Di tích lịch sử

Việt Nam
Di tích Địa điểm nhà Mẹ Nhu

Di tích Địa điểm nhà Mẹ Nhu

Địa điểm nhà Mẹ Nhu nằm trong một con hẻm nhỏ trên đường Trần Cao Vân, phường Thanh Khê Đông, thành phố Đà Nẵng. Đây là nơi ghi dấu sự hy sinh anh dũng của Mẹ Nhu và cuộc chiến đấu kiên cường của 7 chiến sĩ biệt động quận Nhì vào ngày 26 tháng 12 năm 1968. Mẹ Nhu tên thật là Lê Thị Dảnh, sinh năm 1912 trong một gia đình nghèo làm nghề chài lưới. Từ năm 1967, gia đình mẹ đã đào hai căn hầm bí mật ngay trong nhà để che giấu, bảo vệ các chiến sĩ cách mạng. Ngày nay, di tích có nhà lưu niệm, phần mộ vợ chồng Mẹ Nhu, bia ghi dấu sự kiện và các hiện vật liên quan đến trận đánh. Với những giá trị lịch sử tiêu biểu, Địa điểm nhà Mẹ Nhu được công nhận là Di tích lịch sử quốc gia năm 2009. Di tích là nơi tưởng niệm sự hy sinh của Mẹ Nhu và các chiến sĩ, đồng thời góp phần giáo dục truyền thống yêu nước, tinh thần kiên cường của quân và dân Đà Nẵng. Nguồn: Cổng thông tin điện tử Đà Nẵng

Đà Nẵng

290 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Chiến thắng Cấm Dơi

Chiến thắng Cấm Dơi

Khu di tích Chiến thắng Cấm Dơi nằm trên địa bàn huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam nay là Đà Nẵng, là nơi ghi dấu một chiến công quan trọng trong cuộc kháng chiến chống Mỹ. Trước năm 1972, Cấm Dơi là một căn cứ quân sự kiên cố của địch, được xây dựng với hệ thống hầm ngầm, lô cốt, đài chỉ huy và nhiều cứ điểm phòng thủ xung quanh. Với lực lượng đông, trang bị hiện đại, căn cứ này án ngữ tuyến đường từ phía Tây Quế Sơn xuống đồng bằng, gây nhiều khó khăn cho quân và dân ta. Để phá vỡ tuyến phòng thủ này, Bộ Tư lệnh Quân khu V quyết định mở chiến dịch Cấm Dơi. Sau thời gian chuẩn bị và nghiên cứu kỹ địa hình, quân ta phối hợp giữa bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, pháo binh, bộ binh và đặc công, đồng loạt tiến công từ ngày 17/8/1972. Rạng sáng ngày 18/8, các chốt phòng ngự quan trọng bị đánh chiếm, tuyến phòng thủ của địch bị chia cắt. Hàng trăm quả đại pháo liên tục nã vào căn cứ, phá hủy nhiều kho xăng, kho đạn, xe cơ giới và trận địa pháo của địch. Sau hai ngày đêm chiến đấu quyết liệt, đến 15 giờ ngày 19/8/1972, lá cờ chiến thắng của quân ta tung bay trên sở chỉ huy Cấm Dơi và quận lỵ Quế Sơn. Chiến thắng Cấm Dơi đánh dấu bước trưởng thành của quân và dân ta trong khả năng đánh chiếm những căn cứ phòng thủ kiên cố, góp phần làm thất bại chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” của Mỹ. Ngày nay, trên đỉnh đồi Cấm Dơi có tượng đài chiến thắng, khắc họa hình ảnh người chiến sĩ giải phóng và nữ du kích cùng nâng một em bé lên cao, biểu tượng cho niềm tin vào ngày hòa bình và tương lai của đất nước. Nguồn: Cổng thông tin điện tử Đà Nẵng

Đà Nẵng

294 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Khu tưởng niệm Chiến thắng Thượng Đức

Khu tưởng niệm Chiến thắng Thượng Đức

Khu tưởng niệm Chiến thắng Thượng Đức – Địa chỉ đỏ giữa miền đất anh hùng. Khu tưởng niệm Chiến thắng Thượng Đức nằm tại xã Đại Lãnh, thành phố Đà Nẵng, là nơi ghi dấu chiến thắng Thượng Đức vang dội ngày 7/8/1974 – một trong những trận đánh có ý nghĩa chiến lược trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Năm 1974, Thượng Đức là căn cứ quân sự kiên cố của chính quyền Sài Gòn, được mệnh danh là "cánh cửa thép" bảo vệ phía tây Đà Nẵng. Sau 10 ngày chiến đấu quyết liệt, quân và dân ta đã làm chủ cứ điểm vào ngày 7/8/1974, mở toang tuyến phòng thủ quan trọng của đối phương. Chiến thắng không chỉ tạo bước ngoặt trên chiến trường Quảng Nam mà còn góp phần quan trọng để Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương hoạch định chiến lược, tiến tới cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước. Để tưởng nhớ các anh hùng liệt sĩ đã anh dũng hy sinh, Khu tưởng niệm Chiến thắng Thượng Đức được đầu tư xây dựng với quy mô khang trang trên nền quận lỵ Thượng Đức cũ. Công trình gồm tượng đài chiến thắng bằng đá granite, sân hành lễ, khuôn viên cây xanh cùng hệ thống hầm hào, lô cốt được bảo tồn, tái hiện một phần chiến trường năm xưa. Tượng đài cao hơn 18 m, hướng về phía Ái Nghĩa – Đà Nẵng, thể hiện khí thế tiến công và khát vọng hòa bình của dân tộc. Nguồn: Báo và Phát thanh, Truyền hình Đà Nẵng.

Đà Nẵng

249 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Khu di tích vụ thảm sát Vĩnh Trinh

Khu di tích vụ thảm sát Vĩnh Trinh

Khu di tích vụ thảm sát Vĩnh Trinh – Chứng tích lịch sử về tội ác chiến tranh. Khu di tích vụ thảm sát Vĩnh Trinh nằm tại xã Thu Bồn, thành phố Đà Nẵng, là nơi ghi dấu một trong những vụ thảm sát đau thương nhất ở Quảng Nam trong thời kỳ đầu sau Hiệp định Giơnevơ năm 1954. Đêm 21/1/1955 (tức đêm 29 rạng ngày 30 Tết Ất Mùi), chính quyền Mỹ - Diệm đã sát hại dã man 38 cán bộ, chiến sĩ và đồng bào yêu nước tại đập Vĩnh Trinh nhằm đàn áp phong trào cách mạng. Các nạn nhân bị tra tấn, trói đá rồi dìm xuống lòng hồ để phi tang. Tội ác này đã gây chấn động dư luận trong nước và quốc tế, trở thành biểu tượng về sự tàn bạo của chế độ Mỹ - Diệm cũng như tinh thần bất khuất của những người con yêu nước. Sau ngày đất nước thống nhất, Đài tưởng niệm Vĩnh Trinh được xây dựng ngay gần nơi xảy ra vụ thảm sát. Công trình nổi bật với tượng đài người chiến sĩ hiên ngang, hồ nước có 38 bông sen tượng trưng cho 38 nạn nhân, trong đó một búp sen chưa nở tưởng nhớ người phụ nữ đang mang thai đã hy sinh. Không gian trang nghiêm giữa đồi thông và hồ nước vừa là nơi tri ân các anh hùng liệt sĩ, vừa góp phần giáo dục truyền thống yêu nước cho các thế hệ hôm nay. Với những giá trị lịch sử đặc biệt, Địa điểm vụ thảm sát Vĩnh Trinh đã được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xếp hạng Di tích lịch sử quốc gia theo Quyết định số 309/QĐ-BVHTTDL ngày 26/01/2011. Ngày nay, nơi đây là "địa chỉ đỏ" thu hút nhiều đoàn khách, học sinh, sinh viên và du khách đến dâng hương, tìm hiểu lịch sử và tưởng nhớ những người đã hy sinh vì độc lập, tự do của dân tộc. Nguồn: Trang Thông tin điện tử xã Thu Bồn

Đà Nẵng

440 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Mộ Phạm Phú Thứ

Mộ Phạm Phú Thứ

Mộ Phạm Phú Thứ – Di tích ghi dấu nhà canh tân tiêu biểu thế kỷ XIX. Mộ Phạm Phú Thứ tọa lạc tại xã Gò Nổi, thành phố Đà Nẵng (theo địa giới hành chính mới), là nơi an nghỉ của danh nhân Phạm Phú Thứ (1821–1882) – vị đại thần triều Nguyễn, nhà ngoại giao, nhà văn hóa và là một trong những người tiên phong đề xướng tư tưởng canh tân đất nước trong thế kỷ XIX. Sinh ra tại vùng đất Quảng Nam xưa, Phạm Phú Thứ nổi tiếng thông minh, học rộng, đỗ đạt cao và từng đảm nhiệm nhiều chức vụ quan trọng dưới triều vua Thiệu Trị và Tự Đức. Ông cùng Nguyễn Trường Tộ được xem là những nhà tư tưởng cải cách tiêu biểu với nhiều đề xuất về phát triển kinh tế, khoa học kỹ thuật, giáo dục, ngoại giao và thương mại nhằm đưa đất nước phát triển, tăng cường nội lực trước nguy cơ xâm lược của thực dân Pháp. Trong suốt cuộc đời làm quan, Phạm Phú Thứ luôn được biết đến là vị quan thanh liêm, chính trực, tận tụy vì dân. Ông từng tham gia phái bộ sang Pháp và Tây Ban Nha năm 1863, từ đó ghi chép nhiều tư liệu quý trong Tây hành nhật ký, đồng thời để lại nhiều tác phẩm có giá trị về lịch sử, văn hóa và tư tưởng cải cách, góp phần quan trọng vào kho tàng di sản học thuật Việt Nam. Sau khi qua đời năm 1882, ông được triều đình truy tặng hàm Nhất phẩm và ghi nhận những cống hiến to lớn đối với đất nước. Mộ Phạm Phú Thứ ngày nay không chỉ là nơi tưởng niệm một danh nhân văn hóa mà còn là địa chỉ giáo dục truyền thống yêu nước, tinh thần đổi mới và khát vọng phát triển dân tộc. Nguồn: Cục Di sản văn hóa

Đà Nẵng

538 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Lăng Ông Ngư Cù Lao Chàm

Lăng Ông Ngư Cù Lao Chàm

Lăng Ông Ngư Cù Lao Chàm Lăng Ông Ngư tọa lạc tại thôn Bãi Làng, xã đảo Tân Hiệp (Cù Lao Chàm), thành phố Đà Nẵng (trước đây thuộc TP. Hội An, Quảng Nam). Công trình được xây dựng vào cuối thế kỷ XIX, nằm cách bờ biển khoảng 10 m, lưng tựa núi, mặt hướng ra biển theo quan niệm phong thủy truyền thống của cư dân vùng biển. Theo tín ngưỡng dân gian, cá Ông (cá voi) được ngư dân tôn kính là vị thần Nam Hải, luôn che chở, cứu giúp người gặp nạn trên biển. Khi cá Ông dạt vào bờ, người dân tổ chức tang lễ trang trọng theo nghi thức truyền thống, sau đó cải táng và đưa cốt vào lăng để thờ phụng, thể hiện lòng biết ơn đối với vị thần bảo hộ của ngư dân. Lăng được xây bằng gạch, vôi và san hô, mang kiến trúc truyền thống với mái ngói âm dương, mái cuốn vòm thấp và hậu tẩm lưu giữ xương cá Ông. Trên bờ mái trang trí các họa tiết tứ linh, chim phượng và quy thư. Phía trước là bình phong đắp nổi hình "Thần Ngư hí nguyệt". Bên trong gồm ba gian: gian chính thờ cá Ông với 13 bài vị sơn son thếp vàng; hai gian bên thờ các vị tả hữu ban và thần linh phụ trợ. Lăng Ông Ngư không chỉ là nơi sinh hoạt tín ngưỡng của cộng đồng ngư dân Cù Lao Chàm mà còn là công trình kiến trúc nghệ thuật tiêu biểu, phản ánh đời sống văn hóa biển của cư dân địa phương. Hằng năm, vào ngày mùng 3 và 4 tháng 4 âm lịch, lễ Cầu Ngư được tổ chức tại đây với các nghi lễ truyền thống nhằm tưởng nhớ cá Ông, cầu mưa thuận gió hòa, biển yên sóng lặng và những chuyến ra khơi bình an, bội thu. Với những giá trị nổi bật về lịch sử, kiến trúc và văn hóa tín ngưỡng, ngày 13/12/2006, Lăng Ông Ngư Cù Lao Chàm được Bộ Văn hóa – Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) xếp hạng Di tích lịch sử – văn hóa cấp quốc gia. Nguồn: Ban Quản lý Khu bảo tồn biển Cù Lao Chàm

Đà Nẵng

789 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Đình Tiền hiền Tân Hiệp

Đình Tiền hiền Tân Hiệp

Đình Tiền hiền Tân Hiệp – Di tích ghi dấu công lao khai lập làng trên Cù Lao Chàm Đình Tiền hiền Tân Hiệp (người dân địa phương thường gọi là Lăng Tiền hiền) tọa lạc tại thôn Bãi Làng, xã Tân Hiệp (Cù Lao Chàm), thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam. Đây là công trình tín ngưỡng tiêu biểu của cư dân trên đảo, được xây dựng vào khoảng cuối thế kỷ XVIII để thờ các bậc tiền hiền, hậu hiền có công khai phá, lập làng, đồng thời phối thờ các vị thần bảo hộ ngư dân trong cuộc sống và quá trình mưu sinh trên biển. Theo các tư liệu lịch sử, Cù Lao Chàm từ lâu giữ vị trí quan trọng tại cửa ngõ biển của Hội An, là nơi tàu thuyền trong và ngoài nước thường dừng chân lấy nước ngọt, củi và tránh gió trước khi tiếp tục hải trình. Sự hình thành cộng đồng cư dân trên đảo gắn liền với quá trình khai hoang, lập ấp và phát triển nghề biển. Vì vậy, việc xây dựng đình để tưởng nhớ các bậc tiền nhân cũng như cầu mong biển yên sóng lặng là nét đẹp văn hóa được lưu truyền qua nhiều thế hệ. Đình được xây dựng theo lối kiến trúc cuốn vòm đặc trưng, sử dụng các vật liệu địa phương như đá, gạch, san hô, vôi vữa; mái lợp ngói âm dương. Bờ nóc trang trí hình "lưỡng long tranh châu", đầu đao uốn cong mềm mại với các họa tiết hoa lá, mặt rồng và đuôi cá, phản ánh sự giao thoa giữa nghệ thuật kiến trúc truyền thống và văn hóa biển đảo. Không gian bên trong rộng rãi, chia thành nhiều nếp thờ. Gian chính đặt các bài vị thờ Phục Ba Tướng quân cùng một số vị thần liên quan đến nghề biển. Theo quan niệm xưa, "Phục Ba" là tước hiệu dành cho những vị tướng có công chinh phục sóng gió hoặc có tài hàng hải, được nhân dân tôn thờ như những vị thần che chở cho ngư dân trong mỗi chuyến ra khơi. Với những giá trị đặc sắc về lịch sử, văn hóa và kiến trúc, Đình Tiền hiền Tân Hiệp được xếp hạng Di tích cấp Quốc gia năm 2006. Nguồn: Trung tâm Quản lý Bảo tồn Di sản Văn hóa Hội An.

Đà Nẵng

415 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Khu mộ Thứ phi vua Quang Trung và các tướng Tây Sơn

Khu mộ Thứ phi vua Quang Trung và các tướng Tây Sơn

Khu mộ Thứ phi vua Quang Trung và các tướng Tây Sơn Khu mộ Thứ phi vua Quang Trung và các tướng Tây Sơn nằm tại thôn Thanh Đông, xã Cẩm Thanh, thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam. Di tích tọa lạc trên gò Rừng Rẫy, là nơi an táng Thứ phi Trần Thị Quỵ cùng một số tướng lĩnh, quan lại của triều Tây Sơn thuộc tộc Trần Thanh Châu. Theo gia phả tộc Trần và tư liệu địa phương, Trần Thị Quỵ là người làng Thanh Châu, được vua Quang Trung tuyển làm thứ phi. Sau khi nhà Tây Sơn suy vong, bà trở về quê sinh sống và được an táng tại Cẩm Thanh. Trong khu mộ còn có mộ của Trần Công Thức – Đại Đô đốc, Quận công Đại tướng quân và nhiều thành viên khác của tộc Trần từng giữ chức vụ dưới triều Tây Sơn. Khu mộ không chỉ phản ánh loại hình mộ cổ đặc trưng của Hội An mà còn là minh chứng cho vai trò của làng Thanh Châu và tộc Trần trong phong trào Tây Sơn. Đây là nguồn tư liệu có giá trị phục vụ nghiên cứu lịch sử địa phương và giai đoạn cuối thế kỷ XVIII. Năm 1991, Khu mộ Thứ phi vua Quang Trung và các tướng Tây Sơn được xếp hạng Di tích lịch sử cấp quốc gia. Nguồn: Theo Trung tâm Quản lý Bảo tồn Di sản Văn hóa Hội An.

Đà Nẵng

257 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Mộ tổ tộc Lê

Mộ tổ tộc Lê

Mộ tổ tộc Lê – Di tích ghi dấu quá trình khai khẩn vùng đất Cẩm Thanh Mộ tổ tộc Lê tọa lạc tại thôn Thanh Đông, xã Cẩm Thanh, thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam. Đây là di tích mộ táng của thủy tổ tộc Lê – ông Lê Duy Trì, hậu duệ đời thứ năm của triều Hậu Lê, người đã đến vùng đất Thanh Châu lập nghiệp vào đầu thế kỷ XVII. Theo tư liệu lịch sử, ông Lê Duy Trì là con trưởng của Thế Tông Hoàng đế Lê Duy Đàm, anh của vua Kính Tông Lê Duy Tân. Năm 1623, do biến động chính trị và bị chúa Trịnh Tùng truy bức, ông cùng gia quyến vào phương Nam, dừng chân tại vùng Thanh Châu (nay thuộc xã Cẩm Thanh). Tại đây, ông cùng dòng tộc khai hoang, mở đất, lập ấp, phát triển sản xuất và trở thành những bậc tiền hiền có công khai khẩn vùng đất này. Quần thể mộ hiện nay được xây dựng quy mô vào năm 1930 (Bảo Đại ngũ niên). Bia mộ khắc tên các vị tổ của tộc Lê và ghi nhận công lao khai khẩn các vùng đất Thanh Châu xưa. Di tích không chỉ là nơi tưởng niệm tiền nhân mà còn là minh chứng quan trọng cho quá trình di dân, mở cõi của cư dân Đại Việt vào vùng đất Hội An trong thế kỷ XVII. Với những giá trị nổi bật về lịch sử và văn hóa, Mộ tổ tộc Lê là nguồn tư liệu quý phục vụ nghiên cứu lịch sử hình thành cộng đồng cư dân Cẩm Thanh nói riêng và Hội An nói chung. Di tích đã được xếp hạng Di tích lịch sử cấp quốc gia năm 1991. Nguồn: Theo Trung tâm Quản lý Bảo tồn Di sản Văn hóa Hội An.

Đà Nẵng

883 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Mộ thương nhân Nhật Bản Tani Yajirobei

Mộ thương nhân Nhật Bản Tani Yajirobei

Mộ thương nhân Nhật Bản Tani Yajirobei nằm tại Hội An Đông, TP Đà Nẵng, là minh chứng cho mối quan hệ giao thương giữa Việt Nam và Nhật Bản trong thời kỳ Hội An là thương cảng quốc tế sầm uất vào cuối thế kỷ XVI, đầu thế kỷ XVII. Ông Tani Yajirobei, quê ở Hirado (gần Nagasaki), đến Hội An buôn bán, định cư và qua đời tại đây. Bia mộ được lập năm 1647, ghi rõ quê quán Nhật Bản, là tư liệu quý về sự hiện diện của cộng đồng người Nhật tại Hội An. Ngôi mộ được xây dựng theo lối mộ cổ Hội An với nấm mộ bằng hợp chất truyền thống từ vôi, vỏ sò, vỏ hến, mật mía và nhựa cây bời lời tạo độ bền cao qua hàng trăm năm. Đây là một trong những di tích có giá trị về lịch sử, văn hóa và kiến trúc, góp phần minh chứng cho sự giao lưu kinh tế, văn hóa Việt Nam – Nhật Bản trong lịch sử. Mộ được xây trên một gò đất cao, quay hướng Đông Bắc theo quan niệm phong thủy truyền thống. Công trình gồm thành bao bằng sa thạch, nấm mộ hình yên ngựa và bia mộ bằng đá sa thạch. Năm 1991, Mộ thương nhân Nhật Bản Tani Yajirobei được xếp hạng Di tích lịch sử cấp Quốc gia. Ngày nay, di tích là điểm tham quan hấp dẫn, đặc biệt đối với du khách Nhật Bản và những người yêu thích tìm hiểu lịch sử thương cảng Hội An. Nguồn: Đô thị cổ Hội An

Đà Nẵng

452 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở