Di tích lịch sử
Việt NamChùa Đống Nghiêm
Chùa Đống Nghiêm hay còn gọi là chùa Kế, được xây dựng từ lâu đời (trước thời Lê). Chùa được xây dựng ngay bên Nghè Kế thuộc phường Dĩnh Kế. Chùa Đống Nghiêm là chi phái của chùa Vĩnh Nghiêm, là chốn nghỉ chân của các Sư tăng trước khi về chốn tổ Vĩnh Nghiêm ngồi hạ. Chùa Đống Nghiêm giữ vai trò Chánh giám viện của chốn tổ Vĩnh Nghiêm. Vì vậy rất có thể chùa Đống Nghiêm được xây dựng từ thời Trần và là nơi sầm uất bởi các hoạt động truyền giáo của thiền phái Trúc Lâm tại chốn tổ Vĩnh Nghiêm. Qua cuộc kháng chiến chống xâm lược nhà Minh, chùa Đống Nghiêm bị tàn phá đổ nát, vào thế kỷ XVII- XVIII được tu bổ mở rộng, trở thành một trung tâm sinh hoạt Phật giáo khá sầm uất của nhân dân. Các công trình kiến trúc xưa của chùa khá quy mô gồm nhiều tòa: Thượng điện, Tam bảo, tòa Cửu phẩm, gác chuông, gác khánh, nhà tổ, giải vũ tam quan, sân vườn. Rất đáng tiếc do chiến tranh nhiều công trình của chùa Đống Nghiêm nay không còn. Chùa Đống Nghiêm còn lưu giữ hệ thống tượng thờ khá đầy đủ tập trung ở tòa thượng điện. Hầu hết các pho tượng đều được tạc bằng gỗ, sơn thếp lộng lẫy, trong đó tượng Tam thế, a di đà, phổ hiền bồ tát, thế chỉ bồ tát là những pho tượng đẹp. Ngoài ra còn nhiều đồ thờ quý khác. Đặc biệt chùa còn lại 3 tấm bia bằng đá giá trị. Chùa Đống Nghiêm đã được Bộ Văn hóa thông tin xếp hạng là di tích kiến trúc nghệ thuật cấp Quốc gia theo Quyết định số 226/VH-QĐ, ngày 5/02/1994. NGUỒN TRUNG TÂM VĂN HÓA THÔNG TIN VÀ THỂ THAO THÀNH PHỐ BẮC GIANG
Bắc Ninh
3284 lượt xem
Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia
Nghè Dĩnh Kế
Dĩnh Kế là một xã nằm ở phía Đông thành phố Bắc Giang, giáp ranh với các xã Tân Tiến, Hương Gián (Yên Dũng), Dĩnh Trì, Tân Dĩnh (Lạng Giang), phường Thọ Xương, xã Xương Giang và hai đường Lê Lợi, Ngô Quyền thuộc nội thị. Nằm ngay bên quốc lộ 31, con đường nối thành phố Bắc Giang với miền Đông Bắc của tổ quốc. Công trình kiến trúc nhỏ nhắn, khiêm nhường này dựng đặt giữa bãi đất cao, cây trái xum xuê, trông thật sự tôn nghiêm cổ kính, giữa nơi phố chợ. Đường xá nơi đây tấp nập người xe qua lại, nhộn nhịp cảnh mua bán đổi trao, các hoạt động kinh tế khá phong phú sôi động và sầm uất lại càng chứng tỏ Dĩnh Kế từ xưa đã là nơi đô hội, làm ruộng, cấy lúa, trồng rau màu, trồng dâu chăn tằm vốn là nghề sống chính. Song các hoạt động thủ công, đặc biệt là nghề làm bánh đa có từ rất sớm và nổi tiếng gần xa, khiến cho đời sống của người dân Dĩnh Kế ngày một nâng cao - chợ Kế, một trung tâm buôn bán, sầm uất lên từ thời Lê đã chứng tỏ các hoạt động thương mại ở Dĩnh Kế xuất hiện khá sớm và phát triển liên tục đến ngày nay. Chính nhờ các hoạt động kinh tế đa dạng, phong phú mà làm cho miền quê Dĩnh Kế luôn sôi động, quan hệ của người dân rộng mở, làng xã không bị bó hẹp, đóng khung trong những luỹ tre. Dĩnh Kế là nơi hội tụ cư dân ở nhiều nơi đồng thời cũng là nơi giao lưu năng động về kinh tế, văn hoá với các vùng miền trong nước. Đó là những nhân tố, là môi trường lịch sử xã hội làm nên một Dĩnh Kế giàu truyền thống văn hiến. Truyền thống cộng đồng đoàn kết được thể hiện khá tập trung ở việc tôn thờ đức Cao Sơn- Quý Minh. Đây là hai vị tướng thời Hùng Vương, có nhiều công trạng trong việc phò vua giúp nước, nhân dân nhiều làng xã Việt Nam đã lập đình, đền thờ phụng. Các triều vua phong kiến Việt Nam ban sắc phong tặng hai vị tướng là thượng đẳng thần. Nghè Dĩnh Kế là một công trình kiến trúc có quy mô nhỏ với 1 gian 2 trái, hai dĩ làm trung tâm thờ tự (nhân dân địa phương quen gọi là toà hậu cung) và 5 gian tiền tế ở phía trước. Cũng như nhiều miền quê khác của tỉnh Bắc Giang, nghè Dĩnh Kế là trung tâm thờ tự, hành lễ và tổ chức hội lệ của nhân dân toàn xã. Hàng năm, vào dịp ngày Rằm tháng Ba âm lịch, ngày đại kỳ phúc của toàn dân, các thôn rước kiệu đặt bài vị đức thánh về nghè Cả, tổ chức hành lễ, biểu hiện lòng thành kính của mọi người đối với đức thánh. Hội lệ được tổ chức chu đáo, uy nghiêm. Để cho việc tiến hành lễ hội được chu đáo, xưa toàn xã còn dựng một đình chung (gọi là đình hàng xã hay đình Vĩnh Ninh). Đây là ngôi đình lớn bằng gỗ lim có đao cong mái uốn, trong sàn gỗ, cửa chấn song. Đây là nơi hội họp và tổ chức lễ hội của nhân dân toàn xã. Ngoài việc rước sách, hành lễ, tế, hội Kế còn có nhiều trò vui hấp dẫn như: Cờ tướng; chọi gà; đánh đu và các trò chơi cổ truyền khác….Đặc biệt, trong lễ hội Kế còn có trò chơi cờ người và kéo chữ: Trai gái trong làng được chọn vào làm quân cờ hoặc kéo chữ phải được tập trước hàng tháng. Trước ngày mở hội khoảng 3-4 ngày, những người này tập trung nhau lại để tổng duyệt. Người tham gia chơi trò chơi kéo chữ được mặc quần áo đẹp, đầu đội nón xếp hoặc nón chóp dứa, đi giày chín long, thắn lưng nhiễu điều, vác cờ ngũ sắc đi theo hiệu lệnh trống của ông Tổng cờ cho đến khi xếp thành hình chữ: “Thiên hạ thái bình-Trình quan đại hội”. Hội Kế tháng ba là sinh hoạt tín ngưỡng và văn hoá của nhân dân toàn xã, hấp dẫn và thu hút khách thập phương, trở thành lễ hội lớn của đời sống con người của vùng quê văn hiến, đi vào cuộc sống tự nhiên như hơi thở: “ Đồn rằng hội Kế tháng Ba Không đi xem hội cũng già mất thân” Vào dịp 20 tháng 7, còn diễn ra lễ Thượng điền của nhân dân toàn xã. Ngày này 7 giáp của các thôn mang lễ vật ra tế lễ ở đình hàng xã, biểu diễn sự sùng kính trời đất, thánh thần đã phù giúp mùa màng tươi tốt, dân an vật thịnh. Việc thờ phụng đức thánh của nhân dân Dĩnh Kế từ xưa đã rất tôn nghiêm sùng kính và được nhà nước phong kiến Việt Nam phong sắc, thừa nhận. Hiện nay tại nghè Cả còn lưu giữ được 10 đạo sắc của các triều vua nhà Nguyễn ban cho nhân dân trong xã phụng thờ theo lệ cũ từ trước. Nghè còn là nơi đặt thờ các vị tiên hiền khoa bảng của hai huyện Bảo Lộc và Phượng Nhỡn, trong đó có những bậc đại khoa của Dĩnh Kế là Giáp Hải, Giáp Phong, Nguyễn Duy Năng. Các đồ thờ tự các tài liệu, cổ vật, nhất là bài vị, đức thánh, sắc phong của các triều vua, bia ghi các vị khoa bảng… là những nguồn tài liệu cổ vật có giá trị lịch sử cao. Mặt khác, di tích nghè Dĩnh Kế hiện đang phát huy tác dụng tích cực của một di tích lịch sử văn hoá: nơi thờ phụng tôn nghiêm các đức thánh Cao Sơn- Quý Minh và các tiên hiền khoa bảng, nơi trung tâm tổ chức hội họp và lễ hội của toàn dân với các hoạt động văn hoá tinh thần giàu chất nhân văn, đậm đà bản sắc dân tộc. NGUỒN CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ SỞ VĂN HÓA - THỂ THAO - DU LỊCH TỈNH BẮC GIANG
Bắc Ninh
3547 lượt xem
Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia
Chùa làng Thành
Đến đầu thời Tự Đức 1883 dân số hai làng phát triển đông, Chùa Vẽ trở nên chật chội. Dân làng Thành đã quyết định mở rộng Am thành chùa (Am của vị quan già người làng Đông Nham Nguyễn Tướng Công của Triều Lê đã hiến dâng cho làng). Do đó, chùa làng Thành có tên chữ là Am linh Tự, Chùa Thành thờ Phật Quan âm Bồ tát, chùa được xây dựng trên khu đất cao thoáng trước cửa làng theo hướng Nam ghé Tây. Trước mặt là khu Dộc Đình, sau lưng là khu bãi gò cao. Xét về phong thủy, chùa nằm trên thế hậu sơn tiền thủy, Chùa Thành tuy không lớn về quy mô kiến trúc nhưng được bố cục gọn gàng, chặt chẽ, hài hòa giữa cảnh quan kiến trúc ngoại thất với bài trí nội thất được điêu khắc tinh xảo. Hằng năm, chùa thường xuyên được tu bổ; đặc biệt từ năm 2005 đến 2009 với sự hỗ trợ của Nhà nước và sự hảo tâm đóng góp của Nhân dân, chùa được trùng tu và mở rộng. Đến nay Chùa Thành là một trong những ngôi chùa đẹp và khang trang trong vùng. Chùa Thành nằm gần đường Quốc lộ 1A và đường sắt từ Lạng Sơn đến Thủ đô Hà Nội nên rất thuận lợi cho du khách thập phương đến lễ hội và thăm quan. Chùa Thành là công trình kiến trúc cổ có trên vài trăm năm tuổi được nhà nước xếp hạng, Bộ Văn hóa Thông tin Thể thao và Du lịch cấp bằng di tích lịch sử văn hóa ngày 5 tháng 2 năm 1994. NGUỒN CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ PHƯỜNG XƯƠNG GIANG - TP. BẮC GIANG - TỈNH BẮC GIANG
Bắc Ninh
3335 lượt xem
Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia
Đền thờ và mộ Lều Văn Minh
Đền thờ và lăng mộ Nam Bình đô thống Đại tướng quân Lều Văn Minh là những công trình tín ngưỡng của nhân dân địa phương nhằm tôn kính, ngưỡng vọng và nhớ ơn một danh tướng thời Lý là Lều Văn Minh - người đã có công đánh giặc ngoại xâm, bảo vệ quốc gia Đại Việt và đã anh dũng hy sinh. Trên tấm bia đá ở Lăng mộ Lều tướng công đã ghi rõ: "Phàm những người có công đức với nhân dân với nước đều được ghi chép để đời sau nhớ tới. Nay thấy Lều Đại Vương vì đời mà quên thân là trung, vì dân mà trừ hại là công. Trung với nước, công với dân đó là vị thần chính trực”. Ngày 28/6/1996, Bộ Văn hóa và Thông tin đã cấp bằng công nhận cấp quốc gia"Di tích lịch sử Đền thờ và mộ Lều Văn Minh”. Hiện nay Tướng quân Lều Văn Minh được nhân dân các TDP Hoà Yên, Hướng, Cung Nhượng 1 thờ phụng. Trong đó đền Hoà Yên là nơi lưu giữ được nhiều cổ vật nhất, được coi là Đền cả. Đền thờ Tướng quân Lều Văn Minh được thực hiện là công trình điểm tra cứu di tích lịch sử thứ 2 được ban thường vụ đoàn phường thực hiện trên địa bàn phường (trước đó đã thực hiện công trình điểm tra cứu di tích lịch sử cấp quốc gia Đình, chùa làng vẽ). Trong thời gian tới đoàn phường sẽ tiếp tục có nhiều hoạt động sáng tạo, ứng dụng chuyển đổi số trong công tác giáo dục, tuyên truyền lịch sử, truyền thống dân tộc, quê hương cho thế hệ trẻ phường nhà hôm nay; từ đó các bạn thêm yêu và tự hào về quê hương, đất nước, gắng sức rèn đức, luyện tài cống hiến xây dựng quê hương, đất nước ngày càng giàu đẹp, văn minh. NGUỒN TRANG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ TUỔI TRẺ THÀNH PHỐ BẮC GIANG
Bắc Ninh
3805 lượt xem
Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia
Đình Làng Lương Xá
Đình Lương Xá thờ ông Đào Nhã là người có công giúp nhà Trần chống quân xâm lược Nguyên Mông ở thế kỷ 13; Công lao của ông đã được ghi trong thần tích, sắc phong, câu đối hiện còn và lưu giữ tại di tích. Đình còn phối thờ bà Trần Thị Hường người ủng hộ phong trào Cần Vương chống Pháp cuối thế kỷ 19. Đình Lương Xá khởi dựng vào cuối thế kỷ 19, trùng tu lớn vào năm 1930. Di tích kiến trúc khá đồng bộ từ Đại bái, Hậu cung và Giải vũ, là một di tích có quy mô lớn, có nhiều mảng chạm khắc, phù điêu đạt trình độ nghệ thuật cao. Với lối kiến trúc này, giúp chúng ta nghiên cứu lịch sử điêu khắc cổ Việt Nam. Căn cứ vào những giá trị lịch sử, năm 2001, Đình Lương Xá được Nhà nước công nhận di tích lịch sử cấp Quốc gia. Đối với địa phương, đình Lương Xá không chỉ là nơi tôn thờ người có công với nước, nơi đây còn ghi dấu ấn trong công cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ. Là nơi ghi dấu ấn văn hoá, tín ngưỡng làng xã khá đậm nét. Nghiên cứu lịch sử di tích đình Lương Xá là mang lại cho chúng ta nguồn tư liệu quý giá, trong việc tìm hiểu phong tục, tập quán, tín ngưỡng của dân tộc Việt Nam. Lễ hội có tục rước tế thần theo phong tục lâu đời của nhân dân địa phương được tổ chức vào ngày 8 tháng 3 (âm lịch). Hiện nay Lễ hội đã được Sở Văn hóa, Thể thao & Du lịch hoàn thiện Hồ sơ, kịch bản Lễ hội điểm và đã tiến hành tổ chức Lễ hội theo đúng kịch bản từ năm 2014. Nguồn Cổng thông tin điện tử huyện Kim Thành , tỉnh Hải Dương.
Hải Phòng
4194 lượt xem
Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia
Đình Kiên Lao
Đình Kiên Lao, hay còn gọi Đình Xuân Quang. Đình Kiên Lao thờ 02 vị thần hoàng là người có công với nước ở thế kỉ thứ X là Đào Công Chiêu và Đào Công Hiển. Đình Kiên Lao tọa lạc trên một khu đất thoáng mát có dáng rồng chầu hổ phục. Bao bọc bởi cánh đồng lúa rau màu xanh tươi và rặng cây xanh bóng mát, đình mang dáng vẻ cổ kính và trầm mặc. Kiến trúc Nguyễn, mặt chính hướng Nam, nhìn ra cánh đồng lúa ven làng. Tam quan bề thế (được chính quyền và nhân dân địa phương tôn tạo năm 1992), cổng chính dựa trên hai cột trụ, trên đắp đôi nghê, hai cổng phụ xây chồng diêm hai mái. Đình xây hình chữ Đinh (丁) gồm 5 gian tiền tế, 3 gian hậu cung. Mái lợp ngói mũi, trên nóc đắp hai con kìm, giữa dựng hình lưỡng long chầu nguyệt. Hai đầu hồi tiền tế và hồi sau hậu cung đều đắp nổi hổ phù. Tại cửa phụ hậu cung còn ghi dòng chữ “Đồng Khánh nguyên niên tuế thứ Bính Tuất thập nhất nguyệt sơ lục nhật lương thời bản xã trùng tu" tỏ rõ đình được xây dựng năm 1886, trùng tu năm Bảo Đại thứ 3 (năm 1928). Chính cung trang trí cửa võng, hai bên treo các câu đối và đặt bộ bát biểu sơn son thếp vàng. Trong cung cấm có hai cỗ ngai bài vị và 2 cỗ bành kiệu tươi màu sơn đỏ thếp vàng của hai Thành hoàng làng. Đình còn có ban thờ Trần Hưng Đạo. Nơi đây còn lưu giữ được 2 cuốn thần phả và 12 đạo sắc phong thời Lê và thời Nguyễn phong cho hai vị Thần hoàng làng và nhiều cổ vật và đồ thờ có giá trị như: Khám thờ thời Nguyễn, 3 bức đại tự, 3 câu đối, 3 hương án thời Nguyễn….Trước cổng tam quan còn khoảnh sân rộng hơn trăm thước vuông, có trụ đá xanh làm cột cờ kề sát mặt hồ bán nguyệt rộng ước 500 thước vuông. Cảnh trí hài hòa mát mẻ, phong thủy tốt đẹp. Căn cứ vào những giá trị lịch sử, năm 1995, Đình Kiên Lao được Nhà nước công nhận di tích lịch sử cấp Quốc gia theo quyết định số 2223- VH/ QĐ ngày 26 tháng 6 năm 1995. Lễ hội hằng năm được tổ chức vào ngày 15 tháng 11 (Âm lịch).Có tục tế thần, rước kiệu rất đặc sắc mang đậm nét văn hóa truyền thống được nhân dân và du khách ngưỡng mộ. Hiện nay Lễ hội đã được Sở Văn hóa, Thể thao & Du lịch hoàn thiện Hồ sơ, kịch bản Lễ hội điểm và đã tiến hành tổ chức Lễ hội theo đúng kịch bản từ năm 2012. Nguồn Cổng thông tin điện tử xã Đại Đức , huyện Kim Thành , tỉnh Hải Dương.
Hải Phòng
4363 lượt xem
Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia
Chùa Muống (Quang Khánh Tự)
Chùa Muống (Quang Khánh tự) ở xã Ngũ Phúc là trung tâm tôn giáo lớn của huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương. Ngôi Chùa đã trải qua 7 thế kỷ tồn tại, được ghi vào lịch sử của chế độ phong kiến Việt Nam. Ngoài bề dày lịch sử, chùa Muống còn được mệnh danh là ngôi chùa nhiều tháp nhất tỉnh Hải Dương. Trải qua chiến tranh tàn phá, chùa vẫn còn lưu giữ được hệ thống tháp đá thời Lê và thời Nguyễn khá đồ sộ. Chùa Quang Khánh là một ngôi chùa lớn của đất nước thuộc thiền phái Trúc Lâm. Chùa có từ thời Trần đầu thế kỷ 14 do Huệ Nhẫn Quốc sư Vương Quán Viên chủ trì, Huệ Nhẫn còn là một lương y có tài chữa mắt. Vua Lê Thánh Tông đã từng đến chùa, đề thơ tại di tích. Chùa là cơ sở cách mạng và kháng chiến của xứ uỷ và tỉnh. Đến năm 1947 chùa còn 120 gian, 32 tháp đá và gạch, khoảng 50 pho tượng phật và nhiều cổ vật. Đây là ngôi chùa nhiều gian nhất tỉnh. Đồng thời là trung tâm tôn giáo tín ngưỡng thuộc về đạo phật lớn nhất của huyện Kim Thành. Chùa được xếp hạng di tích Quốc gia năm 1992. Hàng năm Lễ hội được tổ chức trong 3 ngày là: ngày 24 ; ngày 25 và ngày 26 tháng Giêng (âm lịch) dân gian thường gọi là Lễ hội Non Đông. Do lợi thế giao thông thuỷ bộ và là một ngôi chùa cổ có tiếng ở khu vực do vậy hàng năm thu hút vài ngàn du khách tới Lễ hội Chùa. Nguồn Cổng thông tin điện tử huyện Kim Thành , tỉnh Hải Dương.
Hải Phòng
5108 lượt xem
Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia
Đình Quỳnh Côi (Đình Gôi)
Ngôi đình ở thôn Ngọc Lâm (làng Quỳnh Gôi), xã Tân Kỳ, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương. Đình thờ thành hoàng là Cao Sơn Đại Vương, thời Hùng Duệ vương, có công chống giặc Thục, giữ yên bờ cõi. Đình được xây dựng từ thế kỷ XVII, trùng tu nhiều lần vào các năm 1686, 1692, 1750, 1756, 1772, 1838, 1899. Trong chiến tranh, đình bị hư hỏng nặng. Ngôi đình hiện nay gồm có Tiền bái 5 gian, Hậu cung 3 gian, 6 gian giải vũ. Trong đình, hiện còn nhiều cổ vật, trong đó có 9 tấm bia có niên đại từ thế kỷ XVII-XVIII, 15 đạo sắc thời Lê Trung Hưng và Nguyễn. Lễ hội hằng năm từ ngày 8 đến ngày 13 tháng 2. âm lịch. Đình đã được xếp hạng di tích lịch sử văn hoá quốc gia năm 2001. Đình làng thôn Ngọc Lâm hiện nay do thời gian mà đã có phần không còn nguyên trạng nhưng với nỗ lực của chính quyền trong thôn xã cũng như nhân dân đã khôi phục hiện trạng và bảo tồn nét truyền thống và cổ kính của Đình Quỳnh Côi nét di tích mang đạm chất quê hương "Cây Đa-Giếng Nước-Sân Đình". Nguồn Cổng thông tin điện tử huyện Tứ Kỳ , tỉnh Hải Dương.
Hải Phòng
4324 lượt xem
Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia
Khán Đài B (A cũ) sân Vận động Bắc Giang
Di tích quốc gia khán đài B (trước đây là khán đài A) sân vận động Bắc Giang thuộc địa phận phường Ngô Quyền (THÀNH PHỐ Bắc Giang) là nơi ghi dấu sự kiện lịch sử và lưu giữ những kỷ niệm sâu sắc của Bác Hồ đối với Đảng bộ và nhân dân tỉnh Bắc Giang. Nhằm phát huy giá trị lịch sử của di tích, Đảng bộ, chính quyền tỉnh và THÀNH PHỐ Bắc Giang dành nhiều sự quan tâm cho công tác tu bổ, tôn tạo. Niềm vinh dự, tự hào Sau khi nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa ra đời, từ năm 1946 đến năm 1963, dù bận rất nhiều việc, Bác Hồ đã 5 lần về thăm và làm việc tại tỉnh Bắc Giang. Trong những chuyến thăm ấy, THÀNH PHỐ Bắc Giang vinh dự được đón Bác 4 lần. Trong đó có 2 lần Bác gặp gỡ, nói chuyện với cán bộ và nhân dân tỉnh Bắc Giang tại khán đài A, sân vận động Bắc Giang. Đây là niềm tự hào, vinh dự lớn lao không phải địa phương nào cũng có được. Ngược dòng thời gian, ngày 6/4/1961, Bác về thăm và nói chuyện với hơn 3,5 vạn cán bộ và nhân dân tỉnh Bắc Giang tại sân vận động Bắc Giang. Trên khán đài A, vị lãnh tụ của Đảng, người Cha già dân tộc giản dị trong bộ quần áo nâu thân thuộc. Bác thân ái hỏi thăm đồng bào và cán bộ; các đồng chí bộ đội, công an, dân quân, tự vệ, công nhân; các cụ già, thanh niên, thiếu niên, nhi đồng và kiều bào mới về nước. Bác khen ngợi thành tích đạt được trong những năm kháng chiến; những cố gắng, tiến bộ của nhân dân và cán bộ tỉnh Bắc Giang từ ngày hòa bình lập lại. Đồng thời, Bác nhấn mạnh những nhiệm vụ quan trọng, chỉ ra những khuyết điểm cụ thể mà địa phương cần sửa chữa, khắc phục; nhắc nhở nhiệm vụ của các đoàn thể, mỗi người trong lúc này cần tập trung sức lực để phát triển sản xuất, đấu tranh thống nhất nước nhà. Hơn 2 năm sau, vào ngày 17/10/1963, Bác về thăm thị xã Bắc Giang. Đây là thời điểm lịch sử quan trọng của nhân dân các dân tộc trong tỉnh, từ khi hai tỉnh Bắc Giang - Bắc Ninh được sáp nhập thành tỉnh Hà Bắc. Đó là Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Hà Bắc lần thứ I được tiến hành. Lần này cũng tại khán đài A sân vận động Bắc Giang, Bác đã nói chuyện với cán bộ và nhân dân các dân tộc trong tỉnh. Bác căn dặn đồng bào, cán bộ và chiến sĩ phải đoàn kết, phát triển sản xuất nông nghiệp, thủ công nghiệp, trồng cây gây rừng, cần cải tiến việc quản lý hợp tác xã, cải tiến kỹ thuật và thực hành tiết kiệm, góp phần vào công cuộc đấu tranh thống nhất nước nhà. Chính sự quan tâm, chỉ đạo của Bác Hồ đã tiếp thêm sức mạnh, trở thành nguồn động lực tinh thần to lớn giúp cán bộ, đảng viên, nhân dân khắc phục khó khăn, phấn đấu vươn lên hoàn thành tốt các nhiệm vụ được Đảng và Bác Hồ giao. Với ý nghĩa to lớn đó, ngày 21/6/1993, Bộ Văn hóa - Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) có quyết định xếp hạng di tích lịch sử khán đài B (khán đài A cũ), sân vận động Bắc Giang là di tích cấp quốc gia. Xứng tầm với ý nghĩa, giá trị lịch sử Khán đài A sân vận động Bắc Giang được xây dựng trong khoảng thời gian từ năm 1958-1960, cao hơn 10m, khung sắt mái tôn với hai cầu thang lên xuống, hai cánh gà hai bên, diện tích mặt bằng 350m2 ở phía Đông sân vận động, quay mặt ra quốc lộ 1A (nay là tỉnh lộ 295B). Nơi đây từng được chọn để tổ chức nhiều sự kiện lớn của tỉnh như: Kỷ niệm 110 năm thành lập tỉnh Bắc Giang (1895-2005); nhiều kỳ đại hội thể dục thể thao tỉnh Hà Bắc, Bắc Giang; giải thể thao quy mô cấp tỉnh, toàn quốc… Trải qua thời gian, công trình xuống cấp. Năm 2008, ỦY BAN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ Bắc Giang đã tu bổ, tôn tạo di tích quy mô nhỏ với kinh phí 800 triệu đồng, tổng diện tích toàn bộ khu vực khán đài khoảng 1,4 nghìn m2. Tuy nhiên đến nay, một số hạng mục của khu di tích xuống cấp và là nơi phục vụ luyện tập môn võ thuật của Trung tâm Văn hóa, Thông tin và Thể thao THÀNH PHỐ Bắc Giang. Qua đánh giá của chính quyền, ngành chức năng, thời gian qua, công tác quản lý và phát huy giá trị khu di tích khán đài còn hạn chế; chưa có sự quan tâm đầu tư tu bổ, tôn tạo với quy mô lớn, đồng bộ và xứng tầm. Việc cắm mốc, khoanh vùng bảo vệ đất đai, dựng bia ghi dấu sự kiện lịch sử chưa được thực hiện. Tư liệu, hiện vật chủ yếu về khu di tích là hình ảnh Bác Hồ về thăm và nói chuyện với nhân dân Bắc Giang hiện trưng bày tại Bảo tàng tỉnh. Được biết, hiện nay trên cả nước còn rất ít công trình gắn với những lần về thăm, làm việc của Người ở các tỉnh được giữ gìn nguyên vẹn như công trình khán đài B sân vận động Bắc Giang, nơi đã in sâu vào tâm trí nhiều thế hệ cán bộ, nhân dân các dân tộc Bắc Giang. NGUỒN CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ TỈNH BẮC GIANG
Bắc Ninh
3208 lượt xem
Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia
Từ Vũ thôn Bùi Bến
Từ Vũ nằm trên xứ đồng Bãi Mô (xưa) thuộc thôn Bùi Bến, xã Yên Lư, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang được nhân dân địa phương xây dựng để ghi nhớ công ơn của vị tướng công họ Nguyễn tước Ngạn Trung Hầu có nhiều công trạng dưới vương triều nhà Lê thế kỷ XVIII. Quần thể khu di tích chia ba phần: Phần thứ nhất là cảnh quan ngoại thất gồm hồ nước, sân hội…có liên hệ chặt chẽ với nội thất và được ngăn cách bởi 4 bức tường vây bảo vệ phần nội thất. Phần thứ hai là cụm kiến trúc ngoài trời bao gồm các tổ hợp kiến trúc và các di vật được bài trí như sau: Cổng Từ Vũ kiểu cuốn vòm, tường xây đá ong. Qua cổng Từ Vũ theo đường thần đạo có một tấm bia hình trụ được khắc dựng vào niên hiệu Cảnh Hưng năm thứ 31 (1770). Bia có dáng độc đáo, mái nón cao 1,42m, chu vi 2,12m, giống như một “đại hồng chung”, thân được chia thành 4 ô, khắc kín chữ Hán - Nôm. Tấm bia độc đáo này được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm bởi kiểu dáng lạ và nội dung ghi công đức của một vị quan. Hai bên tả hữu tấm bia trụ là tượng võ sĩ bằng đá đứng hầu, tượng được tạc dáng đứng nghiêm cẩn, đầu đội mũ trụ, áo giáp, tay cầm binh khí đứng đối diện mỗi bên 2 vị. Phía sau hai hàng võ sĩ có hai tấm bia hậu bằng đá gan gà niên đại thời Nguyễn (thế kỷ XIX), ghi tên người công đức ruộng, tiền để tu sửa, xây dựng từ vũ ở địa phương. Khối kiến trúc thờ tự gồm tòa tiền tế ba gian nối liền với hậu đường bằng dải ống muống. Tòa tiền tế mới được tu sửa lại xây gạch kiểu bình đầu bít đốc, nền lát gạch vuông, to, dày. Chính giữa đường thần đạo bài trí một hương án đá. Hai bên đối diện đặt hai bàn đá giống nhau dùng để đặt đồ cúng lễ. Trước bàn đá đặt hai lư hương đá lớn và hai mâm bồng bằng chất liệu đá xanh hình bầu dục. Hậu đường còn tương đối nguyên vẹn dáng vẻ kiến trúc ban đầu: Tường xây đá ong, cuốn mái vòm bên trong, mái ngoài lợp bằng gạch dày 60cm. “Nhân dân chúng tôi rất lấy làm từ hào, bởi đây là vùng đất địa linh nhân kiệt với quần thể di tích văn hóa đặc sắc, thế hệ chúng tôi luôn luôn giữ gìn tôn vinh, tuyên truyền giáo dục cho các thế hệ con cháu với những công lao to lớn của vị tướng công họ Nguyễn trong chống giặc ngoại xâm để giữ gìn bờ cõi non sông của dân tộc” - ông Lĩnh chia sẻ. Nền hậu đường lát gạch vuông, chính giữa đặt tấm bia đá xanh lớn bốn mặt khắc kín chữ Hán - Nôm. Đây là tấm bia đẹp có giá trị lịch sử và mỹ thuật, đầu bia dáng long đình, chạm nổi họa tiết hình hổ phù, lá đề cách điệu. Diềm bia chạm khắc nổi các dải hoa văn đề tài hoa dây cách điệu. Nét chạm khắc, tinh tế mang giá trị điển hình của nghệ thuật chạm khắc đá thời Lê thế kỷ XVIII.
Bắc Ninh
3903 lượt xem
Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia









