Di tích lịch sử

Việt Nam
ĐÌNH CAM THỊNH

ĐÌNH CAM THỊNH

ĐÌNH CAM THỊNH Đình tọa lạc theo hướng Đông Nam thuộc khu vực thôn Cam Thịnh (một trong năm thôn hợp thành di tích Làng cổ ở Đường lâm, thị xã Sơn Tây, Hà Nội). Đình thờ Đức Thành hoàng Bản thổ Kỳ Đại vương và Đức gia hậu Thượng tướng quân Cao Phúc Diễn cùng phu nhân là bà Giang Thị Thắng – người chị gái của sứ thần tài ba Giang Văn Minh. Đình được dựng vào thời vua Lê Thần Tông (1649 – 1662) với phần công đức lớn của vợ chồng tướng quân Phù Việt Hầu (là người làng Cam Thịnh đã có công giúp nước về nội trị và ngoại giao dưới thời vua Lê Trung Hưng). Đến nay, ngôi đình đã được tu bổ 3 lần, lần cuối vào năm Bính Thìn (1916). Ngoài ra còn có một số lần tu sửa nhỏ do nhân dân trong làng tự nguyện làm. Đình Cam Thịnh mang nhiều nét đặc trưng của kiến trúc nghệ thuật thời Nguyễn. Kết cấu kiến trúc của đình gồm 3 phần: Nghi môn, Tả mạc, Đại đình. Ngoài cùng là một Nghi môn trụ có niên đại vào thế kỷ XX. Đây là những trục thông linh, hai trụ giữa lớn hơn ở trên đỉnh là “tứ phượng” và hai trụ nhỏ hơn ở trên đỉnh là đôi lân trong thế ngồi nhìn xuống. Bước qua nghi môn là là một sân rộng, ở phía bên trái là dãy nhà tả mạc 4 gian kiểu “tường hồi bít đốc”. Đại đình Cam Thịnh được làm theo kết cấu chữ Đinh, với tòa Đại bái gồm 3 gian 2 dĩ, mặt bằng 4 hướng chân cột gỗ, 4 bộ. Nối liền với gian giữa Đại bái là một chuôi vồ 3 gian bằng hệ thống kẻ suốt chạy từ nóc xuống mái, bộ vì ngoài cùng của Hậu cung được bưng kín và làm hệ thống cửa ngăn cách Đại bái với cung cấm, bộ vì bên trong được làm theo kiểu “chồng rường” với kỹ thuật bào trươn đóng bén. Cung cấm được bưng kín mặt trên một sàn gác lửng cao 1.8 m, phía trước cung cấm là bộ cửa khảm gỗ có diềm gỗ chạm lộng. Bên ngoài cửa cung cấm là một sàn lửng bài trí đồ tế tự. Đình được xây dựng ở nửa sau thế kỷ XVII nên dấu tích xưa nhất trong điêu khắc đình còn đọng lại ở một số rường nách của các bộ vì đỡ hai mái hồi và 3 đầu dư kìm hình rồng ở 2 nách bộ vì chính. Những đầu rồng này tuy đã bị rụng, hỏng, mất nhiều chi tiết đao mác, chân…nhưng còn nhận rõ những dáng vẻ và điệu bộ như: mũi hếch, trán rô, mắt lồi, tai dơi… Đây alf dạng đặc trưng của điêu khắc cuối thế kỷ XVII đầu thế kỷ XVIII. Các xà nách của đình chủ yếu được bào trơn soi chỉ, duy có một số đầu xà, rường được điểm hình hoa lá cách điệu, ở các thân bẩy, các cành, hoa, lá trang trí được cách điệu thành các hình tượng lá hóa rồng, lân một cách tinh tế. Những mảng chạm này măng đặc trưng của điêu khắc thế kỷ XIX. Trong đình hiện còn lưu giữ một số di vật quý như 5 đạo sắc phong có niên đại sớm nhất mang niên hiệu Cảnh Hưng thứ 28 (1767), 1 tấm bia đá dựng năm Vĩnh Thịnh thứ 8 (1712), cao 132 cm, rộng 80 cm, dày 4 cm có 2 mặt khắc chữ, một bộ kiệu luyện tạo tác ở thế kỷ XVIII. Các đòn cái được cách điệu thành hình rồng, đòn cái dài 4m, đòn ngang dài 2.1 m và mui luyện uốn cong, một bộ long ngai bài vị thờ Đức bản thổ kỳ Đại vương. Đây là tác phẩm điêu khắc cuối thế kỷ XVIII. Lễ hội của đình làng được dân làng và chính quyền tổ chức vào ngày 11, 12 tháng giêng âm lịch. Mọi người con của thôn quê và ở các nơi tụ hội về đình để tưởng nhớ đến công đức của vị Thành hoàng làng, Đức Thánh gia hậu cùng thầy dạy của ông. Trong các ngày này còn diễn ra các trò chơi truyền thống, sinh hoạt văn hóa dân gian như: tế lễ thành hoàng, múa sen, múa sinh tiền, rước kiệu thánh, rước kiệu lễ vật, bịt mắt bắt dê, đấu vật, chơi đu, chọi gà…Đình Cam Thịnh đã được Nhà nước xếp hạng là Di tích lịch sử văn hóa vào năm 2000, nằm trong vùng đất cổ có nhiều di sản văn hóa quý và truyền thống của làng văn hóa tiêu biểu cấp tỉnh. Di tích đình Cam Thịnh cùng một số nhà cổ ở thôn đã trở thành điểm tham quan thu hút đông đảo du khách trong và ngoài nước. Tuy nhiên, trải qua thời gian dài do tác động của người dân và khách tham quan, hiện tại các hạng mục của đình đã được Nhà nước tu bổ, tôn tạo, đáp ứng nhu cầu tham quan tìm hiểu của du khách và Nhân dân.

Hà Nội

2370 lượt xem

Xếp hạng : Đang cập nhật

Mở

Chùa Ón (Ôn Hòa Tự)

Chùa Ón (Ôn Hòa Tự)

Chùa Ón (Ôn Hòa Tự) Ngôi chùa độc đáo của Di tích Làng cổ ở Đường Lâm Chùa Ón nằm ở khu vực giữa cánh đồng, cách cổng làng Mông Phụ vài trăm mét. Nhìn vào tổng thể của di tích này chỉ giống một ngôi nhà nhỏ với mái ngói mũi ri rêu phong cổ kính, tường được xây bằng gạch chỉ mỏng, nung thủ công. Các vật liệu khác cũng được cất dựng bằng các loại vật liệu truyền thống của vùng bán sơn địa. Tên chữ Nôm của chùa được mọi người quen gọi là Ôn Hòa Tự. Cũng không có nguồn tài liệu nào khẳng định mốc thời gian cụ thể mà dân làng gọi tên chùa Ón, và cũng có nhiều câu hỏi đặt ra là Tại sao gọi là chùa mà không có một vị tượng Phật hay hiện vật quý nào được yên vị để thờ phụng. Vào ngày rằm, mùng 1 đầu tháng cũng hiếm khi thấy có người mang lễ vật ra cúng bái, hành hương (chỉ trừ ngày 3/3 và 1/4 âm lịch hàng năm). Dù đã trải qua một vài lần tu bổ, trong đó lần được thực hiện gần đây nhất là vào năm 2010, với sự giám sát của các chuyên gia thuộc cơ quan hợp tác quốc tế Nhật Bản tại Việt Nam (JICA). Trong quá trình tu bổ, các nhà khoa học Nhật Bản và cán bộ theo dõi thi công, giám sát của cơ quan đã thực hiện thành công gia cố bức tường bị nghiêng của chùa đang ở mức nguy hiểm trở về hiện trạng an toàn. Các hạng mục của chùa Ón được tu bổ tổng thể. Giai đoạn vài năm trở lại đây, dân làng cũng gia cố thêm một số hạng mục phụ cận khác như: đường vào, trồng cây xanh ở xung quanh, mở rộng sân trước của Chùa. Mỗi khi đến thăm nơi này, du khách thường được dân làng kể lại một giai thoại liên quan đến Chùa rằng: Ôn Hòa là tên một vị tướng người Tàu (Trung Hoa cổ đại), khi mãn hạn làm quan ở Việt Nam, ông dành chút thời gian để đi vi hành đến đất Đường Lâm thì thấy cảnh đẹp. Ông bèn xin dân làng cho ở lại khai khẩn, trồng cấy nuôi thân. Sau nhiều năm chịu thương chịu khó tích lũy có bát ăn bát để, ông bèn dựng một ngôi nhà để trấn yểm long mạch cho làng. Vì xuất thân là một võ tướng, có tài võ nghệ nên vào những ngày rảnh rỗi, ông thường mời gọi thanh niên trai tráng trong làng ra để dạy truyền võ nghệ. Ngoài mục đích rèn luyện sức khỏe, còn là để đề phòng giặc giã, cướp bóc đến xâm hại làng xóm. Trước khi lâm chung, ông đã cho đúc quả chuông đồng khắc 4 chữ “Hồng chung ôn hòa”. Tương truyền, dân làng Mông Phụ vẫn lưu giữ đến ngày nay. Ngoài ra, trên 2 câu đầu của chùa, hiện vẫn còn lưu giữ những dòng chữ Hán Nom, tạm đọc là “Khởi tạo Bính Dần niên, Quý xuân, Nhâm Tý nhật, Mão khắc động thổ, Bính cơ, Ất Mão nhật, Dậu thời, thu trụ thương lượng cát. Tạm dịch là: chùa được khởi công năm Bính Thân, cuối mùa xuân, ngày Nhâm Tý, giờ Dậu bắc nóc và phú quý thọ khang (giàu sang, sống lâu, khỏe mạnh).Lễ hội ngày 3/3 tại Chùa Ón. Hội chùa diễn ra vào ngày 3/3 âm lịch hàng năm, cũng trùng với ngày tết Hàn thực của người dân nói chung ở các làng quê đồng bằng Bắc Bộ. Ngoài lễ vật được dân làng sửa soạn cũng lễ, bao gồm: xôi, gà thiến, oản quả, hương hoa thì nhất định trai làng phải khiêng quả chuông nặng 145kg từ trong đình Mông Phụ ra đây để đánh 3 hồi 9 tiếng (nhưng tổng cộng phải là 99 tiếng). Người nào được dân làng tín nhiệm sử đánh chuông phải dốc sức tâm niệm mà hoàn thành, nếu không là có lỗi với thánh thần. Sau khi cúng lễ xong, Ban tổ chức tiến hành các thủ tục để khai hội vật chàu Ón. Gọi là “hội” nhưng quãng thời gian tồn tại sôi nổi của nó chỉ kéo dài vài ba tiếng đồng hồ, từ 15h đến lúc xẩm tối là kết thúc. Thông thường, có nhiều người tham gia đấu vật, chủ yếu là trai làng và các vùng lân cận. Theo các cụ kể lại thì những năm đất nước còn chiến tranh thì xới vật vắng bóng trai tráng, chỉ có tầng lớp người cao tuổi và đám trẻ nhỏ. Thời hòa bình, hội vật được tổ chức sôi nổi và có những keo vật hồi hộp hơn, mang lại cảm xúc cho nhiều người xem, thể hiện ý chỉ, sức khỏe. Giải thưởng vì thế cũng được tăng dần. Nguồn phí trao thưởng và tổ chức cũng được nhiều tổ chức, cá nhân trong và ngoài làng tình nguyện ủng hộ thông qua những pha ghì kìm đối thủ, mẹo lừa miếng, kết liễu đối thủ… Vào ngày 1/4 âm lịch, ở nhiều nơi khác, dân làng cũng tổ chức lễ vào hạ tại các di tích, tại làng Mông Phụ, song song với việc tổ chức cúng lễ trong đình Mông Phụ, có món lễ vật là cháo cũng được mang ra đây để dâng quan Thần Ôn. Cháo được múc ra những cái gọi là bù đài lá đa, cầm dọc từ chùa Ón ra đến đường cái chính. Xưa kia, mỗi dịp vào hè, khu vực làng quê thường phải gánh chịu những nạn dịch, sâu bệnh, gây nên thất thu hoa màu, thời tiết nóng bức dễ sinh bệnh, ảnh hưởng đến sức khỏe con người. Thế nên, cũng lễ ở ngày này cũng thể hiện ý nghĩa là cầu mát (một mùa hè ít nóng nực) và cầu an (một mùa hạ an lành). Mỗi lần du khách hành hương về thăm di sản văn hóa Làng cổ ở Đường Lâm, nếu một lần ghé thăm ngôi chùa cổ độc đáo này còn được các cụ cao niên trong làng kể cho nghe một vài giai thoại hấp dẫn khác. Tuy di tích đơn sơ, nhỏ bé nhưng là tài sản văn hóa quý của dân làng, đã được bao thế hệ người dân gây dựng, gìn giữ, trải qua những giai đoạn lịch sử, di sản nay vẫn tồn tại giữa cánh đồng với màu sắc trầm mặc rêu phong cổ kính, di sản ấy đã chứng kiến biết bao đổi thay của cuộc sống, con người làng quê truyền thống, văn hiến.

Hà Nội

2455 lượt xem

Xếp hạng : Đang cập nhật

Mở

Đình Hạ Thái

Đình Hạ Thái

Di tích kiến trúc nghệ thuật đình Hạ Thái, xã Duyên Thái, huyện Thường Tín, Hà Nội là một trong số 15 di tích của cả nước được Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch xếp hạng di tích quốc gia trong đợt 1/2017. Bộ VHTTDL vừa có quyết định số 824/QĐ- BVHTTDL công nhận Di tích kiến trúc nghệ thuật đình Hạ Thái, xã Duyên Hải, Thường Tín, Hà Nội là di tích quốc gia. Đình Hạ Thái, xã Duyên Thái, huyện Thường Tín mang đậm nét kiến trúc của đồng bằng Bắc bộ với cây đa, bến nước, sân đình. Đây là nơi thờ hai vị thành hoàng làng là quan võ thời Lê Bùi Sĩ Lương và bà Đinh Thị Trạch (hay còn gọi là bà Lạy) người đã hy sinh tính mạng của mình để cho dân làng thoát nạn cống nạp người. Thần phả ghi lại rằng: trước đây vùng đất này hoang vu, cây cối um tùm và dân cư thưa thớt. Lúc đó trong rừng có một con hổ dữ, dân làng gọi là hổ lang thường tìm về bắt người và gia súc ăn thịt. Không thể thu phục được con hổ đã thành tinh này nên hàng năm dân làng đành phải cống nạp cho hổ một người vào ngày 10/11. Trong làng có bà Lạy, một người đàn bà không chồng, không con, thấu hiểu nỗi đau và mất mát của dân làng, bà đã tự nguyện dâng mình cho hổ với mong muốn việc cống nạp này sẽ chấm dứt. Lời khấn cầu nguyện của bà trước trời đất có vẻ linh thiêng và ứng nghiệm, bởi kể từ ngày 10/11 năm đó khi hổ đến vồ bà Lạy và đưa đi mất, người dân không còn thấy hổ quay lại quấy phá nữa. Để tưởng nhớ công ơn của bà, người dân đã xây miếu thờ, sau này bà được tôn làm thành hoàng làng và miếu đó trở thành đình làng Hạ Thái và lấy ngày 10/11 hàng năm là ngày hội làng truyền thống. Đình làng Hạ Thái còn liên quan đến quan võ thời Lê Bùi Sĩ Lương (1544-1597), ông làm đến chức Thái sư kiêm Điện Tiền Chỉ Huy Sứ. Là người thông minh văn võ song toàn, ông có công lớn trong phò Lê, diệt Mạc. Khi đến Hạ Thái, nhận thấy vùng đất nơi này có thế rồng chầu hổ phục, ông đã chọn Hạ Thái để lập gia trang và dạy dân lập nghiệp, vì vậy sau khi mất, ông cũng được tôn là Thành hoàng làng. Lễ hội làng Hạ Thái diễn ra từ ngày 9 đến 11/11 âm lịch hàng năm và thu hút được đông đảo du khách thập phương về tham dự. Nguồn Sở văn hóa và thể thao thành phố Hà Nội.

Hà Nội

7394 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

ĐÌNH HẠ, ĐÌNH THƯỢNG

ĐÌNH HẠ, ĐÌNH THƯỢNG

Đình Hạ, đình Thượng thuộc xã Tự Nhiên, huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội. Theo truyền thuyết, thần phả và các đạo sắc phong còn lưu lại thì hai đình thờ Chử Đồng Tử (một trong tứ bất tử của người Việt) cùng hai phu nhân là công chúa Tiên Dung và nàng Hồng Vân. Sau khi công chúa Tiên Dung lấy Chử Đồng Tử làm chồng, hai người đã học được phép tiên trị bệnh cứu người và cùng dân làng cải tạo, mở mang đất đai, trồng trọt, chăn nuôi lập nên xóm làng trù phú. Vua Hùng nghe tin, cả giận sai quân lính bắt về triều đình để trị tội. Biết tin đó, Chử Đồng Tử và Tiên Dung hóa phép bay về trời, mang theo nàng Hồng Vân của đất Tự Nhiên. Nhân dân biết ơn lập đền thờ. Đình Thượng và đình Hạ là hai công trình kiến trúc nằm song song, có niên đại tương đồng nhau, được khởi dựng vào thời Hậu Lê; tôn tạo, tu sửa làm Hậu cung vào cuối triều Nguyễn. Có điểm khác nhau là Đại bái đình Thượng không có tích “Rồng mẫu tử” mà có tích “Độc long”. Đình Thượng có 69 đạo sắc phong nhiều hơn đình Hạ 03 sắc phong. Lễ hội của làng Tự Nhiên diễn ra vào ngày mồng 1 tháng 4 (âm lịch). Vào ngày này, dân làng tổ chức lễ rước Long Ngư bao gồm 07 cỗ kiệu của ba đình: Đình Thượng, đình Hạ, đình Thủy tộc để tái hiện lại thiên tình sử mấy ngàn năm về trước của Chử Đồng Tử và Tiên Dung. Hai ngôi đình đều được xếp hạng di tích cấp Quốc gia: Đình Hạ xếp hạng năm 1988, đình Thượng xếp hạng năm 2002. Nguồn Cổng thông tin điện tử huyện Thường Tín , thành phố Hà Nội.

Hà Nội

6234 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Di tích Đình, Đền, Chùa Đào Xá.

Di tích Đình, Đền, Chùa Đào Xá.

Đến với làng Đào Xá, xã Thắng Lợi, huyện Thường Tín, du khách sẽ được chiêm bái những nét cổ kính, độc đáo của cụm di tích đình, chùa với những nét tinh xảo, độc đáo trong kiến trúc, được hòa mình vào không gian xanh, sạch, đẹp của làng quê yên bình với con người tài hoa, thân thiện, hiếu khách… Xã Thắng Lợi, huyện Thường Tín, nổi tiếng bởi có làng thêu Đào Xá với những sản phẩm có chất lượng nghệ thuật tinh xảo. Nơi đây còn là điểm đến của nhiều du khách xa gần bởi một tổng thể kiến trúc liên hoàn đặc sắc là đình Đông, đình Tây, chùa Đào Xá. Cả 3 di tích này đều được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xếp hạng Di tích lịch sử – văn hóa cấp quốc gia vào năm 2000. Đào Xá sở hữu nét đặc biệt mà ít có địa phương nào có được đó là trong một làng lại có tới 2 ngôi đình liền kề nhau. Hai ngôi đình được phân biệt theo cách gọi mộc mạc, dân dã: Đình Đông và đình Tây. Đình Tây Đào Xá vốn là đền thờ Chử Đồng Tử (một trong Tứ bất tử của người Việt) và Tiên Dung công chúa. Tương truyền, Chử Đồng Tử và Tiên Dung trong một lần đi ngang qua làng Đào Xá thấy phong cảnh hữu tình bèn dừng lại nghỉ chân. Để tưởng nhớ Đức thánh và Công chúa, người dân đã lập đền thờ. Đền được xây dựng thời Chính Hòa nguyên niên (1680-1705), đời vua Lê Hy Tông, có kiến trúc theo kiểu chữ “nhị”. Sau này, đền trở thành đình làng. Trước đại bái đình Tây có đôi sấu đá – linh vật phổ biến thời Lý – Trần, còn nguyên vẹn. Đại bái có 5 bậc lên, mái lợp ngói vảy cá, trên đắp nổi hình lưỡng long tranh châu, hai bên hồi có mái. Khoảng cách nối giữa đại bái và thượng điện khoảng 1m, hai bên cổng đắp hình tờ thánh chiếu đang mở ra. Hai bên vách đại bái có hai tấm bia đá chìm ghi lại sự kiện trùng tu đình. Đại bái có 2 bức đại tự chữ Hán “Nhạc độc chung linh” và “Thượng đẳng linh từ” ca ngợi công đức của đức thánh Chử Đồng Tử. Hệ thống cột gỗ được đặt trên các bệ đá, các đầu bảy được điêu khắc hình rồng tinh xảo cùng các linh vật được điêu khắc rời đặt trên hệ thống xà. Đình Đông Đào Xá trước là đền Lá Cọ, được xây dựng vào đầu thế kỷ XX theo kiểu kiến trúc liên hoàn hình chữ “tam”. Ba nếp nhà cao dần từ ngoài vào trong, nhà tiền tế có 4 hàng cột gỗ đặt trên trụ đá kiểu thắt cổ bồng, bên trái là một con chó đá nằm quay đầu ra ngoài. Ngôi đền thờ ông tổ nghề thêu Lê Công Hành (1606-1661), quê gốc ở làng Quất Động (nay là xã Quất Động, huyện Thường Tín). Nhờ giá trị tâm linh to lớn, đền được chuyển thành đình và được gọi là đình Đông để phân biệt với đình Tây thờ Chử Đồng Tử – Tiên Dung. Đình Đông có quy mô nhỏ hơn đình Tây. Đình Đông Đào Xá là nơi tổ chức lễ giỗ tổ nghề thêu Lê Công Hành vào ngày 12 tháng Sáu (âm lịch) hằng năm. Nằm giữa hai ngôi đình là chùa Đào Xá (Vân La tự), có quy mô nhỏ, với 36 pho tượng được bài trí theo từng lớp từ bái đường đến thượng điện. Trước sân chùa có cây hương chạm chữ Hán: “Vĩnh Khánh nguyên niên tuế tại Ất Dậu ngũ nguyệt cốc nhật” (dựng năm 1729, thời vua Lê Duy Phường). Đào Xá là một trong số ít làng còn giữ được kiến trúc tâm linh liên hoàn đình – đền – chùa và hệ thống sân, cổng, ao cùng cây cổ thụ. Tam quan là cổng chung cho cả quần thể được điêu khắc chi tiết. Trải qua thời gian, tam quan mang vẻ đẹp cổ kính, uy nghiêm. Mỗi cổng đều có 2 tầng, gác chuông, lầu khánh. Cổng chính đề 4 chữ Hán “Nhật chiếu nguyệt lâm”, hướng về phía tây nam, cao 15m, trước mặt là sân rộng tạo vẻ uy nghi, bề thế khi nhìn từ phía xa. Lễ hội làng Đào Xá tổ chức vào ngày 12 tháng Hai (âm lịch), cứ 5 năm lại tổ chức lễ tắm Thánh Chử Đồng Tử và Tiên Dung công chúa bằng nước lấy ở đầm Dạ Trạch (tỉnh Hưng Yên). Với những giá trị lịch sử to lớn, năm 2000, di tích đình Đông, đình Tây và chùa Đào Xá được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xếp hạng Di tích lịch sử – văn hóa cấp quốc gia. Năm 2009, làng Đào Xá được UBND thành phố Hà Nội công nhận là Làng nghề truyền thống. Đào Xá được nhiều du khách xa gần chọn làm điểm đến trong hành trình du lịch văn hóa tâm linh. Đến với Đào Xá, du khách sẽ được chiêm bái những nét cổ kính, độc đáo của cụm di tích đình chùa với những nét tinh xảo, độc đáo trong kiến trúc, được hòa mình vào không gian xanh, sạch, đẹp của làng quê còn giữ được những nét đặc trưng của nông thôn đồng bằng Bắc bộ. Không những thế, nếu có thời gian, du khách sẽ có thêm những trải nghiệm tuyệt vời tại làng nghề thêu Đào Xá để hiểu thêm về vùng đất, con người nơi này. Nguồn Sở văn hóa và thể thao thành phố Hà Nội.

Hà Nội

6392 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Đình Hà Hồi

Đình Hà Hồi

Hà Hồi là xã ở phía đông bắc huyện Thường Tín. Trước cách mạng tháng Tám năm 1945, xã Hà Hồi thuộc tổng Hà Hồi, phủ Thường Tín, tỉnh Hà Đông. Nhắc đến xã Hà Hồi phải nói đến ngôi đình cổ nằm trong trung tâm xã - đình Hà Hồi, là một trong 6 ngôi đình cổ của vùng đồng bằng Bắc bộ còn tồn tại đến ngày nay. Đình được xây dựng cách đây khoảng hơn 400 năm vào thời nhà Lê, thế kỷ XVI. Theo các nhà khảo cổ học, thì ngôi đình được xây dựng vào năm 1578, đời Mạc Mậu Hợp, thờ Đức thánh Cao Sơn là Thành hoàng của làng. Do có nhiều công lao với dân với nước, ngài Cao Sơn Đại vương đã được các triều đại phong tặng 24 sắc phong còn lưu giữ đến ngày nay, sắc phong cao nhất là Thượng đẳng tối linh thần. Theo dòng lịch sử, ngôi đình đã trải qua nhiều triều đại, sự thăng trầm của thời gian và chiến tranh, đình được tu bổ nhiều lần, song vẫn giữ nguyên được những giá trị nghệ thuật, kiến trúc tinh hoa của các nghệ nhân xưa. Đình Hà Hồi được xây dựng bố cục theo hình chữ Tam, hướng Nam chếch Đông, trước mặt là một thủy đình khá lớn. Tòa đại đình gồm 3 hạng mục lớn, nằm song song liền kề, gồm: Đại bái, Trung cung và Hậu cung. Mái đình được thiết kế theo kiểu hình thuyền lợp ngói mũi, các vì kèo được thiết kế theo hệ thống chồng giường, tạo nên sự vững chắc bề thế cho ngôi đình, phần nền được lát đá nguyên khối, tạo không gian thoáng mát. Đình còn lưu giữ bảo tồn được các mảng kiến trúc chạm trổ, điêu khắc nghệ thuật, thể hiện ở các bức cốn như: Tứ linh (Long, lân, quy, phượng), chuột ngó đầu gậm lá sen, các đầu dư, đầu bẩy chạm khắc rồng hết sức mềm mại và tinh vi. Bức hoành phi ở Trung cung phiên âm hán việt là: “Hộ quốc tí dân” (dịch nghĩa: Phù giúp đất nước, che chở muôn dân). Bên cạnh là đôi câu đối. Phiên âm Hán việt như sau: “Nãi văn nãi vũ, thần công hà hải hộ khang dân, Tối tú tối linh, thánh đức thường lưu phù quốc thái.” Dịch nghĩa: “Là văn là võ, công lao của thần như biển hồ ngầm giúp dân chúng yên ổn, Xuất chúng uy linh, đức của thánh lưu truyền phù trì vận nước thái bình”. Ngoài gian Đại bái có bức hoành phi chính giữa đề 04 chữ là “Sơn anh hà tú” (Tạm dịch nghĩa là: Núi sông anh linh tối tú). Ngoài ra đình còn lưu giữ được nhiều câu đối, hoành phi, cửa võng…và các hạng mục kiến trúc theo phong cách truyền thống bắc bộ, đặc biệt là hai pho tượng phỗng đá Xiêm Thành ngay trước cửa Hậu cung. Phía ngoài sân, trước thềm đại bái, hai đầu hồi có hai tượng chó đá, chính giữa có hai bệ đá chạm khắc rồng tinh tế, tỉ mỉ bằng đá Lam Sơn (Thanh Hóa). Hai dãy nhà hai bên (tả mạc – hữu mạc) hơi lùi xuống so với tòa Đình chính. Nhìn tổng thể từ ngoài vào cổng đình Hà Hồi có tới 5 cửa hay còn gọi là (ngũ môn), khác với những ngôi đình khác, cổng được xây dựng thiết kế theo hình vòng cung, ôm lấy ngôi đình, ba cửa chính giữa có dáng dấp của một tam quan, cửa chính cao tới 15m, tầng dưới được xây thành những khối vuông, cửa dạng cuốn vòm, mái kiểu chồng diêm lợp ngói ri. Hai bên cửa phụ được xây dựng nhỏ hơn, theo kiểu một tầng, nối với tường chạy bao quanh diện tích vào đến nhà Tả mạc - hữu mạc. Qua khỏi Ngũ môn nối với khoảng sân hẹp bắc qua thủy đình là chiếc cầu gạch có 5 nhịp, thành cầu được trang trí những viên gạch có màu men xanh ngọc. Có thể nói, Đình Hà Hồi là công trình kiến trúc nghệ thuật, toàn bộ không gian là tổng hòa của tri thức, ở đó mang hồn cốt kiến trúc dân tộc, ẩn chứa trong mình cả một hệ thống văn hóa – lịch sử. Với những giá trị nghệ thuật và giá trị lịch sử, Đình Hà Hồi như một báu vật lịch sử mà tiền nhân để lại cho hậu thế. Ngày 23/12/1985, Đình Hà Hồi đã được Bộ Văn hóa thông tin công nhận là Di tích lịch sử văn hóa cấp Quốc gia. Nguồn Cổng thông tin điện tử huyện Thường Tín , thành phố Hà Nội.

Hà Nội

6535 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Đình Tổng La Phù

Đình Tổng La Phù

Đình Tổng La Phù là ngôi đình của tứ dân La Uyên, Phúc Trại, Thọ Ngãi, Mai Hồng (xã Tân Minh) và Mai Sao (xã Nguyễn Trãi), tổng La Phù, huyện Thượng Phúc xưa (nay thuộc xã Tân Minh, huyện Thường Tín, Hà Nội), xây dựng nên cách đây gần năm thế kỷ. Đình vẫn được gọi theo tên tổng là đình La Phù. Đình tọa lạc trên một mảnh đất vìa làng thôn La Uyên, phía trước đình là dòng sông Nhuệ Giang, con đường giao thương thủy quan trọng của đất nước, nối kinh đô Thăng Long về miền Sơn Nam Thượng trước kia. Đây cũng là một trong số ít ỏi những ngôi đình tổng cổ xưa nhất không chỉ của Hà Nội, mà của cả vùng đồng bằng Bắc Bộ. Theo như cuốn ngọc phả và những tư liệu dã sử trong dân gian cho biết, đình Là thơ 3 vị thần là đức thánh cả Minh Lang đại vương, đức An Lang đại vương và đức Xạ Thần đại vương. Tam vị đại vương là những vị anh hùng, có công với dân với nước, hiển linh được nhân dân tôn vinh. Đức thánh cả Minh Lang đại vương chính là tướng quân Nguyễn Phúc, một cựu thần thời hậu Lê. Ông vốn là người xã Đoàn Tùng, huyện Trường Tân của xứ Đông (nay thuộc Hải Dương), đỗ tiến sĩ Hoàng giáp khoa Quý Dậu, năm Thái Hòa 11 (1453) triều Lê Nhân Tông. Cuộc đời làm quan, ông từng giữ chức Hàn lâm đại học sĩ, kiêm chức chức Thái phó, thầy dạy Lê Thánh Tông lúc nhỏ tuổi. Khi vua Lê Thánh Tông đi đánh giặc Chiêm Thành, sai Nguyễn Phúc chỉ huy việc vận chuyển quân lương. Trên đường biển vận chuyển gặp gió bão, quân lương vào chậm một ngày nên bị tử phạt theo quân luật. Do có quân lương nên nhà vua mới đánh thắng quân Chiêm Thành. Khi trở về luận công ban thưởng, vua Lê Thánh Tông minh oan cho Nguyễn Phúc và phong cho ông là Minh lang Đại vương, hộ quốc cứu dân, bảo quốc công thần, đồng thời, sắc chỉ cho 72 nơi thờ phụng. Nguyên xưa đình chỉ có một ngôi nhà Đại bái, công trình kiến trúc nghệ thuật xây dựng từ thời Mạc, cấu trúc mặt bằng hình chữ nhật dài 24m30m, rộng 9m30, hiên rộng 1m30, bốn mái đình rộng, xòe thấp. Các tàu mái bốn phía chạy uốn hình mạn thuyền, giao nhau tạo các góc đao uốn cong lượn lên trời. Tàu đao gỗ chạm cánh hoa. Bờ nóc, bờ dải mái đình đắp bờ đinh. Các lá mái đình lớp ngói mũi hài. Vào thời Nguyễn đời vua Bảo Đại 11 (1936) xây thêm hậu cung 3 gian là một ngôi nhà ở phía sau nằm song song với Đại bái. Đến năm 1948, giặc Pháp đốt phá hậu cung, khi hòa bình thống nhất đất nước nhân dân đóng góp xây dựng lại. Đặc biệt, về nghệ thuật điêu khắc thời Lê – Mạc trên kiến trúc hai bộ vì gian giữa phía sau giáp hậu cung, một bộ rường cốn có mảng điêu khắc nghệ thuật đúc chạm lộng một con rồng tạo nên khối hình ô van, con rồng hình yên ngựa, đấu đầu vào giữa thân lộ ra đôi mắt lồi, mũi tròn, miệng loe, tai dơi, từ đầu rồng phát ra hai phía những tia mác mảnh. Đây là tác phẩm nghệ thuật điêu khắc trên gỗ của thời Mạc khá sinh động. Trên bộ vì hạ rường cốn thứ hai phía sau giáp hậu cung được chạm rồng thời Mạc ở trên đấu, trên thân đầu rường và mảng cốn. Con rồng ở đây nguyên hình thể khối hình yên ngựa tai lớn, mắt lồi, đuôi bút lông. Mặt rồng ở giữa đặt trên lưng yên ngựa, miệng rộng, mũi dẹt và trán nhô cao. Những gì còn sót lại ở đình La Phù, tuy không nhiều nhưng cũng đã góp phần cung cấp tư liệu cho việc nghiên cứu mỹ thuật. Thời Mạc đình là một trong 5 ngôi đình mang dấu ấn của đình cổ xưa nhất. Phía tiếp sau là hậu cung, ngôi nhà 3 gian nằm phía sau và chạy song song với Đại bái được xây tường hồi bít đốc, hai mái chảy, lợp ngói ri bờ nóc chữ đinh, kìm đấu hình chữ nhật, kiến trúc gỗ của những bộ vì làm theo hình thức quá giang kèo cầu và có hệ thống trần vòm của mái cua. Hiện, đình Là còn lưu giữ được nhiều hiện vật quý hiếm như thần phả, 38 đạo sắc phong, đạo sớm nhất đời vua Lê Vĩnh Thịnh (1705); một kiệu bát cống chạm đầu rồng, miệng ngậm ngọc, mũi to tròn, bờm tóc lưới mác bay về phía sau phong cách nghệ thuật thời Lê; 5 tấm ván thưng chạm rồng yên ngựa thời Mạc; 2 rùa đá nghệ thuật điêu khắc thời Lê; 3 bộ hoành phi câu đối; 3 cỗ ngai chạm khác đầu rồng thời Nguyễn… Mỗi năm đình Là mở hai lần hội, xuân thu nhị kỳ. Trong đó hội chính là vào ngày 12 tháng 8 âm lịch. Hội lệ hàng năm vẫn diễn ra bình thường, nhưng hội chính thì 2 năm mới tổ chức một lần và 3 ngày 11, 12, 13 tháng 8 âm lịch. Với những giá trị về lịch sử, văn hóa, kiến trúc và nghệ thuật, đình Là đã được Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch công nhận là Di tích cấp Quốc gia năm 2003. Nguồn Cổng thông tin điện tử huyện Thường Tín , thành phố Hà Nội.

Hà Nội

6235 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Đền thờ Nguyễn Trãi .

Đền thờ Nguyễn Trãi .

Nhà thờ Nguyễn Trãi thuộc xã Nhị Khê, huyện Thường Tín, Hà Nội. Nguyễn Trãi (1380 - 1442), người anh hùng dân tộc, nhà văn hoá kiệt xuất, là danh nhân văn hoá thế giới, đã được Tổ chức-giáo dục Khoa học và Văn hoá của Liên hợp quốc (UNESCO) công nhận năm 1980. Nhà thờ Nguyễn Trãi được xây dựng ở thôn Nhị Khê, xã Nhị Khê, huyện Thường Tín. Ở Côn Sơn (Hải Dương) và các nơi khác cũng có đền thờ danh nhân - anh hùng dân tộc Nguyễn Trãi. Cổng làng Nhị Khê đắp nổi bốn chữ Hán lớn: “Như kiến đại tân” (như thấy người khách lớn). Đó là tấm lòng của cổ nhân quý khách đến làng. Cổng này còn có tên gọi là “Cổng Quốc” - tương truyền gọi như vậy là để tưởng nhớ vị khai quốc công thần Nguyễn Trãi. Qua Cổng Quốc một đoạn đường ngắn là tới khu vực nhà thờ Nguyễn Trãi có tượng đài Nguyễn Trãi, nhà thờ, nhà trưng bày “Thân thế sự nghiệp Nguyễn Trãi”, thư viện Nhị Khê. Từ đó đến nay nhà thờ đã đón tiếp hàng triệu lượt khách đến tham quan chiêm ngưỡng và mọi người cùng có cảm tình với một tác phẩm có nội dung tốt, đã khắc họa chân dung Nguyễn Trãi - con người văn võ toàn tài. Qua khu tượng đài là đến nhà thờ. Phía trước nhà thờ có hồ bán nguyệt. Nhà thờ có hệ thống cột trụ, tường bao, cổng pháo... được đắp vẽ công phu theo kiểu đình làng. Qua một sân gạch nhỏ là tới Đại bái, nhà thờ Nguyễn Trãi được xây dựng bằng gỗ tứ thiết, đầu hồi bít đốc, trên lợp ngói ri cổ. Nhà thờ mang dáng dấp kiến trúc thời Nguyễn - kết quả của những tu bổ ở thế kỷ XIX. Nghệ thuật kiến trúc thiên về bền chắc, bào trơn, đóng bén. Nét nổi bật ở tòa Đại bái là các bức đại tự, hoành phi và câu đối đều được sơn son thếp vàng hoặc thếp bạc phủ hoàn kim thể hiện lòng tôn kính, biết ơn đối với bậc công thần, đại thi hào Nguyễn Trãi. Đó là các hoành phi: Khai quốc nguyên huân, Bình Ngô khai quốc, Bình dị cận dân.. Trên ban thờ Nguyễn Trãi ở Hậu cung có bức tranh chân dung Nguyễn Trãi, hòm sắc phong của các triều Lê và Nguyễn. Đặc biệt có một biển để trang trọng lời vua Lê Thánh Tông, năm Quang Thuận thứ 5 (1464) “Ức Trai tâm thượng quang khuê tảo” (tấm lòng Nguyễn Trãi sáng đẹp như sao khuê). Đó là lời minh oan của nhà vua đối với Nguyễn Trãi. Đến thăm nhà thờ Nguyễn Trãi, khách sẽ được giới thiệu “Trại Ổi”, “Ao Huệ” nói về thân phụ của Nguyễn Trãi là Nguyễn Phi Khanh đã mở trường dạy học. Sự nghiệp vĩ đại của Nguyễn Trãi in đậm lên mảnh đất Nhị Khê. Nhà thờ Nguyễn Trãi đã được tu sửa nhiều lần. Nhân Đại lễ 1000 năm Thăng Long - Hà Nội, thành phố Hà Nội và huyện Thường Tín đã đầu tư kinh phí để trùng tu, tôn tạo lại toàn bộ khu tưởng niệm Nguyễn Trãi. Nhà thờ Nguyễn Trãi đã được Bộ Văn hoá và Thông tin xếp hạng di tích lịch sử lưu niệm danh nhân năm 1964. Nguồn Cổng thông tin điện tử huyện Thường Tín , thành phố Hà Nội .

Hà Nội

8158 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Chùa Đậu

Chùa Đậu

Chùa Đậu (Thường Tín, Hà Nội) được công nhận hai kỷ lục quốc gia: Là nơi có tượng nhục thân đầu tiên ở Việt Nam và sở hữu cuốn sách ghi lịch sử chùa bằng đồng có nhiều trang và cổ xưa nhất Việt Nam. Tọa lạc trên một gò đất cao giữa cánh đồng làng Gia Phúc (xã Nguyễn Trãi, huyện Thường Tín, Hà Nội), Chùa Đậu - Đệ nhất danh lam cổ tự - trong hơn 1.800 năm qua vẫn luôn trầm mặc dưới bóng những hàng cây xanh mát, xung quanh là các hồ nước bao bọc và dòng sông Nhuệ hiền hòa chảy phía sau. Chùa Đậu có tên chữ là Thành Đạo Tự hoặc Pháp Vũ Tự, dân gian thường gọi là chùa Vua, chùa Bà, hay chùa Đậu, mỗi tên gọi đều gắn với một huyền tích. Theo cuốn sách cổ bằng đồng hiện vẫn đang được lưu ở Chùa Đậu, chùa được khởi công xây dựng từ thời Sỹ Nhiếp vào thế kỷ thứ III sau Công nguyên, cùng thời điểm xuất hiện sự tích về Phật mẫu Man Nương và hệ thờ Phật Tứ Pháp (bao gồm Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi, Pháp Điện). Ban đầu, chùa có tên là Thành Đạo Tự, sau khi chùa rước Đại thánh Bồ tát Pháp Vũ (vị nữ thần cai quản mưa) về thờ thì được gọi là Pháp Vũ Tự. Thời phong kiến, ngôi chùa chủ yếu dành cho các vị vua đến lễ Phật, còn người dân chỉ được vào lễ bái khi có lễ hội nên dân gian gọi là Chùa Vua. Chùa thờ Bồ tát Pháp Vũ hiện thân là nữ nên người dân cũng gọi là chùa Bà. Ngôi chùa nổi tiếng linh thiêng, các bậc chí sỹ cầu nghiệp lớn ở đây đều thi đậu khoa bảng, công thành danh toại; người làm nông cầu mùa màng bội thu cũng được như ý nguyện nên dân gian gọi tên khác là Chùa Đậu. Dưới thời vua Lê Thần Tông (thế kỷ XVII), chùa bị xuống cấp, sau đó được trùng tu lại, uy nghiêm và khang trang hơn. Sau đó, Vua ban sắc phong chùa là “An Nam đệ nhất danh lam” tức "Danh lam số một của nước Nam." Phật tử và nhân dân quanh vùng coi là đất Phật bởi sự linh ứng mà chùa mang lại. Chùa Đậu không chỉ có địa thế tuyệt đẹp như đang ngự trên bông hoa sen đang nở, mà còn là một quần thể kiến trúc nguy nga mang những nét nghệ thuật kiến trúc đặc trưng của các vương triều Lý-Trần-Lê-Nguyễn. Đặc biệt, chùa nổi tiếng với nhục thân Bồ tát của hai vị thiền sư tu hành đắc đạo Vũ Khắc Trường và Vũ Khắc Minh. Đây là hai trường hợp cực kỳ hiếm gặp trong chặng đường tu tập Phật giáo của các bậc thiền sư trong nước và trên thế giới. Với bề dày lịch sử, lưu giữ nhiều giá trị văn hóa, kiến trúc, nghệ thuật, Chùa Đậu đã được Nhà nước xếp hạng Di tích lịch sử, nghệ thuật loại A từ năm 1964. Hai pho tượng nhục thân của hai vị thiền sư được Nhà nước công nhận là Bảo vật Quốc gia năm 2016; Chùa Đậu cũng được xác lập kỷ lục là ngôi chùa có tượng nhục thân đầu tiên tại Việt Nam. Nguồn Cổng thông tin điện tử huyện Thường Tín , thành phố Hà Nội.

Hà Nội

7320 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Đền Bà Kiệu

Đền Bà Kiệu

Đền Bà Kiệu tọa lạc tại số 59 Đinh Tiên Hoàng, phường Lý Thái Tổ, Hoàn Kiếm, Hà Nội. Theo sử sách, đền Bà Kiệu có tên chữ là “Thiên Tiên điện” hay “Huyền Chân Từ”, trước đây thuộc thôn Tả Vọng, huyện Thọ Xương, tỉnh Hà Nội. Giữa thế kỷ XIX, đền thuộc thôn Hà Thanh, phường Đông Các, huyện Thọ Xương. Đầu thế kỷ XX, đền thuộc phố Bờ Hồ (Rue du Lac), tọa lạc theo hướng Nam, đối diện đền Ngọc Sơn. Đền thờ ba vị nữ thần là Liễu Hạnh Công chúa, Đệ nhị Ngọc Nữ và Đệ tam Ngọc Nữ (Quỳnh Hoa và Quế Hoa). Theo Thăng Long cổ tích khảo thì đền xây vào thời nhà Lê triều Vĩnh Tộ (1619-1628), đến triều Cảnh Hưng thì mở rộng thêm. Vào thời Tây Sơn triều Cảnh Thịnh đền đúc quả chuông lớn. Triều vua Tự Đức ngôi đền được tu sửa lần nữa. Đền Bà Kiệu xưa kia khá khang trang trong một khuôn viên đẹp và rộng rãi. Năm 1891, do thực dân Pháp xây đường vòng quanh Hồ Gươm nên khu đền bị tách làm hai phần: Tam quan nằm sát ven hồ Gươm gồm ba gian xây gạch kiểu “tường hồi bít đốc”, mái lợp ngói ta với các bộ vì kiểu chồng rường đỡ mái, thân các con rường chạm nổi hoa văn thực vật, vân mây; Kiến trúc chính gồm đại bái, phương đình và hậu cung được xấp theo dạng chữ “công”. Nhà đại bái gồm ba gian xây gạch kiểu tường hồi bít đốc, mái lợp ngói ta, mái nhỏ đều như gợn sóng . Bộ mái gần gũi với phong cách kiến trúc của cố đô Huế. Bờ nóc có dạng bờ đình, bên trên gắn hình cá hoá rồng bằng gốm hoặc men xanh đang nhìn vào bình nước thiêng ở giữa. Bộ khung được làm khá vững chắc với 8 cột trụ bằng gỗ lim, chu vi cột cái 115cm, cột quân 105cm. Các cột hiên nhỏ hơn được làm bằng đá trắng, hình hộp chữ nhật mỗi cạnh rộng 25cm. Nhà Tiền tế có 4 tượng cá chép hóa rồng đặt trên xà và dưới điểm của hai mái sau, trước. Các tường dẹt, được thể hiện khá sinh động, chau chuốt và đem lại hiệu quả đáng kể cho kiến trúc đền. Liền sau tiền tế là một kiến trúc nhỏ dựng trên bốn chân cột lớn kiểu phương đình, hai tầng bốn mái. Bốn mái chạm mảng hoa văn truyền thống phổ biến theo kiểu kiến trúc thời Nguyễn. Hậu cung là nơi tọa lạc của các vị thần được thờ với một nếp nhà ngang xây gạch kiểu “tường hồi bít đốc”. Các nữ thần được tọa lạc trong một khám thờ lớn, chạm khắc cầu kỳ. Lớp trên gồm ba pho trong tòa Thánh Mẫu. Lớp dưới có các tượng Công chúa Liễu Hạnh và hai tiên nữ Quỳnh Hoa, Quế Hoa. Ngoài khám thờ còn có bốn tượng nhỏ (hai tượng cô, hai tượng cậu). Hai bên có hai khám thờ nhỏ, bên phải đặt tượng chầu thủ đền, bên trái là Bà Chúa Thượng Ngàn. Hai bên là nơi thờ những vị thần phổ biến trong tín ngưỡng thờ Mẫu. Đền Bà Kiệu hiện còn giữ được bộ sưu tập di vật văn hoá lịch sử gồm nhiều chủng loại và chất liệu khác nhau trải dài qua ba triều đại Lê, Tây Sơn, Nguyễn. Trong đó phải kể đến bốn tấm bia đá dựng năm Cảnh Thịnh 8 (1800), Tự Đức 19 (1866) cùng hệ thống 27 đạo sắc từ triều Lê, Tây Sơn đến Nguyễn phong thần cho Bà Chúa Liễu và hai vị tiên nữ. Di tích đền Bà Kiệu đã được Bộ văn hóa – Thông tin (nay là Bộ Văn hóa – Thể thao và Du lịch) xếp hạng Di tích lịch sử văn hoá, kiến trúc nghệ thuật cấp Quốc gia ngày 2/5/1994. Nguồn Cổng thông tin điện tử quận Hoàn Kiếm , thành phố Hà Nội.

Hà Nội

6543 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở