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch
Lào Cai
6592 lượt xem
Xếp hạng : Di tích cấp tỉnh
Đền Hai Cô - Kim Sơn
Đến Bảo Yên, du khách đi theo đường Cao tốc Nội Bài - Lào Cai; đường Sắt Hà Nội - Lào Cai, hoặc Quốc lộ 70, Quốc lộ 279, giao thông thuận tiện đưa du khách đến với Di tích lịch sử văn hóa cấp Quốc gia Đền Bảo Hà, thờ danh Tướng Hoàng Bảy, ngôi Đền linh thiêng nổi tiếng cả nước; Đền Cô Tân An, di tích lịch sử văn hóa cấp Quốc gia, nằm bên kia Sông Hồng đối diện với Đền Bảo Hà thờ Cô Bé Thượng Ngàn (Nguyễn Hoàng Bà Xa) người có công cùng cha là “ Thần Vệ quốc Hoàng Bảy” đánh giặc, bảo vệ biên cương Tổ quốc. Cũng từ đây, du khách đến với xã Kim Sơn, một vùng quê yên bình, trù phú bên dòng Sông Hồng đỏ nặng phù sa, nơi đây có ngôi Đền Hai Cô tọa lạc trên đồi cao soi bóng xuống Dòng Sông, một phong cảnh “ Sơn thủy, hữu tình”. Sau một thời gian được các nhà nghiên cứu lịch sử khoa học tìm hiểu về lịch sử thời Nhà Trần, có hai cô gái theo quan quân Nhà Trần đánh giặc Nguyên - Mông vào thế kỷ XIII, đã anh dũng hy sinh tại mảnh đất Bãi Liềm, nay là thôn Quang Kim, xã Kim Sơn, Bảo Yên. Ngày 28/12/2018, UBND tỉnh Lào Cai đã ban hành Quyết định số 4349/QĐ-UBND về việc xếp hạng Di tích Đền Hai Cô là di tích lịch sử Văn hóa cấp tỉnh. Sự tích Đền Hai Cô được các nhà Sử học ghi lại: Theo lời kể của những người cao niên ở thôn Kim Quang và các hiện vật còn sót lại của ngôi đền cho thấy; Đền Hai Cô đã có lịch sử cách đây hơn trăm năm tuổi với nhiều lớp trầm tích dân gian được lưu truyền về nhân vật được thờ trong đền. Sự tích về nhân vật được thờ và lịch sử ngôi Đền chỉ được lưu truyền từ đời này sang đời khác, qua những câu chuyện kể được truyền miệng trong dân gian và cho đến nay chỉ một vài người già còn nhớ được. Bà Lê Thị Nhàng - thủ nhang đền Hai Cô cho biết: Vào những năm 1965 trong làng Bãi Liềm còn 4 hộ người Dao Họ sinh sống, bà được nghe những người Dao lớn tuổi kể lại về nhân vật được thờ trong ngôi đền là Hai Cô đã có công với vùng đất này trong kháng chiến chống quân Nguyên – Mông vào thời Nhà Trần. Truyền thuyết kể lại: Trong một trận chiến đấu với quân Nguyên - Mông (thế kỷ XIII) có hai cô gái đi theo quân nhà Trần canh gác trên một cái chòi cao tại Bãi Liềm làm nhiệm vụ đốt lửa báo hiệu khi quân địch tới. Trong trận chiến này, thế giặc rất mạnh tiến công như vũ bão, chòi canh của Hai Cô gái bị quân giặc bao vây 4 phía. Biết không thể thoát khỏi vòng vây và quyết không để rơi vào tay quân giặc Hai Cô đã tự châm lửa đốt chòi canh tự sát. Sau khi hai Cô thác đã hiển linh ở khu vực Bãi Liềm. Linh hồn Hai Cô đã nhiều lần hiển linh phù trợ cho quân lính nhà Trần thời bấy giờ đánh thắng trong nhiều trận chiến chống quân Nguyên – Mông xâm lược. Chính vì vậy, uy danh và sự linh thiêng của Hai Cô đã nổi tiếng khắp xa gần. Để tưởng nhớ sự hy sinh của Hai Cô, nhân dân nơi đây đã lập Đền thờ phụng và thường gọi là “Đền Hai Cô”, ngôi Đền thờ Hai Cô gái đã anh dũng hy sinh trong trận chiến đấu chống quân Nguyên - Mông bảo vệ bờ cõi vùng đất của người dân Kim Sơn nói riêng và dân tộc Việt Nam nói chung. Ngày nay, người dân nơi đây thường tâm niệm: Hai Cô thường xuyên hiển linh phù hộ, độ trì cho thuyền bè qua lại trên sông Hồng được xuôi chèo mát mái. Mùng 1, ngày Rằm, đầu xuân người dân lại đến dâng hương, hoa Đền Cô, cầu cho “ tai qua, nạn khỏi, mọi người mạnh khỏe, gia đình ấm êm, mùa màng tươi tốt…” Đền Hai Cô thuộc thôn Kim Quang, xã Kim Sơn, huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai. Nơi đây người dân vẫn gọi là bãi Liềm, một mỏm đất nhô ra sông Hồng được bao bọc bởi những cây to quanh năm xanh tươi, rợp bóng. Đền Hai Cô tọa lạc trên đồi cao, không tiếp giáp với nhà dân, hai phía tả ngạn tiếp giáp với Sông Hồng, phía sau Đền tiếp giáp với đường tỉnh lộ 161. Để đáp ứng nhu cầu tâm linh và truyền thống“uống nước, nhớ nguồn’ của nhân dân địa phương và du khách thập phương; hiện nay, UBND huyện Bảo Yên đang quy hoạch mở rộng quỹ đất, tôn tạo khuôn viên ngôi Đền, để nhân dân và Chính quyền địa phương thuận tiện trong việc bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử văn hóa cấp tỉnh Đền Hai Cô./. CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ HUYỆN BẢO YÊN TỈNH LÀO CAI
Lào Cai
6542 lượt xem
Xếp hạng : Di tích cấp tỉnh
Đình làng Lũ Phong
Đình làng Quảng Phong-trước đây gọi là đình Lũ Phong, được xây dựng vào năm 1542, để thờ 5 vị thánh Thành hoàng có công khai khẩn, lập làng qua các thời kỳ. Năm 1962, đình được công nhận là Di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia. Trong những năm kháng chiến chống Mỹ, đình là mục tiêu đánh phá ác liệt của kẻ thù. Tới nay đình đã được tôn tạo lại và dần dần phục hồi các giá trị truyền thống lịch sử tốt đẹp của địa phương. Đình làng Lũ Phong là nơi tưởng nhớ công ơn Thành Hoàng Làng (những vị quan, tướng đầu tiên về khai khẩn sinh sống tại đây), đặc biệt hơn đình làng cũng ghi dấu ấn lịch sử Chi bộ đầu tiên được thành lập của Huyện Quảng Trạch và phía Bắc Quảng Bình (10/1993). Để tưởng nhớ công lao của ông, cha và cầu cho làm ăn thuận lợi, mùa màng bội thu, cuộc sống ấm no, bình an, hàng năm người dân tổ chức cúng tế. Việc chuẩn bị cho lễ hội đình làng Lũ Phong được thực hiện rất công phu. Chiều ngày 17 tháng Giêng, người dân của 10 tổ dân phố của phường Quảng Phong đều bận rộn, chuẩn bị các mâm cỗ để cúng lễ cho sáng ngày hôm sau. Trong mâm cỗ cúng ngày lễ được chia làm hai loại: loại mâm cỗ thứ nhất gồm có hoa quả, vàng mã, hương, rượu,…;loại mâm cỗ thứ hai gồm xôi thịt. Lễ hội đình làng Lũ Phong được tổ chức từ 9 giờ sáng ngày 18 tháng Giêng khi các mâm cỗ của 10 tổ dân phố trong phường đã được trưng bày đầy đủ tại đình Lũ Phong. Các nghi lễ cúng do các bậc cụ lão lớn tuổi trong phường thực hiện. Quá trình hình thành, phát triển của đình làng Lũ Phong,các truyền thống ông cha sẽ được đọc lại trong buổi lễ, nhằm giáo dục cho các thế hệ sau nhớ về cội nguồn. Đồng thời lễ hội Lũ Phong cũng nêu lên những thành tích mà phường Quảng Phong đã đạt được trong năm trước, cầu mong cho năm mới mọi điều thuận lợi, hướng thiện, cầu bình an, mọi người dân sẽ có cuộc sống tốt đẹp hơn. Nguồn Cổng thông tin điện tử thị xã Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình.
Quảng Trị
6267 lượt xem
Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia.
Đình làng Phù Trịch
Làng Phù Trịch (Quảng Lộc, TX. Ba Đồn) vốn nổi danh bởi chiến thắng Phù Trịch - La Hà những năm chống Pháp ác liệt. Mảnh đất này vẫn còn lưu dấu bao giá trị lịch sử, văn hóa vững bền theo thời gian. Đình làng Phù Trịch là nơi hội họp, diễn ra các hoạt động văn hóa-văn nghệ, lưu giữ nhiều phong tục, tập quán tốt đẹp và còn là hiện thân của tình đoàn kết cộng đồng. Một trong những giá trị làm nên niềm tự hào vững bền của người dân Quảng Lộc nói chung và làng Phù Trịch nói riêng là mái đình Phù Trịch cổ kính, mang đậm dấu ấn thời gian. Đình Phù Trịch được xây dựng vào năm 1843, là một công trình kiến trúc ẩn chứa nhiều giá trị lịch sử, văn hóa của địa phương. Điều đáng quý là bên trong đình Phù Trịch hiện đang lưu giữ 12 sắc phong thời nhà Nguyễn từ vua Tự Đức đến vua Duy Tân, điều đó thể hiện được sự trân trọng quá khứ, cũng như công lao của các bậc tiên hiền. Mặt đình hướng ra sông Gianh, lưng tựa vào làng tạo thế đứng vững chắc giữa không gian thoáng đãng. Đình được thiết kế hai phần: đình tiền và đình hậu. Đình tiền được xây dựng khá rộng, có thiết kế đẹp, công phu. Các đường nét hoa văn được chạm khắc trau chuốt, tỉ mỉ. Ở hai đầu hồi phía đông và tây đắp hình hai con chim phượng có tư thế đang bay, với cách đắp ốp những đường nét cong lượn tinh tế, sắc sảo, uyển chuyển, hài hòa, tuyệt mỹ, mang cốt cách đăng đối cung đình. Đình hậu có kiểu kiến trúc và cách bố trí mang những nét tương đồng như những đình khác ở các địa phương khu vực miền Trung, từ các chi tiết hoa văn phối cảnh bên ngoài cho đến phần nội thất bên trong. Đình hậu được xây dựng theo hình chữ nhật, mái lợp bằng ngói Hưng Ký. Đình hậu là nơi thờ phụng vị thành hoàng danh tướng Phạm Bá Quý và các vị thần, vị tướng có công danh, đức độ, các vị khoa bảng danh thơm, tiếng tốt, phò dân, giúp nước được nhân dân mến mộ. Cách đình khoảng 20m về phía tay trái, dân làng còn lập riêng một lăng miếu được xây cất khá công phu thờ Thành hoàng Phạm Bá Quý, người có công lớn trong việc khai khẩn ruộng đất lập nên làng Phù Trịch, vừa là một vị tướng có tài. Phía trên hương án treo 2 chữ Hán “Anh Linh” do vua ban tặng, thể hiện là nơi trang nghiêm và kính cẩn để thờ ngài. Năm 1817, ông được vua Thành Thái sắc phong “Bản thổ Thành hoàng chi thần”, sau đó sắc phong là “Thượng đẳng Tôn thần”. Bởi thế, khi xây dựng miếu thờ, dân làng đã khắc hai câu đối bằng chữ Hán: “Sinh vi tướng Binh Lồi cứu quốc/Tử phong thần bản thổ thành hoàng”. Phía trên 4 nóc miếu vẫn còn giữ được những nét chạm trổ rồng, phượng tinh xảo và nguyên bản, thể hiện uy quyền của một danh tướng. Về phía đông cách đình khoảng 1.200m nhân dân địa phương còn lập nên một khu miếu gọi là “Tam tòa tứ miếu”, gồm có 4 ngôi miếu. Mỗi ngôi miếu được thiết kế theo ba tòa kiến trúc giống nhau, các đường nét đắp ốp, uốn lượn, chấm họa đều theo một thể thống nhất. Bốn ngôi miếu dùng để thờ các vị: Nam Hán Lang Lai, Tả phụ thiền tướng công Nguyễn Hữu Hiền, thân phụ các tả phụ thiền quận công, tứ vị thần nông, những vị có công trong việc trấn ải biên thùy, khai cơ điền thổ, xây dựng bảo vệ quê hương và được sắc phong qua các triều vua. Di tích lịch sử đình Phù Trịch ngoài việc thờ tự vong linh những vị tổ khai cơ lập nghiệp nên làng, những vị có công đức được nhân dân tôn kính, đình còn gắn liền với những sự kiện lịch sử quan trọng trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ. Tiêu biểu như chiến thắng Phù Trịch La Hà vào mùa xuân tháng 2-1950 đã đi vào lịch sử của địa phương và dân tộc như một mốc son chói lọi, xác và máu quân thù nhuốm đỏ cả dòng sông. Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Phù Trịch là địa bàn trọng điểm; bến đò ngang Phù Trịch là huyết mạch giao thông quan trọng, là nơi đưa đón bộ đội, thanh niên xung phong, nhân dân qua lại và vận chuyển hàng hóa vào chiến trường. Đình Phù Trịch là nơi tập kết quân, cất dấu hàng hóa quan trọng như vũ khí quân trang, quân dụng, gạo muối, thuốc men. Đình Phù Trịch, vùng đất Phù Trịch trở thành điểm nóng mà địch tập trung đánh phá suốt đêm với hàng ngàn loại bom đạn khác nhau hòng ngăn chặn cắt đứt mạch máu giao thông đường bộ, đường thuỷ. Đến năm 1967, 1968 với cuộc chiến tranh mang tính huỷ diệt, đế quốc Mỹ đánh bom vào nhà thương, trường học, đình, chùa, lăng, miếu… phần đình tiền cũng bị đánh sập từ đây. Qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, đình Phù Trịch nói riêng, làng Phù Trịch nói chung đã có những đóng góp đáng kể cho sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc. Đã gần hai trăm năm qua mà các đường nét hoa văn chạm trổ trong tổng thể kiến trúc của ngôi đình vẫn nguyên vẹn trên một vùng đất có nhiều chiến tích, là nơi thờ tự, tín ngưỡng và địa điểm sinh hoạt văn hoá tâm linh của các thế hệ người làng Phù Trịch. Cứ vào mỗi dịp tết đến xuân về, nhất là đêm giao thừa Tết Nguyên đán, con cháu trong làng đều tập trung về đình để cùng nhau đón giao thừa, dâng hương và đánh chiêng, gõ trống khai xuân, ngày 6 tháng giêng hàng năm, tất cả các họ tựu trung tại đình làng để tổ chức lễ khai canh đầu xuân của làng. Đây là dịp để các tộc họ, con cháu gần xa trở về tham dự lễ, cùng ôn lại những giá trị truyền thống tốt đẹp của vùng đất này. Và đình làng mãi là nơi chốn đi về đầy tự hào của bao thế hệ người dân nơi đây. Nguồn Cổng thông tin điện tử xã Quảng Lộc, thị xã Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình.
Quảng Trị
4565 lượt xem
Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia.









