Di tích lịch sử

Việt Nam
Đình Thọ Nham Hạ

Đình Thọ Nham Hạ

Theo Thần tích, Thần sắc của huyện Kim Động và những tư liệu tại địa phương, đình Thọ Nham Hạ thờ Thánh Tam Giang hay còn gọi là Tam Giang Đại Vương. Ông sinh ra trong một gia đình có 5 anh em vào đời vua tiền Lý Nam đế, từng theo Triệu Quang Phục đánh giặc Lương. Đình được khởi dựng từ rất sớm. Ban đầu, ngôi đình có quy mô nhỏ, làm bằng vật liệu tranh tre, nứa, lá đơn giản. Trải qua thời gian, đình được trùng tu, tôn tạo nhiều lần dưới thời Hậu Lê và thời Nguyễn. Dấu ấn kiến trúc hiện tại của ngôi đình là từ lần trùng tu lớn dưới thời Nguyễn niên hiệu Bảo Đại thứ 15 (1940) với quy mô kiến trúc bề thế, gồm nhiều hạng mục công trình: Đại bái, Hậu cung, nghi môn, giếng đình, giải vũ, nhà bia,... Nghi môn đình Thọ Nham Hạ gồm ba cổng: Cổng giữa xây dạng cột trụ biểu rộng và cao hơn hẳn so với hai cổng phụ. Đỉnh cột trụ chính đắp “tứ phượng tụ vĩ” (4 con chim phượng chụm đuôi vào nhau). Phần ô lồng đèn trang trí tứ linh (long, lân, quy, phượng), hổ phù ngậm chữ Thọ. Thân trụ xây vuông, đắp gờ, kẻ nổi và đắp câu đối chữ Hán. Hai cổng phụ làm kiểu chồng diêm hai tầng tám mái, đường bờ nóc đắp con kìm ngậm đầu bờ nóc, chính giữa là hình tượng mặt trời với các đao lửa. Mái trên và dưới đắp giả ngói ống, các đầu đao trang trí hoa văn mềm mại. Phần cổ diêm đắp nổi chữ Hán. Thân cổng phụ xây vuông, đắp gờ, kẻ nổi và đắp câu đối chữ Hán. Qua khoảng sân rộng là đến khu thờ chính có kết cấu kiểu chữ Đinh (丁) gồm 05 gian 02 chái Đại bái và 03 gian Hậu cung, mặt tiền hướng Tây Nam, các cấu kiện kiến trúc được làm bằng gỗ mang đậm nét kiến trúc thời Nguyễn. Đại bái làm kiểu tường hồi bít đốc, mái lợp bằng ngói ta. Bờ nóc là một đường xây bằng gạch, phủ vữa áo tạo những đường gờ chạy song song. Trung tâm bờ nóc đắp hình lưỡng long chầu nhật, rồng uốn ba khúc khỏe mạnh, đầu vươn cao. Kết thúc đường bờ nóc là hai đấu vuông thót đáy và hai con kìm dạng đầu rồng há miệng ngậm bờ nóc, đuôi là một vân xoắn có dạng dấu hỏi “?” ngược lớn chạy từ đầu vươn ra phía sau, toàn thân chầu về phía trung tâm bờ nóc. Bờ dải được xây vuông góc với đường bờ nóc theo kiểu giật cấp để nguyên không trang trí. Cuối bờ dải là hai bức tường lửng và hai cột trụ biểu. Cột đồng trụ cao 7m, đỉnh cột đắp long cuốn ổ cách điệu quả dành dành, 4 chân quỳ, 4 góc đắp 4 phượng. Phần ô lồng đèn đắp nổi tứ linh (long, lân, quy, phượng). Thân cột xây vuông, đắp gờ, kẻ nổi và thể hiện 3 đôi câu đối chữ Hán. Ngăn cách giữa Đại bái và hiên là ba luồng cửa. Cửa đình được làm theo lối cửa bức bàn. Mỗi cửa gồm bốn cánh dựng song song với nhau trên bậu cửa nối hai cột quân lại tạo ra sự kết nối liên hoàn, chắc chắn giữa các thành tố bộ phận trong tổng thể kiến trúc ngôi đình. Các cánh cửa đều có trụ xoay, cài then, chốt gióng. Đỡ cửa bức bàn là ngưỡng để hệ thống cửa không tiếp xúc với đất gây ẩm mốc, hư hỏng, trang trí hoa văn triện tàu lá mái. Phần trên khuôn cửa để hàng chấn song con tiện và các khoảng ô sa chạm trang trí tứ linh, tứ quý. Nền Đại bái lát gạch vuông. Bộ khung chịu lực toà này được định vị vững chắc bởi hệ thống cột cái, cột quân, xà, vì,... Hệ thống cột đứng song hàng thành từng cặp (gồm 12 cột cái và 12 cột quân). Các cột trong vì đều có kết cấu “thượng thu hạ thách”, được kê lên chân tảng. Các bộ vì tòa Đại bái được làm theo kiểu “vì chồng rường”. Các con rường được tạo tác nổi khối, to khỏe tạo sự vững chắc, trang trí hoa văn lá lật mềm mại, kê trên các đấu vuông trang trí chữ Thọ. Vì nách làm kiểu cốn mê, trang trí tứ linh (long, lân, quy, phượng), tứ quý (tùng, trúc, cúc, mai) rất sinh động. Dưới quá giang là hai đầu dư được trang trí thành hai đầu rồng với các đao mác lượn sóng, râu tóc dài bay ra phía sau và cá hóa long. Bộ phận này có tác dụng chịu lực và trang trí làm giảm bớt đi sự thô cứng cho các bộ vì. Hậu cung đình gồm 03 gian, được chia thành hai phần, ngăn cách bằng hệ thống cửa gồm: Hậu cung ngoài 01 gian và cung cấm 02 gian. Cũng giống như tòa Đại bái, các bộ vì Hậu cung được làm theo kiểu “vì chồng rường”. Toàn bộ phần mái Hậu cung được đặt trực tiếp lên hệ thống cột, tường bao xung quanh và được lợp ngói ta. Hậu cung ngoài thông phong với tòa Đại bái. Đặc biệt, tại đây còn lưu giữ một bát hương sứ men xanh ngọc, nổi rõ các vân mây, 5 ô hoa văn long hóa giữa chữ Thọ, có niên đại thời Lê Cảnh Hưng. Bên phải ban thờ Tam Giang Đại vương đặt ban thờ Quế Hoa Công chúa. Tượng bà Quế Hoa được đặt trong khám thờ chạm trang trí kiểu khám trúc, lèo kép, lồng khung kính. Tượng làm bằng đồng, cao 61cm, dày vai 32cm, dày hông 43cm. Tượng được tạc trong tư thế ngồi trên bệ sơn son thiếp vàng hình bát giác, dáng thư thái như bà chúa trong triều, gương mặt đẹp; cổ kiêu 3 ngấn, tai đeo nụ vàng, đầu đội mũ vương miện, cổ đeo dây chuyền 4 vòng, mình mặc áo gấm, trên áo trang trí chạm đúc nổi các đồng tiền vàng giữa chữ Thọ. Tay trái để úp vào đùi, tay phải để trên đùi nghiêng vào lòng. Ngoài ra, trên ban thờ còn bài trí nhiều đồ thờ có giá trị như: đỉnh đồng, chân nến đồng, bát hương sứ,… Hiện nay, đình Thọ Nham Hạ còn lưu giữ được một số hiện vật, đồ thờ được chạm khắc đẹp, có giá trị về mặt lịch sử và mỹ thuật có niên đại thời Hậu Lê và Nguyễn như: bát hương sứ men ngọc, 04 bức đại tự, 03 đôi câu đối, 03 bức châm, 04 sắc phong (1 Thành Thái, 3 Khải Định), 02 khám thờ, 01 đỉnh đồng, tượng Quế Hoa công chúa,… Với những giá trị tiêu biểu trên, đình Thọ Nham Hạ, xã Thọ Vinh, huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên được Bộ trưởng Bộ Văn hóa – Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) xếp hạng là Di tích kiến trúc nghệ thuật quốc gia theo Quyết định số 78/2004/Quyết Định -Bộ Văn Hóa Thông Tin ngày 23/8/2004./. Nguồn Cục di sản văn hóa .

Hưng Yên

5867 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia.

Mở

Chợ tình Khau Vai

Chợ tình Khau Vai

Chợ tình Khau Vai là di tích lịch sử văn hóa do ông Đàm Văn Bông (chủ tịch UBND tỉnh Hà Giang) ký ngày 25-4-2011. Chợ tình Khau Vai hay còn gọi là chợ tình Phong Lưu có lịch sử hơn 90 năm nay, mỗi năm chỉ diễn ra một lần tại bản Khau Vai (xã Khau Vai, huyện Mèo Vạc, Hà Giang). Đó là phiên chợ của những đôi trai gái người Mông, Tày, Nùng, Giáy... yêu nhau nhưng không nên duyên chồng vợ mỗi năm gặp nhau một lần ở Khau Vai. Chợ tình Khau Vai bắt đầu từ đêm 26 và kết thúc vào chiều tối 27-3 âm lịch. Sau này chợ tình Khau Vai còn là nơi hẹn hò của các đôi trai gái, thu hút nhiều du khách trong và ngoài nước. NGUỒN: Truyền thông sự kiện Việt Nam

Tuyên Quang

6499 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Hang Tiên

Hang Tiên

Hang Tiên nằm trong lòng dãy núi đất xen lẫn đá vôi, có rừng cây bao phủ. Hang được hình thành do quá trình kiến tạo địa chất (Karst), đá vôi bị rửa lũa bởi nước mưa len qua hệ thống khe nứt. Hang liên thông với bên ngoài bằng một cửa duy nhất, trong lòng hang có dạng mái vòm, nhũ đá xuất hiện dày đặc ở khắp thành và trần hang, nhiều cột nhũ kéo từ trần hang xuống tới nền hang. Trong lòng hang quá trình tạo nhũ vẫn đang tiếp diễn do nước từ trên mặt đất ngấm qua trần và thành hang nhỏ xuống, kéo dài từ cửa hang vào đến phía trong cửa hang dài gần 200m. Các nhũ đá có rất nhiều hình dáng, kích thước, màu sắc khác nhau như hình sư tử, chim, cá, voi, đầu rồng, đèn lồng, hình dáng của các loại hoa hồng, sen, cúc, đặc biệt có hình dáng nàng thiếu nữ đang ngồi may, vá trang phục… Những nhũ đá này phải trải qua hàng nghìn năm kiến tạo, hình thành. Hang Tiên được bảo tồn nguyên trạng, chưa có sự tác động hoặc xâm hại của con người. Hang Tiên cách Làng Văn hóa du lịch cộng đồng thôn Chì khoảng 500m, cách các Làng Văn hóa du lịch cộng đồng thôn Then và thôn Chang, xã Xuân Giang khoảng từ 3 – 5km. Vị trí phân bố hang Tiên khá thuận lợi cho khách tham quan trải nghiệm, đường lên hang không xa và dễ di chuyển kể cả các lối đi trong lòng hang. Vì vậy, hang Tiên có tiềm năng để khai thác và phát triển du lịch trong tương lai để du khách tham quan, trải nghiệm trong thời gian lưu trú trên địa bàn xã Xuân Giang nói riêng và địa bàn huyện Quang Bình nói chung. NGUỒN: Discover Hà Giang

Tuyên Quang

6592 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Khu vực Hóa thạch Huệ Biển

Khu vực Hóa thạch Huệ Biển

Bộ Văn hóa Thể thao Du lịch đã có công văn số 3087,3088,3089/QĐ-BVHTTDL ngày 23/9 về việc xếp hạng di tích quốc gia cho danh lam thắng cảnh cho khu vực Hóa thạch Huệ Biển tại tỉnh Hà Giang. Là một tỉnh vùng cao biên giới, địa hình đi lại khó khăn, khí hậu tương đối khắc nghiệt nhưng Hà Giang lại được thiên nhiên ban tặng nhiều danh lam thắng cảnh tuyệt đẹp. khu vực Hóa thạch Huệ Biển - danh lam thắng cảnh của tỉnh đã chính thức trở thành Di tích cấp quốc gia. Khu vực Hóa thạch Huệ Biển là một địa điểm nơi có những hóa thạch Huệ Biển được phát hiện lớn hơn những nơi khác, đồng thời cũng có mật độ phân bố dày hơn. Hoa huệ biển tên khoa học là Endoxocrinus parrae, sở dĩ loài hoa này được đặt tên Huệ Biển bởi hình dáng giống hệt một loài hoa bám dưới đáy đại dương. Chúng là nhóm động vật da gai cổ nhất còn tồn tại đến ngày nay, các nhà khoa học đã tìm thấy khoảng 5000 mẫu hoá thạch và hơn 600 loài hiện sống tại khu vực danh thắng này. NGUỒN: TRANG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ HUYỆN MÈO VẠC

Tuyên Quang

6083 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Đình Đồng Hạ

Đình Đồng Hạ

Đình Đồng Hạ nằm trên một thế đất cao ráo, thoáng mát ngay trung tâm của làng, phía trước là ao đình - nơi hội tụ những điều may mắn. Căn cứ vào bia ký niên hiệu Cảnh Trị thứ 4 sắc phong di tích có từ thời Hậu Lê (1783) do nhân dân xã Đức Chiêm xây dựng đã trùng tu lần 1 vào năm Canh Ngọ đời Nguyễn và lần 2 vào năm 1991. Đình Đồng Hạ thờ Lưu Lang đại vương có công cùng Đinh Bộ Lĩnh dẹp yên 12 xứ quân. Đình còn ghi lại nhiều sự kiện lịch sử của địa phương trong thời kỳ cách mạng kháng chiến chống Pháp và Mỹ. Kiến trúc đình được xây dựng theo kiểu chữ Đinh gồm: Đại Bái và Hậu Cung. Đứng từ xa ta có thể nhìn thấy 4 mái của di tích với 4 đầu đao cong vút nhờ một hệ thống kết cấu đặc biệt gọi là tầu đao lá mái. Để tạo nên sự uy linh cho di tích, các nghệ nhân xưa đã đắp nổi hình rồng chầu, phượng mớm và nghê nằm soài chầu nhau. Bờ nóc, bờ dải, bờ guột của đình được trang trí hình ô hoa chanh, đây là đặc điểm nghệ thuật thường xuất hiện ở thế kỷ XVII. Đại Bái có 5 gian 2 dĩ dài thông thủy, mỗi gian rộng 4m, mỗi dĩ rộng 0,7m với tổng diện tích 300m2. Toàn bộ hệ thống cột được làm bằng gỗ lim nguyên cây theo kiểu “thượng thu hạ thách” và đặt trên các tảng đá kê theo kiểu âm dương “dưới vuông trên tròn”. Hai gian giữa có hai bộ vì làm theo kiểu giá chiêng chồng giường và được cách điệu hóa hình hoa văn guột lá, hình đao mác; những đấu kê chạm khắc hình chữ Thọ; các mảng cốn được chạm khắc nổi hình đuôi rồng và nối tiếp với các đầu dư. Các đầu dư thời Lê hình đao hỏa uy nghi, uy quyền. Vì vậy, đứng ở dưới nhìn lên sẽ thấy hình một con rồng nguyên vẹn. Hậu cung gồm 3 gian với kiểu kiến trúc giá chiêng đơn giản bằng gỗ lim. Ở giữa là một ban thờ được bài trí hai ngai thờ Lê, chân ngai quỳ theo kiểu hổ phù. Hai tay ngai cách điệu phượng bay. Bài vị trang trí rồng, hoa chanh... Hiện nay, Đình Đồng Hạ còn lưu giữ được một số hiện vật quý giá như bia lưu lễ ghi niên hiệu Cảnh Trị thứ 4, bia hậu Khải Định thứ 5, kiệu bát cống, long ngai, bài vị, đỉnh, nến đồng, sắc phong... Đình vẫn được bảo quản, giữ gìn tốt, là nơi sinh hoạt văn hóa, tín ngưỡng của nhân dân địa phương. Với những giá trị trên, đình Đồng Hạ, xã Đức Hợp, huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên được Bộ trưởng Bộ Văn hóa – Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) xếp hạng là Di tích kiến trúc nghệ thuật quốc gia theo Quyết định số 78/2004/Quyết Định -Bộ Văn Hóa Thể Thao ngày 23/8/2004./. Nguồn Cục Di Sản Văn Hóa .

Hưng Yên

6065 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia.

Mở

Kỳ Đài Quảng trường 26/3

Kỳ Đài Quảng trường 26/3

Kỳ Đài Quảng trường 26/3, là địa điểm cũ của “Sân Vận Động” Thành phố Hà Giang trước đây. Năm 1959 Kỳ Đài được xây dựng nhằm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt văn hoá, văn nghệ, thể dục thể thao của nhân dân các dân tộc trong tỉnh Hà Giang. Đầu xuân năm 1961 Bác Hồ về thăm tỉnh Hà Giang, vào buổi sáng đẹp trời ngày 27/3 tại Kỳ Đài đã diễn ra sự kiện lịch sử quan trọng, đó là toàn thể cán bộ, chiến sỹ, các lực lượng vũ trang và đồng bào các dân tộc trong tỉnh được gặp Bác Hồ. Kỳ Đài trở thành di tích lịch sử, tại nơi đây, tượng đài Bác Hồ với đồng bào các dân tộc Hà Giang được xây dựng, khánh thành năm 2005, để nhớ mãi sự kiện lịch sử Bác Hồ với Hà Giang. Kỳ Đài đã được trùng tu, Sân Vận Động xưa nay đã được nâng cấp thành Quảng Trường của tỉnh Hà Giang và Kỳ Đài trở thành nơi giáo dục truyền thống cho các thế hệ con em các dân tộc trong tỉnh. NGUỒN: TRANG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ THÀNH PHỐ HÀ GIANG

Tuyên Quang

6321 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Núi Đôi Quản Bạ

Núi Đôi Quản Bạ

Núi đôi Quản Bạ dường như đã là điểm đến quá quen thuộc với các tín đồ yêu du lịch. Nơi đây luôn có sức hấp dẫn lạ kỳ với du khách. Hình ảnh núi đôi Quản Bạ mang đặc trưng rất riêng. Ngọn núi đôi này như một điểm nhấn đặc biệt giữa núi rừng. Hai ngọn núi tọa lạc tại khu vực phía Tây Nam của Cao nguyên đá Đồng Văn. Ngọn núi đôi như một biểu trưng cho sự trù phú của mảnh đất mà chúng đang ngự trị. Núi đôi Quản Bạ còn được biết đến với tên gọi khác là núi đôi hoặc núi Cô Tiên. Chúng đã được hình thành cách đây từ 1,6 triệu đến 2 triệu năm. Ngọn núi với hình dáng tròn trịa, căng đầy như bộ ngực của nàng tiên đang say giấc nồng. Dường như bất kỳ ai đến với Hà Giang cũng đều đến và check-in cùng tuyệt tác thiên nhiên này. Núi đôi Quản Bạ thu hút du khách không chỉ bởi sự độc đáo của hai quả núi. Một điểm nhấn ấn tượng không kém là khung cảnh thiên nhiên giàu đẹp đã bao lấy nơi đây. Tạo hóa đã rất ưu ái khi ban tặng cho nơi đây bức tranh phong cảnh đầy tuyệt vời. Du khách sẽ được ngắm nhìn những thửa ruộng kéo nhau trải dài. Xen lẫn trong đó là các dãy núi nhấp nhô xanh rì. Và vào mỗi thời điểm khác nhau, núi rừng Quản Bạ lại mang đến màu sắc đặc trưng riêng. Chính điều đặc sắc này là điểm nhấn đặc sắc đã níu chân biết bao du khách. Dù đến đây bao lần thì cũng đều có những cảm nhận khác nhau. Có thể nói, núi đôi Quản Bạ như một biểu tượng của Hà Giang. Và nơi này đã được tạo nên từ hàng trăm triệu năm trước. Đây là sản phẩm được tạo thành dựa trên sự kiến tạo của tạo hóa. Cùng với đó là sự đứt gãy của vỏ trái đất đã góp phần tạo nên những dãy núi đá vôi. Núi đôi Quản Bạ đã được công nhận là di tích danh thắng cấp quốc gia của nước ta. Hình ảnh đặc trưng này như một điểm nhấn của vùng đất Hà Giang. Sẽ là điều rất đáng tiếc nếu bạn đến với Hà Giang mà lại bỏ qua điểm đến hấp dẫn này. Phải một lần đến đây và nhìn ngắm trực tiếp thì bạn mới có thể cảm nhận được vẻ đẹp tuyệt vời này. Cổng trời Quản Bạ Hà Giang - Núi đôi được xem là “cửa ngõ” mở ra con đường để chinh phục khu vực cao nguyên đá Đồng Văn. Bạn có thể xem xét và tìm hiểu kỹ để lên một lịch trình trọn vẹn. Điều đó sẽ giúp bạn có một hành trình khám phá đầy trọn vẹn. NGUỒN: Việt Nam Booking

Tuyên Quang

6584 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Ruộng bậc thang Hoàng Su Phì

Ruộng bậc thang Hoàng Su Phì

Là huyện vùng cao núi đất ở phía tây, Hoàng Su Phì từ lâu đã nổi tiếng với những thửa ruộng bậc thang đẹp nhất của Hà Giang, trải dài mênh mông khắp các sườn núi, vốn được coi là minh chứng cho nghị lực phi thường và khả năng cải tạo, chinh phục tự nhiên của cộng đồng các dân tộc nơi đây. Từ sau khi được công nhận là di sản Danh thắng quốc gia vào các năm 2011 và 2016, ruộng bậc thang Hoàng Su Phì ngày càng nổi tiếng, trở thành một trong những sản phẩm du lịch tiêu biểu của Hà Giang nhờ những giá trị lịch sử, văn hóa và cảnh quan giàu tính nghệ thuật. “Điểm khác biệt của Danh thắng ruộng bậc thang Hoàng Su Phì đó là nhiều tầng bậc, uốn lượn trùng điệp và chạy dài từ ven suối lên đỉnh núi. Xen lẫn trong đó là những cánh rừng nguyên sinh, những nương chè cổ thụ, những ngôi nhà và những dòng sông, khe suối, tạo thành bức tranh thiên nhiên hài hòa, nhiều màu sắc Toàn huyện Hoàng Su Phì hiện có trên 3.720 ha ruộng bậc thang trải đều khắp 24 xã, thị trấn, trong đó có 675 ha đã được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xếp hạng Di tích Quốc gia danh lam thắng cảnh Ruộng bậc thang tại 11 xã gồm: Nậm Ty, Thông Nguyên, Hồ Thầu, Bản Luốc, Sán Sả Hồ, Bản Phùng, Thàng Tín, Nậm Khòa, Pố Lồ, Bản Nhùng, Tả Sử Choóng. NGUỒN: CỤC DU LỊCH QUỐC GIA VIỆT NAM

Tuyên Quang

6291 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Hang Nà Luông

Hang Nà Luông

Danh lam thắng cảnh hang Nà Luông, thuộc địa phận xã Mậu Long, huyện Yên Minh và xã Sủng Trái, huyện Đồng Văn (Hà Giang) đã chính thức trở thành Di tích Quốc gia. Thông tin trên đã được Phó Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Hà Giang Triệu Thị Tình xác nhận. Danh lam thắng cảnh hang Nà Luông nằm cách trung tâm thị trấn Yên Minh khoảng hơn 25 km. Đây là hang được các nhà khoa học tìm thấy vào năm 2010 và đã được đánh giá là hang đẹp nhất so với các hang đã từng được phát hiện trên địa bàn tỉnh Hà Giang với cảnh quan thiên nhiên hùng vĩ, mang sắc thái thơ mộng, huyền ảo lung linh. Cửa hang rộng trên 30 mét được che phủ bằng các loại cây gỗ quý hiếm như: nghiến, đinh, lát... Đặc biệt, hang động trong núi đá vôi là một trong những kiểu di sản địa chất rất phổ biến của Công viên Địa chất toàn cầu Cao nguyên đá Đồng Văn. Trải qua hàng nghìn năm kiến tạo đã tạo ra trong hang có rất nhiều cột thạch nhũ với các hình thù kỳ thú, màu sắc lấp lánh như hoa cương; lòng hang rất rộng và sâu được chia thành nhiều ngách ngăn nối tiếp nhau hấp dẫn đông đảo du khách. Theo ông Hoàng Văn Vịnh, Bí thư Huyện ủy Yên Minh, tỉnh Hà Giang: Ngay sau khi được công nhận là danh lam thắng cảnh Di tích Quốc gia, huyện Yên Minh triển khai các đơn vị chức năng bảo vệ hang Nà Luông nhằm giữ nguyên vẻ đẹp nguyên sơ vốn có. Huyện cũng đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động đồng bào dân tộc thiểu số và du khách tham quan không được khai thác nhũ đá trong hang; không săn bắt các loài động vật, các loài chim để bảo vệ môi trường sinh thái. Đồng thời đầu tư, nâng cấp, xây dựng danh lam thắng cảnh hang Nà Luông trở thành một điểm du lịch hấp dẫn cho du khách khi đến với Công viên Địa chất toàn cầu Cao nguyên đá Đồng Văn./. NGUỒN: CỤC DU LỊCH QUỐC GIA VIỆT NAM

Tuyên Quang

6550 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Phố cổ Đồng Văn

Phố cổ Đồng Văn

Theo các nguồn tư liệu của UBND tỉnh Hà Giang, phố cổ Đồng Văn (thuộc thị trấn Đồng Văn, huyện Đồng Văn, Hà Giang) xưa thuộc tổng Đông Quan, châu Nguyên Bình, phủ Tường Yên tỉnh Hà Tuyên. Sau đó tách nhập thuộc châu Bảo Lạc do một thổ quan người Tày họ Nông ở Bảo Lạc cai quản. Khi thực dân Pháp chiếm đóng đã tách Đồng Văn ra khỏi Bảo Lạc. Năm 1887, khu vực Đồng Văn bị thực dân Pháp chiếm giữ và để thuận tiện cho việc cai trị đô hộ, chúng chia Đồng Văn thành các Châu nhỏ, đứng đầu mỗi Châu là một dòng họ thổ ty cai quản. Vùng đất Đồng Văn ngày ấy do thổ ty họ Nguyễn là ông Nguyễn Chấn Quay cai quản. Trước đây khu phố cổ chỉ là một vùng thung lũng hoang sơ, dân cư thưa thớt. Đến cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX khi người Pháp chiếm đóng Hà Giang, với ý định đưa khu vực này trở thành trung tâm giao thương sầm uất nên khu phố cổ Đồng Văn đã được xây dựng và hình thành, người đầu tiên hoạch định và kiến thiết là ông Lương Trung Tú – lý trưởng thị trấn Đồng Văn lúc bấy giờ, sau đó nhiều ngôi nhà cổ lần lượt được xây dựng thành hai dãy nhà bao quanh chợ và kéo dài vào tận chân núi. Ngoài ra, trong phố cổ xưa còn có khu chợ là nơi giao thương của đồng bào các dân tộc. Những ngày chợ phiên, các thiếu nữ Mông, Pu Péo, Lô Lô xúng xính trong những bộ trang phục dân tộc từ các bản làng xa xuống chơi chợ và mua sắm, gặp gỡ, trao đổi hàng hóa thiết yếu... Trải qua bao thăng trầm lịch sử, phố cổ Đồng Văn hiện còn bảo tồn được khoảng 40 ngôi nhà cổ, hầu hết được trình tường 2 tầng, lợp ngói âm dương có tuổi đời trên 100 năm, đặc biệt có những ngôi nhà trên 200 năm đến gần 300 năm tuổi, cùng một số công trình kiến trúc cổ độc đáo khác... Với những giá trị lịch sử, văn hóa và kiến trúc độc đáo, phố cổ Đồng Văn đã được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch công nhận là Di tích Kiến trúc Nghệ thuật cấp Quốc gia theo Quyết định số 4195/QĐ-BVHTTDL ngày 16/11/2009. NGUỒN: Cơ quan Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam

Tuyên Quang

6238 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở