Di tích lịch sử
Việt NamDi tích lịch sử Pháo đài Láng
Nằm trên phố Pháo Đài Láng, phường Láng Thượng, thành phố Hà Nội, Di tích lịch sử Pháo đài Láng là nơi ghi dấu những phát pháo đầu tiên mở màn cuộc Toàn quốc kháng chiến chống thực dân Pháp vào tối ngày 19/12/1946. Đây cũng là nơi lập nên chiến công đầu tiên của Binh chủng Pháo binh Quân đội nhân dân Việt Nam, trở thành một "địa chỉ đỏ" có ý nghĩa đặc biệt trong lịch sử đấu tranh bảo vệ nền độc lập của dân tộc. Pháo đài được thực dân Pháp xây dựng vào năm 1941 trên cánh đồng làng Láng Trung với mục đích phòng thủ Hà Nội. Ban đầu, công trình được trang bị bốn khẩu pháo cao xạ cỡ 75 mm cùng hệ thống đài chỉ huy kiên cố. Sau cuộc đảo chính Pháp của phát xít Nhật năm 1945 và thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám, lực lượng quân giới Việt Nam đã thu thập, sửa chữa và khôi phục các khẩu pháo để phục vụ nhiệm vụ bảo vệ chính quyền cách mạng. Ngày 29/6/1946, đơn vị pháo binh đầu tiên của Quân đội Việt Nam được thành lập. Pháo đài Láng trở thành một trong những trận địa pháo quan trọng bảo vệ Thủ đô, nơi các chiến sĩ pháo binh ngày đêm khẩn trương chuẩn bị cho nhiệm vụ chiến đấu trong bối cảnh tình hình Hà Nội ngày càng căng thẳng. Tối 19/12/1946, sau khi tín hiệu mở đầu cuộc Toàn quốc kháng chiến được phát đi, từ Pháo đài Láng, những loạt pháo đầu tiên đã đồng loạt nã vào các vị trí quân Pháp trong thành Hà Nội. Tiếng pháo vang lên không chỉ mở màn cho cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp mà còn đánh dấu sự ra đời và trưởng thành của Binh chủng Pháo binh Việt Nam. Trong suốt 60 ngày đêm chiến đấu bảo vệ Hà Nội, các chiến sĩ tại Pháo đài Láng đã cùng quân và dân Thủ đô kiên cường chiến đấu, góp phần kìm chân địch, tạo điều kiện để Trung ương Đảng, Chính phủ và các cơ quan đầu não rút lên căn cứ an toàn, chuẩn bị cho cuộc kháng chiến lâu dài. Sau chiến tranh, dấu tích của pháo đài không còn nguyên vẹn do quá trình đô thị hóa. Tuy nhiên, khẩu pháo 75 mm cùng một phần trận địa đã được bảo tồn và tôn tạo trong khuôn viên di tích. Nơi đây còn có phòng trưng bày giới thiệu hình ảnh, tư liệu và hiện vật về lịch sử hình thành của Pháo đài Láng, những ngày đầu Toàn quốc kháng chiến và truyền thống của Binh chủng Pháo binh Quân đội nhân dân Việt Nam. Năm 1986, Pháo đài Láng được thành phố Hà Nội xếp hạng Di tích lịch sử, và đến năm 1992 được Nhà nước công nhận là Di tích lịch sử cấp Quốc gia. Công trình tiếp tục được trùng tu, tôn tạo trong các năm 1994–1995 và 2006, góp phần gìn giữ những giá trị lịch sử quý báu cho các thế hệ mai sau. Ngày nay, Di tích lịch sử Pháo đài Láng là điểm đến ý nghĩa đối với những người yêu lịch sử, đặc biệt là thế hệ trẻ. Không chỉ lưu giữ ký ức về những ngày đầu Toàn quốc kháng chiến, nơi đây còn là biểu tượng của ý chí kiên cường, tinh thần quyết chiến quyết thắng và truyền thống anh hùng của Binh chủng Pháo binh Quân đội nhân dân Việt Nam. Nguồn: Hà Nội Danh thắng và Di tích (tổng hợp)
Hà Nội
854 lượt xem
Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia
Nhà lưu niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Vạn Phúc
Nằm tại phường Vạn Phúc, thành phố Hà Nội, Nhà lưu niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh là nơi Người sống và làm việc từ ngày 3/12 đến ngày 19/12/1946, trước khi ra Lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến. Đây là một trong những di tích lịch sử đặc biệt, ghi dấu thời khắc mở đầu cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp của dân tộc Việt Nam. Ngôi nhà vốn thuộc sở hữu của gia đình cụ Nguyễn Văn Dương, một gia đình có truyền thống yêu nước tại làng lụa Vạn Phúc. Với vị trí thuận lợi, vừa gần Hà Nội, vừa đảm bảo bí mật và an toàn, nơi đây được Trung ương Đảng lựa chọn làm địa điểm ở và làm việc của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong những ngày tình hình đất nước hết sức căng thẳng. Trong thời gian ở Vạn Phúc, ban ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn vào Hà Nội để làm việc với Chính phủ, tiếp các đoàn khách quốc tế và chỉ đạo công việc, còn buổi tối trở về ngôi nhà này để nghiên cứu tình hình, họp với Thường vụ Trung ương Đảng và chuẩn bị những quyết sách quan trọng cho vận mệnh đất nước. Giữa tháng 12/1946, trước những hành động leo thang xâm lược của thực dân Pháp, Trung ương Đảng đã nhiều lần họp tại Vạn Phúc để quyết định chủ trương phát động toàn quốc kháng chiến. Chính tại căn phòng trên tầng hai của ngôi nhà, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã soạn thảo và hoàn thiện Lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến, văn kiện lịch sử mở đầu cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp với lời hiệu triệu bất hủ: "Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ." Tối ngày 19/12/1946, Lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến được phát đi trên Đài Tiếng nói Việt Nam, mở đầu cuộc kháng chiến trường kỳ kéo dài chín năm và đi đến thắng lợi bằng Chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954. Sự kiện này đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong lịch sử dân tộc, thể hiện ý chí kiên cường và khát vọng độc lập, tự do của nhân dân Việt Nam. Gia đình cụ Nguyễn Văn Dương đã tuyệt đối giữ bí mật, tạo mọi điều kiện để Chủ tịch Hồ Chí Minh làm việc an toàn trong suốt thời gian lưu lại. Trước khi rời Vạn Phúc, Người đã cảm ơn gia đình và động viên nhân dân tích cực ủng hộ cuộc kháng chiến, thể hiện niềm tin mãnh liệt vào thắng lợi của dân tộc. Ngày nay, Nhà lưu niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Vạn Phúc vẫn được bảo tồn gần như nguyên vẹn. Tầng hai của ngôi nhà lưu giữ căn phòng làm việc cùng nhiều hiện vật gốc gắn với những ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh sống và làm việc tại đây; tầng một là không gian trưng bày tư liệu, hình ảnh về sự kiện Toàn quốc kháng chiến và truyền thống cách mạng của địa phương. Trong hành trình khám phá Hà Nội, Nhà lưu niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Vạn Phúc là nơi giúp mỗi người thêm hiểu và trân trọng những hy sinh, quyết tâm của dân tộc trong hành trình giành và giữ vững nền độc lập. Nguồn: Hà Nội Danh thắng và Di tích (tổng hợp).
Hà Nội
342 lượt xem
Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia
Di tích lịch sử Bắc Bộ Phủ
Di tích lịch sử Bắc Bộ Phủ Tọa lạc tại số 2 phố Lê Thạch, phường Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội, Bắc Bộ Phủ là một trong những di tích lịch sử đặc biệt gắn liền với những ngày đầu thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Đây là nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chính phủ lâm thời làm việc sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, đồng thời chứng kiến nhiều sự kiện quan trọng trong quá trình xây dựng và bảo vệ chính quyền cách mạng non trẻ. Công trình được người Pháp xây dựng vào năm 1918 theo phong cách kiến trúc Pháp cổ, ban đầu là Phủ Thống sứ Bắc Kỳ – cơ quan hành chính cao nhất của chính quyền thực dân tại Bắc Kỳ. Sau cuộc đảo chính Pháp của phát xít Nhật vào tháng 3/1945, công trình được đổi tên thành Phủ Khâm sai Bắc Kỳ. Ngày 19/8/1945, trong khí thế sục sôi của Cách mạng Tháng Tám, hàng vạn quần chúng từ cuộc mít tinh tại Quảng trường Nhà hát Lớn đã tiến về chiếm Phủ Khâm sai. Sự kiện giành chính quyền tại đây trở thành một trong những dấu mốc tiêu biểu của cuộc Tổng khởi nghĩa ở Hà Nội, góp phần đưa Cách mạng Tháng Tám đến thắng lợi và mở đường cho sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Sau thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám, công trình được đổi tên thành Bắc Bộ Phủ. Từ cuối tháng 8 năm 1945 đến trước ngày Toàn quốc kháng chiến, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng Chính phủ lâm thời đã làm việc tại đây, đưa ra nhiều quyết sách quan trọng về xây dựng bộ máy nhà nước, đối nội, đối ngoại và chuẩn bị cho công cuộc bảo vệ nền độc lập vừa giành được. Đặc biệt, ngày 20/12/1946, Bắc Bộ Phủ trở thành một trong những điểm chiến đấu ác liệt nhất trong những ngày đầu của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Các chiến sĩ Vệ quốc đoàn đã anh dũng chiến đấu bảo vệ cơ quan đầu não của Chính phủ, góp phần mở đầu cuộc kháng chiến trường kỳ của dân tộc. Sau khi Thủ đô được giải phóng năm 1954, công trình được tu sửa và trở thành Nhà khách Chính phủ, tiếp tục phục vụ các hoạt động đối nội, đối ngoại của Nhà nước. Năm 2005, Bắc Bộ Phủ được gắn biển Di tích lịch sử cách mạng, ghi nhận những giá trị đặc biệt về lịch sử và kiến trúc. Không chỉ mang giá trị lịch sử, Bắc Bộ Phủ còn là công trình kiến trúc Pháp tiêu biểu với thiết kế trang nhã, hài hòa cùng không gian hồ Hoàn Kiếm và Quảng trường Cách mạng Tháng Tám. Trải qua hơn một thế kỷ, công trình vẫn lưu giữ nhiều dấu ấn của thời kỳ đầu lập quốc và là chứng nhân của những biến cố quan trọng trong lịch sử dân tộc. Ngày nay, Bắc Bộ Phủ là một trong những "địa chỉ đỏ" tiêu biểu của Thủ đô Hà Nội. Việc bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị của di tích không chỉ góp phần gìn giữ ký ức lịch sử mà còn giúp giáo dục truyền thống yêu nước, tinh thần cách mạng cho các thế hệ hôm nay và mai sau. Đối với du khách yêu lịch sử, Bắc Bộ Phủ là điểm đến ý nghĩa để tìm hiểu về những ngày đầu hình thành Nhà nước Việt Nam hiện đại và hành trình bảo vệ nền độc lập của dân tộc. Nguồn: Báo Tuổi Trẻ
Hà Nội
802 lượt xem
Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia đặc biệt
Nhà số 48 Hàng Ngang
Di tích lịch sử 48 Hàng Ngang – Nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh viết Tuyên ngôn Độc lập Tọa lạc tại số 48 phố Hàng Ngang, phường Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội, ngôi nhà lịch sử 48 Hàng Ngang là nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết bản Tuyên ngôn Độc lập, văn kiện lịch sử khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vào ngày 2/9/1945. Đây là một trong những di tích tiêu biểu gắn liền với cuộc đời và sự nghiệp của Người, đồng thời là "địa chỉ đỏ" có ý nghĩa đặc biệt trong lịch sử cách mạng Việt Nam. Ngôi nhà thuộc sở hữu của vợ chồng doanh nhân yêu nước Trịnh Văn Bô và Hoàng Thị Minh Hồ, những người có nhiều đóng góp cho sự nghiệp cách mạng. Nằm giữa khu phố cổ Hà Nội, thông ra hai mặt phố Hàng Ngang và Hàng Cân, ngôi nhà có vị trí thuận lợi, kiến trúc kiên cố và đảm bảo bí mật, an toàn. Chính vì vậy, từ ngày 25/8 đến 2/9/1945, nơi đây được chọn làm địa điểm ở và làm việc của Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng Ban Thường vụ Trung ương Đảng. Tại tầng hai của ngôi nhà, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chủ trì nhiều cuộc họp quan trọng, quyết định các chủ trương về đối nội, đối ngoại, thành lập Chính phủ lâm thời và chuẩn bị cho Lễ Độc lập. Đặc biệt, chính tại căn phòng này, Người đã hoàn thành bản Tuyên ngôn Độc lập – văn kiện lịch sử tuyên bố trước toàn thế giới về sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Ngày 2/9/1945, tại Quảng trường Ba Đình lịch sử, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trịnh trọng đọc bản Tuyên ngôn Độc lập trước hơn nửa triệu đồng bào, chính thức khai sinh nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á, chấm dứt hàng nghìn năm chế độ phong kiến và gần một thế kỷ đô hộ của thực dân, mở ra kỷ nguyên mới của dân tộc – kỷ nguyên độc lập, tự do và xây dựng đất nước. Hiện nay, tầng một của ngôi nhà là không gian trưng bày nhiều tài liệu, hình ảnh và hiện vật quý liên quan đến Chủ tịch Hồ Chí Minh, Cách mạng Tháng Tám và sự ra đời của bản Tuyên ngôn Độc lập; tầng hai vẫn được gìn giữ gần như nguyên trạng với các hiện vật gốc, giúp du khách hình dung rõ hơn về những ngày lịch sử mùa thu năm 1945. Ngày nay, Di tích lịch sử 48 Hàng Ngang là điểm đến thu hút đông đảo du khách trong nước và quốc tế. Không chỉ mang giá trị lịch sử to lớn, nơi đây còn góp phần giáo dục truyền thống yêu nước, lòng tự hào dân tộc và tinh thần cách mạng cho các thế hệ hôm nay và mai sau. Trong hành trình khám phá Hà Nội, ngôi nhà số 48 Hàng Ngang là điểm dừng chân ý nghĩa để mỗi người hiểu hơn về thời khắc khai sinh nước Việt Nam độc lập và những dấu ấn bất diệt trong lịch sử dân tộc. Nguồn: Ban Quản lý Di tích danh thắng Hà Nội (tổng hợp).
Hà Nội
783 lượt xem
Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia đặc biệt
Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam
Thành lập ngày 17/7/1956 với tên gọi ban đầu là Bảo tàng Quân đội, có địa điểm bên cạnh Cột cờ Hà Nội, mở cửa đón khách tham quan từ ngày 22/12/1959. Trải qua quá trình xây dựng, phát triển và không ngừng lớn mạnh, Bảo tàng được đổi tên thành Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam vào năm 2002 và chính thức đón khách tham quan tại vị trí Đại lộ Thăng Long, Phường Đại Mỗ, Tây Mỗ, Quận Nam Từ Liêm, Thành phố Hà Nội (nay là Phường Xuân Phương, Thành phố Hà Nội) vào tháng 11/2024 . Bảo tàng có chức năng nghiên cứu, sưu tầm, kiểm kê, bảo quản, trưng bày, tuyên truyền giá trị các di sản văn hóa quân sự Việt Nam. Hệ thống trưng bày giới thiệu hàng nghìn hiện vật, được tổ chức, sắp xếp hiện đại, khoa học, phong phú, ứng dụng công nghệ hiện đại và trang thiết bị tiên tiến, phản ánh toàn diện lịch sử đấu tranh chống giặc ngoại xâm, giành độc lập của dân tộc Việt Nam; sự hình thành và phát triển của lực lượng vũ trang nhân dân, nòng cốt là Quân đội nhân dân Việt Nam trong các thời kỳ cách mạng. Thông qua hệ thống trưng bày cũng như các hoạt động giáo dục, Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam góp phần giúp quý khách tham quan hiểu thêm về kho tàng di sản văn hóa quân sự Việt Nam, cảm nhận sự kết nối mạnh mẽ với quá khứ, hiểu thêm về lịch sử hào hùng của dân tộc Việt Nam, trân trọng những giá trị đang có và hướng tới tương lai tươi sáng tốt đẹp hơn.
Hà Nội
1585 lượt xem
Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia
Thám hoa Giang Văn Minh – Sứ giả kiên cường trên mặt trận đối ngoại
Thám hoa Giang Văn Minh – Sứ giả kiên cường trên mặt trận đối ngoại Làng cổ Đường lâm được mệnh danh là vùng đất “Địa linh nhân kiệt ”, nơi sản sinh ra những vị anh hùng dân tộc, danh nhân, khoa bảng, hiền tài. Họ là những người đã có đóng góp xuất sắc cho sự nghiệp dựng nước và giữ nước của dân tộc. Thám hoa Giang Văn Minh - vị sứ thần tài ba là một trong những người con ưu tú ấy của quê hương Đường Lâm. Giang Văn Minh sinh năm 1573 tại Ấp Mông Phụ. Ông thi đỗ Thám hoa khoá Mậu Thìn, đời Vua Lê Thần Tông năm 1628. Khoa thi này không có người đỗ danh hiệu Trạng nguyên hay Bảng nhãn chỉ có danh hiệu Thám hoa. Ông là người học rộng, tài cao, là nhà ngoại giao uyên bác, khảng khái, dũng cảm. Sau một thời gian được Triều đình cử đi trấn thủ ở vùng đất Nghệ An đến năm 1637. Vua Lê cử Thám hoa Giang Văn Minh dẫn đầu đoàn đi sứ Trung Hoa. Trải qua một quãng đường hành trình vất vả, đoàn đi sứ đã đến được Bắc Kinh. Ông và những người tháp tùng phải ở lại dịch xá một thời gian dài. Nhờ vào tài thao lược thông minh nên ông mới được vào yết kiến vua Minh. Khi vào yết kiến, Vua Minh có ý thử tài sứ thần nước Việt nên ra một vế đối: “Đồng trụ chí kim đài dĩ lục” (Dịch nghĩa: Cột đồng đến nay đã phủ kín rêu phong). Vế đối của Vua Minh có ý ngạo mạn, nhắc đến việc Mã Viện xưa sang xâm lược nước ta, sau khi đàn áp cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng đã cho dựng cột đồng khắc 6 chữ “Đồng trụ chiết, Giao Chỉ diệt” (nghĩa là: cột đồng mà gãy thì dân Giao Chỉ diệt vong) như một lời nguyền nhân dân ta. Nghe xong, Thám hoa Giang Văn Minh rất căm giận nhưng ông vẫn bình tĩnh đối lại: “Đằng giang tự cổ huyết do hồng” (Dịch nghĩa: Sông Bạch Đằng từ ngàn xưa máu vẫn còn đỏ). Vế đối đanh thép, tỏ rõ khí phách anh hùng và lòng tự hào dân tộc, nhắc cho Vua Minh nhớ lại ba lần sông Bạch Đằng nhuốm máu quân xâm lược phương Bắc: Chiến thắng quân Nam Hán của Ngô Quyền (năm 938), chiến thắng quân Tống của Lê Đại Hành (năm 981) và chiến thắng quân Nguyên Mông của Trần Hưng Đạo (năm 1288). Tưởng làm nhục được sứ thần nước Việt, ngờ đâu bị Giang Văn Minh làm nhục. Bất chấp luật lệ bang giao, vua Minh đã hèn hạ sai quân lính mổ bụng ông xem “Sứ thần An Nam to gan lớn mật thế nào”. Sau khi giết hại ông, vua Minh lại khen ông là người tiết tháo, bèn sai lấy thủy ngân ướp xác, cho ngậm nhân sâm và cho vào quan tài đóng kín giao cho phái bộ nước Nam chuyển thi hài ông về nước. Được tin Thám hoa Giang Văn Minh chết một cách anh dũng, Vua Lê và Chúa Trịnh vô cùng thương tiếc. Đích thân vua đã về quê ông ở làng Mông Phụ (Đường Lâm) dự lễ an táng và tặng ông mấy chữ: Sứ bất nhục quân mệnh, khả vi thiên cổ anh hùng có nghĩa là “Đi sứ mà chẳng làm nhục mệnh vua, xứng đáng là bậc anh hùng thiên cổ” và truy phong cho ông chức “Công bộ Tả thị lang, tước Vinh quận công”. Hiện nay, ngôi mộ của Thám hoa Giang Văn Minh vẫn được họ tộc chăm chút cẩn thận tại xứ đồng Gò Đống - thôn Mông Phụ, được xây bệ gạch tay ngai, xung quanh có tường hoa bảo vệ. Còn ngôi quán, nơi làm lễ an táng ông, được nhân dân địa phương gọi là quán Giang để ghi nhớ sự tích của vị sứ thần khảng khái đã làm vẻ vang cho đất nước. Năm 1845, nhân dân trong vùng lập nhà thờ Thám hoa Giang Văn Minh để tưởng nhớ công lao của ông. Khu nhà thờ có diện tích khoảng 400 m2, được kiến trúc theo kiểu chữ nhị gồm tiền đường và hậu đường. Các tòa nhà đều xây gạch, lợp ngói cổ; phần mái bằng gỗ bào trơn, đóng bén, không trạm khắc cầu kỳ. Cổng nhà thờ kiểu mặt bia, xây bằng gạch, trên đắp nổi dòng chữ Hán “Giang Thám hoa công từ” (Nhà thờ Công bộ Tả thị lang Thám hoa Giang Văn Minh). Hậu Đường là nơi thờ chính, 3 gian đều có bệ thờ với các đồ thờ được sơn son thếp vàng đẹp đẽ. Trong nhà thờ còn lưu giữ một số di vật quý như: 4 bức hoành phi, 20 đôi câu đối chữ Hán (10 đôi viết trên gỗ sơn son thếp vàng, 10 đôi viết trên cột tường), 3 tấm bia đá. Nhà thờ Thám hoa Giang Văn Minh được xếp hạng Di tích lịch sử văn hóa cấp Quốc gia năm 1991, là nơi linh thiêng ghi công trạng của Thám hoa và cũng là nơi giáo dục truyền thống yêu nước cho thế hệ trẻ. Tại nhà thờ này, ngoài là nơi tôn vinh tri ân công đức của Thám hoa cũng là nơi tôn thờ, vinh danh nhiều vị họ Giang quá cố qua các thời kỳ đã đỗ khoa bảng được bổ nhiệm làm quan lại và giữ các vị trí quan trọng có nhiều công lao lớn cho các triều đại phong kiến. Lần gần đây nhất Nhà thờ đã được tu sửa tổng thể bằng nguồn vốn của Nhà nước, công trình được thi công hoàn thành dưới sự giúp đỡ về kỹ thuật của các chuyên gia và tình nguyện viên thuộc cơ quan hợp tác quốc tế Nhật Bản tại Việt Nam (JICA), công trình tu bổ này cũng vinh dự được nhận giải thưởng về kỹ thuật thi công chất liệu gỗ của Ủy ban UNESCO Châu Á – Thái Bình Dương trao tặng vào năm 2013. Ngày lễ tưởng niệm ngày mất của Sứ thần, ngoài những phần nghi thức trang nghiêm, thành kính về sự hy sinh cao cả của ông, thì dòng họ còn tổ chức buổi lễ khuyến học nhằm tôn vinh và động viên các con cháu họ Giang đỗ đạt và giành các giải cao thuộc các cấp học. Nằm ở vị trí trung tâm làng cổ Mông Phụ gần với đình làng và UBND xã, hiện nay nhà thờ họ Giang đang là điểm tham quan thu hút đông đảo du khách trong và ngoài nước.
Hà Nội
2523 lượt xem
Xếp hạng : Đang cập nhật
GIẾNG CỔ ĐÁ ONG Ở ĐƯỜNG LÂM
GIẾNG CỔ ĐÁ ONG Ở ĐƯỜNG LÂM Trong hệ thống tổ chức làng xã tại Việt Nam, nhất là ở khu vực đồng bằng Bắc Bộ, giếng cổ đã trở thành một công trình thiết yếu, gắn bó hữu cơ mật thiết với cộng đồng dân cư có đời sống chính là sản xuất nông nghiệp. Cùng với hình bóng của cây đa cổ thụ, khoảng sân đình hút gió thoáng đãng, giếng làng và hình ảnh giá trị của nó đã ăn sâu vào ký ức của mọi người, mọi nhà. Giếng là một người bạn không thể thiếu tại mỗi công trình tâm linh của đình làng. “Bộ ba di sản văn hóa” này luôn được nhân dân đặt ở những vị trí thuận lợi giúp cho việc quy tụ, tập hợp mọi người trong làng một cách dễ dàng. Vùng đồng bằng Bắc Bộ có nhiều ngôi làng gắn liền với đó là những giếng cổ. Nhắc đến những địa danh ấy, người ta không thể không nhắc đến Làng cổ ở Đường Lâm (Sơn Tây, Hà Nội). Ở đó, ngoài những công trình giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể nổi tiếng quý báu trong đó có những giếng cổ đá ong nổi tiếng một thời, luôn tạo ra những ký ức không thể nhạt phai của các thế hệ dân làng, những kỷ niệm vui buồn, niềm kiêu hãnh, tự hào về quê hương, xứ sở địa linh nhân kiệt cổ kính. Giếng đá ong ở Làng cổ Đường Lâm được phân bố ở khắp mọi nơi: nơi tín ngưỡng tâm linh (đình, đền, chùa, miếu, nhà thờ), nơi ở của các hộ gia đình. Tùy từng vị trí mà người ta thăm dò và cho đào giếng. Các mạch nước được phun qua những vỉa đá ong tạo độ trong, sạch, mát, lược bỏ được các tạp chất gây hại. Những viên đá ong được đào lên từ lòng đất, đào đến đâu thì đá cứng đến đó (không vỡ hay bị méo hình tròn của giếng khi những thớ đất đã đào xong). Chính vì thế, đào giếng ở Đường Lâm không phải kè thành, xây tang giếng tròn sẵn rồi thả xuống gắn kết vít mạch (như các vùng chiêm trũng hay trung du Bắc Bộ). Giếng của đình hay chỗ tâm linh thường rộng từ 3 – 5m, sâu 7 – 10m; miệng giếng được đặt những viên đá ong to nguyên khối hoặc từng tảng ghép lại vừa bền, chắc, sạch. Giếng tại gia đình thì có đường kính nhỏ hơn, chỉ từ 1,2 – 1,5m, độ sâu cũng tùy thuộc 5 – 7 – 9m. Giếng ở nơi công cộng như: đầu làng, xóm thì không có gầu múc, ai muốn sử dụng phải mang theo gầu. Giếng tại gia đình lúc chưa có tời kéo thì người ta phải dùng sức người kéo gầu (cũng mất nhiều sức). Sau này, khi có các ròng rọc dây cáp mềm thì nước được múc với năng suất cao hơn, mà người dân lại đỡ tốn sức. Giếng xuất hiện ở nơi công cộng hay di tích thường được đặt tên gắn với địa điểm này như: giếng Đình, giếng Đồng, giếng Chùa. Giếng khơi, có một số tên giếng gắn với các xóm như: ở thôn Mông Phụ có giếng xóm Đình, xóm Sui, xóm Sải, xóm Giang. Riêng giếng ở hai bên ngách đình Mông Phụ được ví như hai mắt rồng thiêng, giếng xóm Giang nổi tiếng là trong mát, pha chè ngon, uống ngọt “Nước giếng xóm Giang, khoai lang đồng Bường”. Giếng nằm ở trước cửa đình, chùa, miếu làm minh đường cho di tích theo thuyết phong thủy của đạo Nho, xung quanh thường được trồng một số cây cổ thụ như: đa, gạo, muỗm. Xung quanh tang giếng hình tròn, phần nhô lên mặt đất, trải qua thời gian, mặt đá ong phủ bóng rêu phong cũng là môi trường tốt để cho loài cây dây leo có tên là cỏ bíu (cây vẩy ốc, vẩy rồng) phát triển, tạo ra hệ thống thân rễ chằng chịt, bám chắc vào mặt tường đá ong. Có những giếng xưa đào hình vuông (tượng trưng cho đất mẹ luôn nuôi nấng, thương yêu đàn con và in bóng những công trình cổ) và giếng hình tròn (giống hình mặt trời) có ý nghĩa ngày ngày luôn soi rọi ánh dương tỏa chiếu hòa khí âm dương. Việc đào giếng được người dân trong làng xem xét, bàn bạc rất kỹ, như phải xem vị trí địa lý, phong thủy nơi đặt thấu đáo để chọn được mạch nước trong mát, ngọt ngào, không đục, không hôi, không mặn; mạch nước phải đảm bảo tuôn chảy quanh năm, suốt tháng. Đầu năm, người ta có phong tục tát giếng để tiếp nhận sinh khí, thịnh vượng mới và cũng vào sáng sớm mồng 1 Tết, nhiều nhà ra giếng làng gánh nước đổ đầy các bể, chum, vại, thùng dự trữ để hy vọng vào một năm gia đình, dòng họ có thật nhiều phúc đức, đại lộc, vì theo phong tục tín ngưỡng của làng thì giếng làng là nơi sâu nhất, nơi hội tụ, chứa đựng sức sống, tài lộc (mạch nước ngầm chảy mãi). Theo tâm sự của nhiều cụ già thì lòng giếng là tấm lòng của con người , của dân làng, cũng như bản chất là: con người bao dung, nhân ái, giếng làng không chất chứa thù hận với những gì đã trải qua. Ở làng cổ còn có một giếng cổ vô cùng nổi tiếng và đã đi vào huyền thoại của biết bao thế hệ dân làng và những vùng lân cận, đó là giếng Sữa hay còn gọi là giếng Chuông Sa ở thôn Cam Lâm, gần khu vực đền – lăng thờ Vua Ngô Quyền. Đó là một giếng nhỏ và nông, đường kính rộng 0,7 – 0,8m, sâu hơn 1m, lòng giếng được kè bằng những viên gạch đá ong. Nước trong giếng Sữa có vị ngọt mát lành hết sức đặc biệt. Nước trong vắt bốn mùa và có thể nhìn thấu đáy. Nói đến giếng Sữa là người ta hồi tưởng đến một câu chuyện truyền thuyết rất ly kỳ về một em bé mới chào đời bị bỏ rơi và một bà lão có tấm lòng nhân hậu, bao dung. Khi gặp em bé này, bà bế đứa trẻ với tiếng khóc như xé lòng, đang nhớ về dòng sữa mẹ. Hai bà cháu đi tìm nhà dân ven đường để xin nước và đi mãi cũng không thấy bóng nhà, bóng người. Tới một thung lũng dưới chân đồi Cấm, hai bà cháu tìm được một mạch nước róc rách chảy từ hang đá, bé đã được bà mớm cho miếng nước trong, bé ngưng khóc và ngủ ngon trên tay bà. Từ ấy, bà dựng lều tại đây nuôi cháu. Khi bà mất, người dân trong vùng lập miếu thờ bà, người ta gọi là Miếu Mẹ bên mạch nước thiêng gọi là giếng Sữa. Khi vào mùa khô, tất cả giếng làng, giếng nhà đều cạn nước thì mạch nước giếng sữa vẫn đầy tràn, dân làng đã đến xin nước ở đây về ăn, uống, sinh hoạt. Ngày nay, giếng Sữa còn được nhiều người mẹ đang thời cho con bú biết đến với phép màu, kỳ lạ đó là mỗi khi người mẹ chảng may bị mất sữa thì nhờ người thân đến đây làm lễ và xin nước mang về uống, ắt nguồn sữa của các bà mẹ lại được hồi phục kỳ lạ. Lối xuống xóm Sải (thôn Mông Phụ) có giếng cổ gần nhà thờ họ Hà, phía trước có một bia đá khắc 4 chữ Hán cổ “Nhất phiến băng tâm”, bia nằm trên lưng một con rùa, và ghi niên đại 1933. Hay giếng Nghè ở thôn Cam Lâm (Nước giếng Nghè, chè Cam Lâm Nước giếng Giang, khoai lang đồng Bường) Đây là hai giếng nổi tiếng là trong, sạch, mát, uống ngon, ngọt Giếng đá ong ở Làng cổ tuy không còn nhiều và được sử dụng thường xuyên nhưng vẫn còn đó các giếng cổ ở những điểm tâm linh tín ngưỡng quý giá và một số khuôn viên các nhà cổ, gia đình truyền thống. Một số giếng còn được nhân dân làm cây hương thờ cúng. Giếng trong các gia đình vẫn được bơm lên sử dụng hàng ngày (tuy không còn nhô lên mặt đất để lộ cái tang giếng tròn bằng đá ong, do muốn tiết kiệm diện tích nên giếng vẫn còn nằm chìm, được che đậy bằng nắp bê tông, lấy nước lên bằng đường ống máy bơm hút chân không). Tuy không có những giếng mới được đào nhưng mỗi lần về thăm di sản văn hóa Làng cổ ở Đường Lâm, nhất là vào dịp mùa hè, thu, sau khi có chuyến tham quan quanh làng, lưu chân tại nhà cổ, không ai có thể bỏ qua phút giây cảm nhận nguồn nước giếng đá ong trong mát từ những chum nước do gia chủ để sẵn phục vụ du khách (rửa mặt mũi, tay chân, thậm chí là uống một ngụm nước giếng đá ong). Chắc chắn du khách sẽ cảm nhận được vị ngọt ngào, mộc mạc, cao quý của mạch nước trong mát, mãi tuôn chảy giống như truyền thống cần cù, hiếu khách, chịu thương, chịu khó của người dân quê hương.
Hà Nội
491 lượt xem
Xếp hạng : Đang cập nhật
Bảo tồn “giếng sữa” ở Đường Lâm
Bảo tồn “giếng sữa” ở Đường Lâm Trong không gian văn hóa Làng cổ ở Đường Lâm, giếng làng là bộ phận không thể thiếu của di sản văn hóa vật thể, tạo nên nét đặc sắc rất riêng trong đời sống người dân nơi đây. “Giếng sữa” ở thôn Cam Lâm xã Đường Lâm được nhiều người biết đến bởi đây là chiếc giếng thiêng, đã mang lại điều kì diệu cho những người phụ nữ đang nuôi con nhỏ bị tắc sữa hoặc mất sữa. “Giếng sữa” là cách gọi dân gian, còn người dân nơi đây vẫn gọi là giếng Chuông Sa. Tương truyền, vào thời loạn lạc, khi nơi đây vẫn là vùng núi hoang sơ không bóng người, một em bé mới chào đời bị bỏ rơi khát sữa khóc ngằn ngặt dưới chân đồi. Một bà lão đi ngang qua chứng kiến nhưng không biết làm thế nào để cháu bé nín. Bà chỉ biết bế cháu bé trên tay đi dọc đường với hy vọng tìm được nhà dân để xin nước. Đi mãi cũng không thấy bóng người, tới một thung lũng dưới chân đồi Cấm, bà thấy một mạch nước róc rách chảy từ trong hang đá bèn mớm miếng nước cho cháu bé uống. Đứa bé bỗng nhiên ngừng khóc và thiếp ngủ trên tay bà. Từ đó, bà dựng lều ở tại đây nuôi đứa trẻ. Khi mất, người dân trong vùng lập miếu thờ bà và gọi là “miếu mẹ” bên mạch nước thiêng gọi là “giếng sữa”. Mạch nước sau đó trở nên thiêng liêng và được nhiều người biết đến. Khi vào mùa khô, tất cả giếng làng đều bị cạn trơ đáy thì thấy mạch nước vẫn đầy ăm ắp, trong vắt. Họ cùng nhau ra gánh nước về ăn, càng lấy nước càng trong càng đầy. Giếng Chuông Sa nằm dưới chân núi Cấm. Tương truyền đây là vùng đất của vua Ngô Quyền nên không ai dám làm nhà trên đất của vua, vì vậy nơi này vẫn còn nguyên vẹn sự cổ kính, rậm rạp. Giếng sữa nằm cạnh con đường mòn dưới chân đồi Nghẽn và núi Cấm thuộc thôn Cam Lâm. Để đến được “giếng sữa” phải đi qua đền thờ Phùng Hưng và lăng Ngô Quyền. Cách vài trăm mét từ Lăng Ngô Quyền theo hướng Nam, vào sâu con đường đất đỏ sẽ bắt gặp “giếng sữa”. Trên thực tế, chiếc “giếng thiêng” này cũng không khác gì những chiếc giếng cổ ở những vùng quê khác. Đó là một giếng nhỏ và nông, khẩu giếng khá hẹp với đường kính rộng ước chừng 70 - 80cm, sâu hơn 1m, lòng giếng được kè bằng đá ong. Đặc biệt, nước trong “giếng sữa” có vị ngọt mát lành hết sức đặc biệt. Nước trong vắt suốt bốn mùa và có thể nhìn thấu đáy có một tảng đá ong cổ đã bạc màu. Ngày nay “giếng sữa” thôn Cam Lâm được nhiều người biết đến bởi nước giếng có khả năng chữa được bệnh mất sữa cho sản phụ mới sinh. Người tới xin sữa chỉ cần thành tâm đọc rõ tên tuổi, địa chỉ bố mẹ và cháu bé thiếu sữa kèm theo thẻ hương trái oản và vài đồng tiền lẻ. Ông bố thì để lại 7 đồng, bà mẹ thì để lại 9 đồng tiền lẻ tại miếu và ra giếng tự tay múc nước cho vào chai. Lễ sau khi cúng không ai được mang về. Các bậc cao niên trong làng chia sẻ: mọi người tuân thủ qui ước này với suy nghĩ rằng lộc được thụ hưởng sau khi làm lễ phải được “tán” cho lũ trẻ quanh vùng. Có như vậy, lời nguyện cầu của họ mới được linh ứng. Nước xin ở “giếng sữa” mang về rót một lần ra cốc cho sản phụ uống hết không được đổ bỏ. Số còn lại mang đi nấu cháo hoặc đun lên cho sản phụ dùng. Một hai ngày sau, sữa mẹ sẽ về. Chuyện giếng Chuông Sa giúp sản phụ có sữa khiến nhiều người về thăm Đường Lâm đều tò mò và muốn đến tận nơi chiêm ngưỡng di tích này. Có thể vì điều này mà bất cứ ai đứng trước chiếc giếng cổ ở Cam Lâm đều có cảm giác khác hẳn với những giếng khác ở làng cổ Đường Lâm. Trong khung cảnh âm u, tĩnh mịch, mỗi người đều tự ý thức cần nói năng nhẹ nhàng nơi bờ giếng. Trong quần thể di tích ở vùng đất hai vua, giếng Chuông Sa như là một bảo vật của làng. Những giọt nước mát lành từ chiếc “giếng sữa” này đã đem lại sự bình yên trong tâm hồn của những người mẹ trẻ, giúp họ cân bằng cuộc sống và ở góc độ nào đó, đã đạt được ước nguyện của mình. Với người dân Đường Lâm, giếng làng lại là bộ phận không thể thiếu của di sản văn hóa vật thể của làng cổ, tạo nên nét đặc sắc rất riêng trong đời sống người dân nơi đây. Thiết nghĩ, việc gìn giữ và bảo tồn hình ảnh những chiếc giếng cổ sẽ làm tăng thêm giá trị di sản của ngôi làng Việt cổ Đường Lâm. Điều này đòi hỏi quyết tâm cùng sự chung tay nỗ lực của người dân cùng chính quyền địa phương để giếng cổ - nét độc đáo của văn hóa Đoài sẽ tồn tại mãi với thời gian.
Hà Nội
2466 lượt xem
Xếp hạng : Đang cập nhật
Nét độc đáo kiến trúc nhà cổ ở Đường Lâm
Nét độc đáo kiến trúc nhà cổ ở Đường Lâm Đến thăm quần thể di tích làng cổ ở Đường Lâm, ngoài việc được chiêm ngưỡng tìm hiểu các loại hình di tích lịch sử văn hóa kiến trúc nghệ thuật quý báu như: đình, đền, chùa, miếu, lăng, quán, điếm, văn chỉ, võ chỉ…, hòa mình trong các lễ hội làng linh thiêng, rộn rã hay thưởng thức các món ăn văn hóa ẩm thực độc đáo thì du khách còn không thể bỏ qua việc đến tham quan các ngôi nhà cổ tiêu biểu đang tồn tại trong ngôi làng cổ tiêu biểu của vùng đồng bằng Bắc Bộ này. Nhà cổ ở Đường Lâm được xây cất bằng các loại truyền thống đặc trưng của vùng xứ Đoài bao gồm đá ong, gỗ, tre, nứa, rơm rạ, bùn non, đất sét mịn, mùn cưa, trấu, gạch nung các loại. Đá ong là loại vật liệu chính để xây các bước tường, đầu hồi, cổng hay tường rào, ngoài dùng để xây nhà ở, loại đá ong này còn được dùng để xây các công trình công cộng, văn hóa tín ngưỡng như: cổng làng, đình, chùa, miếu, điếm, quán, giếng cổ… Với đặc điểm là nhà xây xong bảo đảm khí hậu thông thoáng, ấm áp về mùa đông, mát mẻ về mùa hạ, chính vì thế người ta còn gọi ngôi làng này là “làng Việt cổ đá ong”. Gỗ để làm nhà nếu xưa là nhà có kinh tế, vai vế trong làng thì họ cất bằng loại tứ thiết (đinh, lim, sến , táu). Còn thông thường những nhà có kinh tế vừa phải thì làm bằng gỗ xoan là chính. Xoan được trồng ở gò đồi. Tre, vầu cũng được trồng ở gần rạch, mương, rãnh; thường là loại tre gai già, không gãy ngọn. Gỗ xoan – tre thường được ngân dưới đáy ao hồ thành bè, nơi đáy ao hồ có nhiều bùn nhằm chống lại sự gặm nhấm xâm hại của mọt. Việc ngâm thường diễn ra càng lâu càng tốt, 6 – 8 tháng hay 1 năm, lúc vớt lên bóc vỏ xoan để phơi chúng ra nắng ráo cùng với tre nó bốc mùi rất khó chịu mới được coi là ngâm kỹ bảo đảm. Mái nhà được lợp bằng các loại ngói như mũi ri, mũi hài, vảy cá, thông thường là người ta lợp một lớp ngói lót trước (còn gọi là gạch lót) và lợp từ dưới giọt gianh lợp lên. Loại ngói này xưa thường được mua qua thuyền bè chở ngược sông Hồng từ các địa phận làm gốm nổi tiếng như: Bát Tràng (Hà Nội), Chu Đậu (Hải Dương), Giếng Đáy (Đông Triều – Quảng Ninh), Phù Lãng (Bắc Ninh). Các loại vật liệu như tre được làm đòn tay dui mè, cũng có nhà làm bằng gỗ xoan, hay gỗ pha từ các tấm lớn. Đinh chốt các điểm mấu quan trọng cũng làm bằng cột tre già, phía mặt đằng trước nhà trên cùng giáp cửa là hàng con tiện có thể làm vuông, tròn… Nhà cổ thường quay mặt về hướng Nam, thiết kế theo kiểu 5 gian 2 dĩ, hay 7 gian 2 dĩ, được bố trí nhiều cửa quay vào trong. Cửa được làm chủ yếu 2 loại là bức bàn và cảnh phố. Loại kiểu bức bàn tạo cảnh tiện lợi khi nhà có việc lớn cần không gian thì gia chủ thường nhấc ra cho rộng rãi thêm và đặt cửa xuống làm phản ngồi, ăn cỗ. Nhà được bố trí 5 – 7 hàng chân, 2 cột cái và cái cột quân. Mỗi cột được đứng trên bệ kê đá xanh, phía giáp đất có hình vuông, phía đỡ cột có hình tròn (tượng trưng cho tư duy của người Á Đông – trời tròn đất vuông). Một số nhà cổ nhìn lên trần nhà cái dui, mè, đòn tay và kèo, xà nóc hay ngả màu, bồ hóng đen ấy là do xưa kia các nhà thường đốt lửa bằng bếp củi để sưởi ấm cho mùa đông, nhất là những dịp có người sinh nở, hay cụ già yếu, ốm… Nền nhà thường sử dụng chính là nền đất được nện, đầm cho chắc chắn. Một số nhà dùng sỉ vôi sau đó họ chặt đôi những hạt trám đóng xuống nền theo các ô hình tứ giác, bình hành, ngách cửa để thông cách ô cho thoáng nhà, cũng như dễ quan sát phòng bị khi có kẻ trộm (nhìn thấy chân của chúng) muốn đột nhập vào nhà. Gian giữa là nơi đặt các ban thờ người cao nhất trong 3 đời, 2 gian bên cạnh cũng đặt các ban thờ người quá cố trong dòng họ xếp theo thứ bậc (nếu là vị trưởng họ). Ban thờ có thể có nhiều bát hương và nhân vật hơn dưới bàn thờ các bộ sập hay phản bằng gỗ lim loại to bản, dày, 2 gian trái phải thường được kê các bộ trường kỷ: 1 bàn 2 ghế dài để tiếp khách bằng ấm trà pha chè xanh, thường là tích nước ủ vào hũ kèm 6 cái bát xứ nâu xỉn, bình vôi, ăn trầu, cái điếu bát, ống đựng đóm. Phía dưới bàn là một vài thứ như cơi trầu, chén phụ, ấm pha trà tàu (chè búp khô), bình đựng vôi nhỏ, điếu bát hay một thùng gỗ nhỏ dựng chiếc điếu cày được làm bằng dóng tre giữ lại cái mấu. Hai gian buồng dành cho con gái hoặc con dâu, ngoài ra cũng là kho đựng thóc, nồi niêu, bát đũa, hòm rương nhỏ. Ngoài hiên nhà có đặt 1 hay 2 chõng tre (một vài nhà hiện còn giữ chiếc hòm gian kê ngay dưới bàn thờ chính). Hòm này xưa đựng 1 vài thứ quý, tư trang dụng cụ đắt tiền, nông sản giống (thóc nếp, tẻ, lạc đỗ…) tránh được chuột bọ xâm nhập. Các công trình khác liên quan đến nhà cổ cũng không thể không kể đến là nhà ngang, bếp, giếng nước, sân, vườn, bình phong, chuồng trại nuôi gia súc gia cầm, cổng vào, cây hương. Trong đó, bình phong và cây hương cũng có vai trò tâm linh quan trọng trong gia đình. Bình phong đắp ở bờ tường, đối diện gian thờ - cửa chính, có thể bằng khảm trai hai vỏ trứng, đồ sành sứ nổi men ngọc bóng. Cây hương được xây ở góc sân hay chếch với gian đầu, cuối nhà, giếng nước đá ong xưa cũng có vai trò không nhỏ trong sinh hoạt của gia đình và chăn nuôi gia súc, gia cầm. Giếng được đào khá sâu. Ở những thôn có vị trí cao như Mông Phụ, Cam Lâm, mạch nước được thẩm thấu qua các vỉa đá ong nên đã khử lọc được các tạp chất độc hại, đạt độ trong sạch, không gây hại cho sức khỏe của con người. Việc lấy nước từ giếng lên cũng trải qua nhiều thời kỳ, bằng các dụng cụ khác nhau (vì giếng phải đào sâu). Lúc đầu, người dân dùng gầu và dây thừng múc từng gầu. Sau cải tiến, dùng tời quay bằng dây cáp bôi mỡ công nghiệp (loại dây nhỏ). Lúc này, gầu được thiết kế to và cong suất vì thế cũng tăng lên, không hao tổn sức người nhiều như trước nữa. Rồi khi có điện và khoa học phát triển tiến bộ, mọi nhà dùng máy bơm hút chân không, xây bể lọc nên nước được dự trữ, tách lọc qua cát sỏi hay than hoạt tính, càng bảo đảm hơn. Ngày nay, tuy đã có hệ thống nước máy bao phủ nhưng nhiều gia đình vẫn còn giữ lại giếng đá ong nhưng là giếng chìm (không để nhô tang giếng lên bề mặt để tiết kiệm diện tích và thay thế bằng nắp bê tông kiên cố phủ kín bề mặt). Giếng nước vẫn được sử dụng, là nguyên liệu quý để làm tương, pha trà… Riêng cổng được làm 2 mái, lập ngói vẩy cá, có hai cách quay vào trong, mỗi cách có 1 tay nắm hình trọn được chế tác bằng gỗ mộc. Trong nhà cổ mỗi gia đình còn lưu giữ được nhiều hiện vật quý như: gia phả, tài liệu Hán Nôm, đồ thờ, hiện vật liên quan đến cuộc sống sinh hoạt của mỗi thành viên như: đám cưới xưa, trang phục, tranh ảnh, dụng cụ sản xuất. Đặc biệt trên mái nhà hầu như nhà nào cũng có thước lỗ ban gác trang trọng ở gian giữa, ngoài vườn luôn xanh mát 4 mùa bởi những cây ăn trái lâu năm mùa nào thức ấy như lựu, doi, hồng xiêm, ổi, mít, bưởi, chanh, nhãn, vải, chuối… Nhiều nhà rộng hơn còn có cả ao, góc sân có để một số chum vại sành để ủ tương bần. Những chum tương ấy được ví như cái “tủ lạnh” quý khi xưa sau mỗi ngày gia chủ có sự kiện như tiệc, giỗ, cưới, chay. Họ thường ủ vào đó những khẩu thịt lợn luộc gần chín tới (khi không dùng hết) hay những quả cà bát. Lúc mang ra ăn chất lượng của nó càng ngon và hấp dẫn hơn. Những quả cà bát to ủ trong đó ngấm thấu hết những cái ngon tinh túy của tương bần, gắp ra xé phay nó ngả màu hổ phách, thêm vào tý dấm, đường, tỏi là ăn thay thức ăn được. Các dòng họ trong làng cổ thường hẹn nhau xum họp ngày chạp tổ, thông thường nó diễn ra vào dịp cuối năm, hay Tết đến xuân về, hội đình làng hay Tết Thanh minh. Ở Đường Lâm có những họ nổi tiếng như họ Phan, Hà, Giang, Đỗ, Kiều, Cao. Người trong khu vực làng cổ thường có quan hệ khăng khít với nhau. Họ thường dùng tên con trưởng (con trai đầu) để gọi thay tên cho bố mẹ đẻ, nhà ai có người mất phải có lệ mời anh em họ hàng đến thăm viếng, và viếng xong phải ra mâm ăn cơm chia buồn với gia đình. Bà cụ cao tuổi trong nhà còn được gọi là “gổ”. Mỗi di tích trong làng thường cử ra một người có uy tín trông coi còn gọi là cụ từ. Cụ này phải là người có uy tín trong làng (con cháu nếp tẻ đầy đủ, gia đình gương mẫu, không ai vi phạm pháp luật hay tệ nạn xã hội). Ông chủ tế của đình – đền phải là người có đủ tiêu chuẩn trên, nếu đang làm nhiệm vụ mà cụ từ có anh em trong 3 đời mất (người ta gọi là có cớ, có bụi) phải dừng và trả lại nhiệm vụ cho làng ngay. Bữa tiệc của đình, làng, xóm hay họ, gia đình thường phải có đủ các món như xôi, thịt gà trống, chè kho, bánh gai… Riêng ở làng Đông Sàng có tiếng là nơi nấu cỗ ngon, bày trang trí mâm cỗ đẹp. Những sản vật trong làng thì có vừng trồng ở Lồ Cang, khoai lang Đồng Bường, kẹo lạc dồi ở Đông Sàng, gà Mía, bánh rán nước, xôi đồ chim ngói mùa tháng 9 âm lịch, cá kho tương, tương bần làng Mông Phụ… Nhà cổ thường chia quyền sở hữu cho các cho các con trai trong nhà tùy theo nhà có từ 2, 3 hay 4…Có những nhà chỉ có duy nhất một anh con trai, còn lại toàn các chị em gái thì vai trò của anh này càng lớn. Các cháu nội ngoại dù đông bao nhiêu nhưng vai trò của cháu nội, là nam luôn được chú ý đề cao và nhấn mạnh. Nên một trong những người này muốn lấy lại phải thương thảo với những người kia (do bố mất để lại di chúc) nên một số nhà cổ hiện nay mặc dù chỉ có một gia đình ở nhưng lại là quyền sở hữu của vài người anh em ruột. Mỗi ngôi nhà lại có những nét kiến trúc cổ, lối bố trí không gian trong và ngoài khác nhau như: nhà ông Nguyễn Văn Hùng khác nhà ông Hà Hữu Thể, nhà bà Lan khác với nhà ông Hà Nguyên Huyến, nhà ông Hà Vĩnh, nhà ông Nguyễn Văn Vững, dáng dấp cả phương Đông lẫn Tây Âu (Pháp), kiến trúc nội tự ngoại khách…Trong vườn nhà khi chưa phải chia cho các con là lúc lập gia đình, sinh con thì đó cũng là môi trường tốt để cho gia đình trồng các loại cây hoa, ăn quả như: xoài, nhãn, ổi, mít, chuối, na, thị, vải, lựu, bưởi, khế, quất….Các loại hoa như: mộc, giấy, đỗ quyên, quỳnh, nhài, ngâu, sói,…các loại gia vị như: hành, tỏi, ớt, hẹ, gừng, giềng,….tạo màu sắc xanh tươi, mùi thơm bốn mùa trong không gian nhà cổ như: dịp đông xuân là mùi thơm thoang thoảng, dịu ngọt của hoa mộc, đầu thu là mùi quả thị, hương lá nếp, mùa hè là sắc đỏ của những chùm vải, chùm quất đen bóng dưới cái nắng đặc trưng của vùng xứ Đoài ấp cổ. Trong số lượng nhà cổ 97 cái còn tồn tại ở di tích làng cổ thì có 2 thôn là có số lượng nhà cổ nhiều nhất là Mông Phụ và Đông Sàng. Một số hộ gia đình đang sở hữu nhà cổ đã biết tận dụng lợi thế để khai thác đón khách tham quan, tạo ra các sản phẩm dịch vụ phục vụ nhu cầu của khách trong và ngoài nước đã mang lại kết quả khá cao. Họ giữ nguyên hiện trạng không gian cổ kính, hình thành các khu dịch vụ ra bên cạnh nhưng cách lắp ghép, xây dựng cũng phù hợp với cảnh quan chung, tự sưu tầm bổ sung những hiện vật có niên đại liên quan đến phong tục, tín ngưỡng tập quán để trưng bày trong không gian nhà cổ. Điều đó càng làm tăng thêm sự hấp dẫn và thu hút khách mỗi khi đến thăm. Tuy nhiên trong số đó vẫn còn nhiều nhà cổ đã trải qua niên đại lâu đời chịu sự tác động của khí hậu, côn trùng, nên các cấu kiện bằng gỗ, các hạng mục khác đều bị mai một xuống cấp rất cần sự bảo tồn phục dựng hỗ trợ của các cấp lãnh đạo chính quyền cũng như sự chủ động của nhân dân – qua đó góp phần vào công tác bảo tồn và phát huy các giá trị của di tích làng cổ ở Đường Lâm một cách bền vững hiệu quả.
Hà Nội
514 lượt xem
Xếp hạng : Đang cập nhật
ĐÌNH ĐOÀI GIÁP
ĐÌNH ĐOÀI GIÁP – DI SẢN VĂN HÓA QUÝ TRONG LÀNG CỔ Ở ĐƯỜNG LÂM Theo dân gian truyền thống cũng như một số nguồn sử liệu thì đình Đoài Giáp được cất dựng từ thời vua Ngô Quyền thế kỷ thứ X, khi đó di tích chỉ là một ngôi miếu nhỏ do nhân dân trong làng dựng lên để tưởng nhớ công đức của Bố Cái Đại Vương Phùng Hưng và suy tôn ông là vị Thành Hoàng làng của cả làng. Ngoài tên gọi là đình Đoài Giáp, đình còn có tên gọi khác là “Đoài Giáp từ” – chữ Hán Nôm (đền Đoài Giáp). Đình được tọa lạc trên một thế đất đẹp, thoáng đãng giữa trung tâm làng, phía trước mặt đình là một hồ nước rộng hình tứ giác, quay mặt ra hướng Tây Nam, người xưa rất khéo khi chọn không gian cảnh quan, phong thủy hợp với tâm linh tín ngưỡng và ý nguyện của dân làng phía sau đình là khu vườn rộng để nhân dân trồng cây ăn trái, 2 bên đầu trái phải của đình là 2 giếng nước được dân làng đào và xây các thành giếng bằng đá ong (loại vật liệu đặc trưng của vùng xứ Đoài), nước ở giếng được dân làng sử dụng sinh hoạt hàng ngày và quanh năm không bao giờ cạn, dân làng xưa vẫn quen gọi đây là “giếng mắt rồng”, đầu rồng hướng về hướng đông “xóm Hớm”, đuôi rồng hướng về hướng Bắc (đường liên thôn), phía xung quanh là một số ngôi nhà cổ có niên đại hàng mấy thế kỷ với mái ngói rêu phong cổ kính trầm mặc. Dù trải qua thời gian dài chịu sự tác động không nhỏ của những yếu tố như: chiến tranh, khí hậu, sự xâm hại của côn trùng mối mọt nhưng trong các hạng mục kiến trúc kết cấu của Đình vẫn giữ lại được những nét chạm trổ, điêu khắc cổ mang đậm dấu ấn của những ngôi đình làng cổ Việt Nam. Đình gồm những hạng mục công trình như “Tiền tế”, “Hậu cung” bố trí song song theo hình chữ “nhị” ngăn cách nhau bằng một sân rộng có chiều dài 7,2m, được lát bằng gạch Bát Tràng, 2 hạng mục trên có độ cao gần bằng nhau, song hậu cung có kích thước rộng hơn nhà tiền tế, hậu cung gồm 3 gian, bộ vì có kết cấu “chuồng rường giá chiêng”. Tường đốc giá ngoài xây kiểu bổ trục giật tam cấp, các hệ thống cột quân, cột cái, cửa khám, cửa ra vào hậu cung đều được làm bằng gỗ (loại tứ thiết) vững chắc, bờ nóc là cột trục biểu vuông đầu đắp đèn lồng và “đôi Nghê” chầu cách điệu, linh vật “Nghê” có đôi mắt tròn, lồi, mũi sư tử, khoằm miệng mở rộng nhìn xuống, lông chân sau là những vằn xoắn lớn. Theo quan niệm của người Việt xưa, Nghê biểu hiện cho sức mạnh của thiên nhiên, phần bờ dải, bờ guột đắp nổi hình “dơi vũ cách” và đề tài “Phúc – Lộc – Thọ” mang nhiều ý nghĩa tâm linh sâu sắc, mái đình dốc ngắn được lợp ngói mũi hài nay như trên mình lớp rêu phong cổ kính, tàu mái hơi vuốt cong được cài then con sỏ vào xà hạ với chiều dài 9,6 m, lòng nhà 8 m, cao 5,2 m và nền nhà hậu cung cao hơn sân trong sân ngoài gần 1m. Ngoài đôi trục tay ngai còn có 4 trụ vuông tạo sự vững vàng, trên các mặt trụ vuông có những câu đối bằng chữ Hán, sơn son thiếp vàng tăng vẻ cổ kính và giá trị của di tích, hệ thống thờ tự trong đình được bài trí rất quy mô, cân xứng, đảm bảo tôn nghiêm trang trọng. Gian bên trái Đình là ban thờ : “Bản thần thổ đất” (Thần Đất), nơi đây được bài trí một số đồ thờ quý được chế tác bằng các chất liệu như: đồng, gỗ, gốm, vải, giấy, nổi bật là bộ lư hương đồng được đúc tỉ mỉ công phu hình “đôi sư tử quả địa cầu” thể hiện ước mơ, tài năng sáng tạo của các nghệ nhân xưa, niên đại của cổ vật này có cách đây 2 thế kỷ, gian bên phải là ban thờ “Bộ hạ thần vị”, 2 bên ban trang trí hình “Rùa đội hạc”, mỏ hạc ngậm hoa sen gợi lên vẻ đẹp thanh tao nơi cửa thánh hiền, các đồ thờ khác ở đây cũng rất đa dạng, độc đáo, đáng lưu ý là bát hương được làm bằng gốm sành đất ở giữa ban thờ, giữa trán bát hương đắp nổi hình linh vật “lưỡng long chầu nguyệt” (2 linh vật rồng chầu mặt nguyệt) ở giữa bát hương có hình chữ “thọ” biểu hiện sự trường tồn vĩnh cửu với thời gian, bát nhang này có niên đại vào giữa thế kỷ XVIII. Nổi bật nhất giữa hậu cung là khám thờ Bố Cái Đại Vương Phùng Hưng. Khám thuộc loại lớn được chạm trổ công phu với nhiều linh vật quý, thiêng, trong khám có đặt bài vị, trên đỉnh khám treo một dòng chữ Hán cổ sơn son thiếp vàng là “Thánh cung vạn tuế” khẳng định người sống mãi trong tâm khảm của mỗi người dân trong làng. Bộ khám này được chế tác vào khoảng đầu thế kỷ XVIII, các đồ thờ trong khám cũng rất phong phú, bằng các chất liệu khác nhau có niên đại cuối đời nhà Lê đầu nhà Nguyễn. Nhà tiền tế đã được sửa chữa lại vài lần, lần bị hư hỏng nặng nhất là trong cuộc kháng chiến chống Pháp. Trong Đình hiện còn lưu giữ 1 quả chuông đồng đề 4 chữ Hán “Đoài Giáp từ chung” (chuông đình Đoài Giáp) đúc năm Tự Đức thứ 13 – 1861. Ngoài ra trong đình hiện còn lưu giữ được 6 đạo sắc phong quý có niên đại từ đời vua Minh Mệnh đến Khải Định (Đây là di tích rất tiêu biểu của vùng còn lưu giữ được các sắc phong), một số bia đá được tạc đời Hồng Đức thứ 4 (1474) ghi lại tiểu sử và công trạng của vua Phùng Hưng, long ngai bài vị, giá văn (thế kỷ XVIII), kiệu bát cống… đó là những nguồn sử liệu vô giá để cho các thế hệ sau này nghiên cứu và minh chứng về công lao của người với dân với nước. Điều hiếm thấy ở các di tích không có được là nóc nhà hậu cung là nơi trú ngụ của hàng trăm con dơi (cũng là loại động vật quý). Dơi gắn liền với ngũ phúc là “phú – quý – thọ - khang – ninh”. Với những giá trị văn hóa lịch sử tiêu biểu, đình Đoài Giáp đã được Nhà nước xếp hạng vào năm 2001, lễ hội của Đình diễn ra trong 2 ngày 7 và 8/1 âm lịch. Nhà văn hóa của thôn gần với Đình nên rất thuận tiện cho việc tổ chức các nội dung như lễ hội, hội họp tọa đàm cộng đồng, tuyên truyền, thu hút nhan dân và du khách đến tham dự (do Đình nằm ở vị trí trục đường thuận lợi; dịp lễ hội của Đình luôn thu hút đông đảo nhân dân ở trong và ngoài địa phương tham dự, là ngày hội, là niềm tự hào vinh dự của mỗi người con trong làng. Hiện tại Ban lãnh đạo địa phương cũng cắt cử các cụ cao niên trong làng ra trông coi, dọn dẹp, quản lý di tích, thường xuyên phục vụ nhu cầu hành lễ của bà con trong làng và du khách. Hiện tại, di tích đã được Nhà nước đầu tư kinh phí để tôn tạo, tu bổ lại các hạng mục cũng như: khuôn viên, không gian, cảnh quan bên ngoài, đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu của nhân dân và du khách.
Hà Nội
2398 lượt xem
Xếp hạng : Đang cập nhật









