Danh sách điểm di tích (42)
Vịnh Hạ Long
Theo các nhà khoa học, vùng Hạ Long và vùng rìa bờ, đảo phụ cận của vịnh, bao gồm nhiều hệ tầng trầm tích lục nguyên và cacbonat, có tuổi từ nguyên đại Cổ sinh đến Tân sinh. Nhiều hệ tầng trầm tích ở khu vực này chứa đựng các vết tích cổ sinh vật dưới các dạng hoá thạch khác nhau, trong đó có những nhóm ngành động, thực vật đã tuyệt diệt hoàn toàn hoặc gần như hoàn toàn trên trái đất. Lịch sử địa chất Vịnh Hạ Long, được mở ra từ khoảng gần 500 triệu năm trước đây, với những hoàn cảnh cổ địa lý hết sức khác nhau và khá phức tạp. Sự hiện diện của vịnh và những hòn đảo trên vịnh là những minh chứng độc đáo về lịch sử phát triển của trái đất, bao gồm đặc điểm địa chất và quá trình vận động, phát triển liên tục của dạng địa hình Karst, hệ Fengcong và Fengling. Địa hình đặc biệt của vịnh Hạ Long có liên quan chặt chẽ tới lịch sử khí hậu và quá trình vận động kiến tạo của trái đất. Những hòn đảo ở đây là mẫu hình khá lý tưởng về Karst hình thành trong điều kiện nhiệt đới, ẩm. Toàn bộ khu vực Vịnh Hạ Long là một cảnh quan Karst qua nhiều triệu năm, với các tháp Karst hình chóp, hình tháp, bị bào mòn, tạo nên cảnh đẹp nổi bật, độc đáo toàn thế giới. Thạch nhũ trong hang động trong khu Vịnh có tuổi trẻ hơn các hang động. Nước mưa theo các khe nứt trên trần hang động và vách chảy xuống, trên đường đi chúng hoà tan, bào mòn đá vôi và lắng đọng thành nhũ đá ở trần, măng đá ở nền… Hàng ngàn hòn đảo, hàng chục hang động đẹp đã tạo nên giá trị thẩm mỹ của Vịnh. Vẻ đẹp của Hạ Long được tạo nên từ 3 yếu tố: đá, nước và bầu trời. Hệ thống đảo đá ở Hạ Long muôn hình vạn trạng quyện với trời biển, tạo ra một bức tranh thủy mặc. Phía trong những đảo đá lớn lại hấp dẫn bởi những hang động đẹp đẽ, kỳ lạ. Hang Đầu Gỗ gợi cảm giác choáng ngợp, với những nhũ đá muôn hình dáng vẻ. Động Thiên Cung như một đền đài hoành tráng, mỹ lệ. Hang Bồ Nâu có cửa uốn vòng cung, với vô số nhũ đá buông xuống mềm mại như cành liễu. Hang Sửng Sốt đẹp đến bất ngờ, với nhũ đá mang hình hài của gà rừng, cóc, rồng, thác nước, cùng với nhiều hình hài khác, như mở ra một thế giới cổ tích. Những hang động như Tam Cung, Trinh Nữ, Ba Hang, Tiên Long,… mỗi hang có những vẻ đẹp độc đáo, kỳ thú. Lịch sử kiến tạo của vịnh Hạ Long đã trải qua những hoàn cảnh cổ địa lý rất khác nhau, nhiều lần tạo sơn, biển thoái, sụt chìm, biển tiến… Vịnh Hạ Long còn giữ lại được những dấu ấn của quá trình tạo sơn, địa máng vĩ đại của trái đất, có cấu tạo địa lũy, địa hào cổ. Khu vực Vịnh Hạ Long đã từng là biển sâu vào các kỷ Odovic - Silua (khoảng 500 - 410 triệu nẳm trước), là biển nông vào các kỷ Cacbon - Pecmi (khoảng 340 - 250 triệu năm trước), biển ven bờ vào cuối kỷ Paleogen, đầu Neogen (khoảng 26 - 20 triệu năm trước) và trải qua một số lần biển lấn trong kỷ Nhân sinh (khoảng 2 triệu năm trước). Vào kỷ Trias (240 - 195 triệu năm trước), khi trái đất nói chung, châu Âu nói riêng có khí hậu khô nóng, thì khu vực Vịnh Hạ Long là những đầm lầy ẩm ướt, với những cánh rừng tuế, dương xỉ khổng lồ tích tụ nhiều thế hệ… Địa hình Karst của vịnh Hạ Long có ý nghĩa toàn cầu và có tính chất nền tảng cho khoa học địa mạo. Môi trường địa chất còn là nền tảng phát sinh các giá trị khác của vịnh, như đa dạng sinh học, văn hóa khảo cổ và các giá trị nhân văn khác. Tổng số loài thực vật sống trên các đảo ở vịnh Hạ Long khoảng trên một nghìn loài. Một số quần xã các loài thực vật khác nhau đã được tìm thấy, như các loài ngập mặn, các loài thực vật ở bờ cát ven đảo, các loài mọc trên sườn núi và vách đá, trên đỉnh núi hoặc mọc ở cửa hang hay khe đá. Các nhà nghiên cứu của Hiệp hội Bảo tồn thiên nhiên Thế giới (IUCN) đã phát hiện 7 loài thực vật đặc hữu của vịnh Hạ Long. Những loài này chỉ thích nghi sống ở các đảo đá vôi của Vịnh Hạ Long, mà không nơi nào trên thế giới có được, đó là: thiên tuế Hạ Long, khổ cử đại tím, cọ Hạ Long, khổ cử đại nhung, móng tai Hạ Long, ngũ gia bì Hạ Long, hài vệ nữ hoa vàng. Theo thống kê, hệ sinh thái rừng kín thường xanh, mưa ẩm nhiệt đới ở Hạ Long, Bái Tử Long có: 477 loài mộc lan, 12 loài dương xỉ và 20 loài thực vật ngập mặn; đối với động vật cũng đã thống kê được 4 loài lưỡng cư, 10 loài bò sát, 40 loài chim và 14 loài thú. Những kết quả nghiên cứu, khảo cổ học và văn hóa học cho thấy, sự hiện diện của những cư dân tiền sử trên vùng vịnh Hạ Long từ khá sớm, đã tạo lập được những hình thái văn hóa cổ đại tiếp nối nhau, bao gồm văn hóa Soi Nhụ(trong khoảng 18.000 - 7.000 năm trước Công nguyên), văn hóa Cái Bèo (7.000 - 5.000 năm trước Công nguyên) và văn hóa Hạ Long (cách ngày nay khoảng từ 3.500 - 5.000 năm). Phương thức sống chủ yếu của chủ nhân Soi Nhụ là “bắt sò ốc, có cả hái lượm hoa quả, đào củ, rễ cây”, biết bắt cá mà chưa có nghề đánh cá. Di chỉ Cái Bèo là một trong những bằng chứng đầu tiên để có thể khẳng định, tổ tiên của người Việt cổ, từ rất sớm đã đương đầu với biển khơi và đã phát triển ở đây một nền văn hóa rực rỡ, là điểm hội tụ của nhiều yếu tố, sắc thái khác biệt vào một dòng văn hóa truyền thống rất lâu đời trong khu vực Việt Nam và Đông Nam Á: dòng văn hóa Cuội. Về phương thức cư trú và sinh sống của người Cái Bèo, ngoài săn bắt hái lượm, đã có thêm khai thác biển. Vịnh Hạ Long là khu vực có giá trị nổi bật toàn cầu, tiêu biểu nhất là các giá trị về thẩm mỹ, khoa học, lịch sử, khảo cổ... Năm 1962, khu vực vịnh Hạ Long được công nhận là di tích thắng cảnh cấp quốc gia. Năm 1994, vịnh Hạ Long được UNESCO công nhận là di sản thiên nhiên thế giới về giá trị thẩm mỹ và được tái công nhận lần thứ 2, với giá trị ngoại hạng toàn cầu về địa chất - địa mạo vào năm 2000. Với những giá trị lịch sử, văn hoá, khoa học và thẩm mỹ đặc biệt của vịnh, Thủ tướng Chính phủ đã quyết định xếp hạng Danh lam thắng cảnh Vịnh Hạ Long là di tích quốc gia đặc biệt (Quyết định số 1272/QĐ-TTg, ngày 12/8/2009). Nguồn: Cục di sản văn hoá
Quảng Ninh
8163 lượt xem
Xếp hạng : Di tích quốc gia đặc biệt
Núi Mằn
Quần thể di tích lịch sử danh lam thắng cảnh Núi Mằn thuộc thôn Đá Trắng, xã Thống Nhất, thành phố Hạ Long, có diện tích 150 hét ta (bao gồm toàn bộ Núi Mằn, đền Bạch Thạch; các miếu: Thánh Mẫu, Ông Lang, Ông Dài, Ông Cộc; đình Xích Thổ; và di chỉ thành nhà Mạc). Núi Mằn có tên trong thư tịch cổ là “Bân Sơn" nghĩa là ngọn núi đẹp, hoàn thiện từ trong ra ngoài. Vì núi có dòng sông Mân chảy qua nên người dân địa phương thường gọi núi Bân là núi Mân (từ “Mằn” là đọc chệch của từ “Mân”). Theo ghi chép của Đồng Khánh dư địa chí (Quốc sử quán triều Nguyễn biên soạn năm 1886-1888), Hoành Bồ thời bấy giờ có nhiều núi đá đẹp như núi Bân (núi Mằn), núi Truyền Đăng, núi Hạp, núi Phượng Các… Tuy nhiên, chỉ có hai ngọn núi nổi tiếng được xếp hạng vào danh lam thắng tích thời Đồng Khánh là núi Mằn và núi Truyền Đăng (Núi Bài Thơ ngày nay). Núi Mằn nằm giữa hai nhánh suối Đá Trắng (Bạch Thạch Khe) và suối Lưỡng Kỳ (khe Bân) đổ ra sông Đá Trắng. Nằm trên độ cao gần 300m so với mực nước biển, hình dáng của ngọn núi khiến ta liên tưởng đến con voi ở trong thế quỳ phục, vòi chúc xuống khe Bân. Hệ thống các tảng đá tự nhiên, lớn, nhưng tương đối đồng đều bao quanh núi Mằn như vành mũ. Điểm xuyết giữa màu trắng xanh của những phiến đá là màu xanh của lá, màu đỏ vàng của các loài hoa cùng hệ thực vật bốn mùa tươi tốt ở xung quanh. Lưng chừng núi với vách đá cheo leo và hiểm trở còn có các hang động với những thớ đá, nhũ đá mịn màng, rực rỡ sắc màu, tạo nên vẻ đẹp kỳ diệu, huyền bí. Từ trên đỉnh núi Mằn nhìn xuống, phía Đông và phía Tây ngọn núi có dòng sông Bân và sông Đá Trắng chảy lượn bao quanh, nước trong xanh như mắt ngọc, tạo thành bức tranh sơn thuỷ đầy mê hoặc. Không chỉ là danh thắng đẹp, có cảnh sắc hữu tình với câu sấm trạng nổi tiếng lưu truyền đến tận ngày nay “Mằn sơn án hải, vạn đại Đế Vương”, ngọn núi nổi tiếng từ thời Đồng Khánh còn chứa đựng những giá trị về lịch sử, văn hoá. Theo lời người dân địa phương kể lại, từ ngàn xưa, nhân dân trong vùng thường coi núi Mằn và núi Bài Thơ là hai cặp núi song sinh với nhiều truyền thuyết hấp dẫn, ly kỳ. Trong đó, núi Mằn gắn liền với truyền thuyết “Ông khổng lồ gánh đá vá trời”. Tương truyền rằng, mỗi bước chân ông đi qua đều gắn liền với một số địa danh lưu truyền đến ngày nay. Đặc biệt, khi ông trở vai, đôi gánh gãy làm đôi, một bên gánh rơi xuống TP Hạ Long là núi Bài Thơ, một bên rơi xuống địa phận Xích Thổ (huyện Hoành Bồ cũ) chính là núi Mằn ngày nay. Di tích núi Mằn còn gắn liền với các sự tích lịch sử về Cao Sơn Đại Vương, Quý Minh Đại Vương và các truyền thuyết liên quan đến hệ thống đình, miếu nằm rải rác trên địa phận xã Thống Nhất và phường Hoành Bồ như: Miếu Ông Cộc, miếu Ông Lang, miếu Ông Dài, đình Xích Thổ... Để thờ thần núi Mằn (Cao Sơn, Quý Minh Đại Vương) và Long Hải sơn thần (vị thần cả cai quản vùng sông nước), nhân dân trong vùng đã xây dựng đền Bạch Trạch ngay dưới chân núi. Trải qua nhiều biến cố lịch sử, đến nay đền không còn thờ Cao Sơn, Quý Minh Đại Vương và Long Hải sơn thần, mà xây dựng thêm am thờ Phật và thờ Mẫu Thượng Ngàn, Tam toà Thánh Mẫu. Đền có khuôn viên gần 1.000m2, bao gồm các công trình: Phủ Bà Chúa Đá trắng, am Thờ Phật, nơi thờ Sơn Thần và Cung bà Chúa Bản thổ. Hầu hết các công trình được xây gạch, trát vữa, mái lợp ngói tây và nền lát gạch hoa. Bên cạnh các giá trị về cảnh quan, tâm linh, quần thể khu di tích núi Mằn còn có giá trị to lớn về lịch sử. Theo nghiên cứu của các nhà sử học thì núi Mằn còn từng là đại bản doanh của quân đội nhà Lý trong cuộc kháng Tống thế kỷ XI. Trong hai lần kháng chiến chống giặc Nguyên – Mông (1285, 1288), núi Mằn được Hưng Đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn chọn làm đại bản doanh dự bị chiến lược của đạo thủy binh nhà Trần. Sau chiến thắng trận Bạch Đằng năm 1288, vua Trần Thánh Tông đã chỉ huy quân đội nhà Trần vượt biển tiến vào vịnh Cửa Lục, đóng quân tại núi Mằn rồi từ đó tiến lên chặn đánh và truy kích quân Nguyên do Thoát Hoan chỉ huy trên đường rút chạy về nước qua đường Đình Lập – Lạng Sơn… Với vẻ đẹp hữu tình tạo hoá đã ban tặng cùng với hệ thống đền, miếu gắn liền với nhiều truyền thuyết lịch sử, quần thể di tích lịch sử - danh thắng núi Mằn đã được Bộ Văn Hoá, Thông Tin và Du Lịch quyết định xếp hạng di tích cấp quốc gia ngày 08/7/2014. Nguồn: Báo du lịch Hạ Long Quảng Ninh
Quảng Ninh
5003 lượt xem
Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia
Di tích khảo cổ Hòn Hai Cô Tiên
Di tích lịch sử, khảo cổ học Hòn Hai Cô Tiên thuộc tổ 65, phường Bạch Đằng, thành phố Hạ Long. Từ năm 2001 đến nay, Bảo tàng Quảng Ninh phối hợp với Viện Khảo cổ học Việt Nam, Viện Bảo tàng lịch sử Việt Nam khảo sát, khai quật và đã phát hiện nhiều di vật mang dấu ấn đặc trưng của giai đoạn muộn của văn hóa Hạ Long (Hậu kỳ đá mới) đến giai đoạn Văn hóa Đông Sơn (Thời đại Kim khí) có niên đại cách đây từ 4.000 năm đến 2.000 năm. Tại đây, các nhà khoa học đã khai quật được 91 hiện vật, 1.000 tiêu bản khoa học gồm công cụ sản xuất, đồ dùng sinh hoạt, trang sức, tín ngưỡng... với các chất liệu gốm, xương, đá; một khu mộ táng với 46 di cốt người cổ, trong đó có những di cốt còn tương đối hoàn chỉnh. Các di cốt được chôn bó gối kèm theo đồ tùy táng. Bảo tàng Quảng Ninh còn thám sát 4 vị trí ở khu vực thung lũng và chân núi, đã thu được 294 hiện vật, trên 20.000 tiêu bản khoa học gồm các chất liệu đồng, đá, xương, gốm như: lưỡi câu, rìu, đục, đồ trang sức. Tại đây, các nhà khoa học đã phát hiện được nhiều mảnh khuôn đúc đồng của Văn hóa Đông Sơn cùng những mảnh xỉ đồng dùng để đúc rìu, mũi giáo, lao... Tại khu vực I, Bảo tàng Quảng Ninh còn phát hiện được một quần thể San hô hóa thạch có thể là thuộc kỷ Devon - Cacbon (cách ngày nay khoảng 400 triệu năm). Cùng với giá trị khảo cổ, Di tích Hòn Hai Cô Tiên còn có rừng nguyên sinh núi đá với nhiều loài linh trưởng quý, bò sát như khỉ lông vàng, kỳ nhông, tắc kè... và một hệ thực vật phong phú đặc hữu của rừng núi đá như chè dây, Phất Dụ núi, Phong lan Hạ Long, Hài vệ nữ hoa vàng, Thiên tuế Hạ Long... Việc công nhận di tích Hòn Hai Cô Tiên là Di tích quốc gia đã góp phần nâng cao giá trị văn hóa của Di sản thế giới Vịnh Hạ Long và vị trí lịch sử quan trọng của Quảng Ninh với nền văn hóa cổ Hạ Long, trong vùng Đông Bắc của Việt Nam. Đồng thời, di tích còn tạo ra một sản phẩm du lịch văn hóa độc đáo ngay trong thành phố Hạ Long. Nguồn: Sở văn hoá thể thao tỉnh Quảng Ninh
Quảng Ninh
9395 lượt xem
Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia
Di tích thắng cảnh hồ Yên Lập – chùa Lôi Âm
Cụm di tích chùa Lôi Âm - hồ Yên Lập từ lâu đã được đông đảo du khách thập phương biết đến là chốn sơn thuỷ hữu tình của Hạ Long. Với những giá trị về văn hoá, lịch sử, khoa học, nghệ thuật và thắng cảnh, mang đậm dấu ấn các thời đại, ngày 23/11/1997, chùa Lôi Âm - hồ Yên Lập đã được Bộ Văn hoá - Thông tin xếp hạng là di tích cấp Quốc gia. Còn với nhiều người dân của TP Hạ Long, nơi đây đã trở thành địa điểm hành hương không thể thiếu mỗi dịp du Xuân. Cụm di tích này nằm bên phải quốc lộ 18A (hướng đi từ TP Hạ Long đi Hà Nội) thuộc địa phận phường Đại Yên, thành phố Hạ Long. Qua nghiên cứu các sử liệu cho thấy chùa Lôi Âm được xây vào năm Quang Thuận thời Lê Thánh Tông và ngày khánh thành có thể trùng hợp với thời điểm vua Lê đi tuần thủ An Bang, khắc bài thơ trên núi Bài Thơ (1468). Hồ Yên Lập là công trình thủy lợi lớn nhất tỉnh Quảng Ninh, trải qua hơn 30 năm đi vào khai thác, sử dụng, đến nay hồ Yên Lập vẫn đang phát huy hiệu quả, không chỉ góp phần giảm hạn hán, lũ lụt mà còn giữ vai trò quan trọng trong việc cung cấp nguồn nước phục vụ phát triển kinh tế - xã hội của thành phố Hạ Long, thành phố Uông Bí và thị xã Quảng Yên. Nhìn từ trên cao, hồ Yên Lập hiện ra với màu xanh êm dịu, xung quanh hồ là những ngọn núi nhấp nhô, giữa hồ nổi lên các đảo nhỏ tạo nên vẻ tự nhiên, quyến rũ lòng người. Cụm di tích lịch sử danh thắng chùa Lôi Âm – hồ Yên Lập đã tạo nên cảnh quan thơ mộng, vốn đã nổi tiếng từ xưa, đến nay lại càng nổi tiếng để thu hút khách tham quan trong khắp mọi miền đất nước. Chùa Lôi Âm nằm trong một khu vực hình bán nguyệt, kéo dài từ trên đỉnh xuống lưng chừng núi. Phía trước mặt là hồ nước, theo thế "tựa sơn, hướng thủy" mà từ xưa cha ông đã từng ví "long chầu hổ phục, bên tả che, bên hữu đỡ, có non thiêng hội tụ, có huyền vũ trùng trùng". Chùa Lôi Âm ở độ cao 395m so với mặt biển, được xây dựng theo hướng Đông Nam là hướng của trí tuệ, hướng của tâm linh. Các dấu tích còn để lại hiện nay thì chùa Lôi Âm được xây theo kết cấu kiến trúc kiểu "nội công ngoại quốc", một điển hình của kiến trúc thời Lê. Từ chân núi Lôi Âm lên tới cửa chùa theo con đường Chúa Ngự, với độ dài khoảng 850m và chiều rộng trung bình là 2,5m. Hai bên chùa có suối giải oan tách làm 2 nhánh, khi qua chùa được nhập lại thành dòng. Suối có nước chảy quanh năm, bắt nguồn từ đỉnh núi đổ xuống hồ Yên Lập. Hàng muỗm cổ thụ trồng phía trước và xung quanh chùa là biểu tượng của sự thanh cao, trường tồn. Ngoài ra, chùa còn phong phú với hàng đa, hàng thau hay những hàng trâm, tạo nên sự linh thiêng nơi chốn cửa thiền mà cũng rất gần gũi với cuộc đời trần tục. Các triều vua phong kiến Việt Nam thường lui tới đây du ngoạn và ca ngợi. Cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, khi thực dân Pháp xâm lược nước ta, tất cả chùa chiền, đền, miếu đều bị đập phá một cách nghiêm trọng. Riêng tiền đường phía tay phải vẫn còn bức tường cao 1,5m, dày 30cm, xây toàn bộ bằng gạch đỏ. Phía hậu cung của khu tam bảo còn giữ lại bức tường cao 1,2m, độ dày 20cm. Bên cạnh chùa phía tay phải là vườn tháp làm bằng đá xanh thớ mịn, với kỹ thuật ghép mộng chắc chắn. Còn lại nguyên vẹn tháp tổ 3 tầng, phía trên được ghi rõ hàng chữ "Phổ Minh tháp". Đỉnh tháp tạc 1 đài sem ôm lấy bình nước Cam Lộ, thu nhỏ dần lên phía đầu, tỏa mãi trong không trung, tạo cho du khách cảm giác như được siêu thoát trước cửa thiền tâm. Trước cửa chùa còn đặt một cây hương đá xây hình tứ trụ. Trên mái hương nơi các đầu đao thể hiện hình vân xoắn, trong một chừng mực nào có, nó tượng trưng cho niềm mong ước "mưa thuận gió hòa". Cũng nằm phía trước chùa về phía tay trái là hàng bia đá cổ gồm 5 chiếc nguyên vẹn. Trong mỗi mùa lễ hội, nhân dân và du khách vượt qua lòng hồ Yên Lập lên đến chùa Lôi Âm. Cảm nhận về cái đẹp ở đây là phải lướt trên con thuyền để thưởng ngoạn sự thơ mộng, không khí trong lành. Mặt hồ Yên Lập không có sóng xô cuồn cuộn của biển cả, không có những hang động thiên tạo như Vịnh Hạ Long... Nhưng đến với hồ Yên Lập là tìm đến với sự thanh thản của một phong cảnh dịu hiền, mặt nước gợn sóng trong làn gió nhẹ có thể nhìn suốt tới đáy, các đảo nổi trên hồ là những điểm nghỉ chân thú vị. Cụm di tích lịch sử và danh thắng Chùa Lôi Âm - Hồ Yên Lập đã mang đậm dấu ấn các thời đại với nhiều giá trị trong lịch sử, khoa học, nghệ thuật và danh thắng. Qua nghiên cứu, khảo sát những di vật của chùa Lôi Âm ta có thể khẳng định: chùa Lôi Âm là một kho tàng nghệ thuật văn hóa vô giá. Ngoài giá trị khoa học, nghệ thuật văn hóa, chùa Lôi Âm còn chứa đựng những giá trị lịch sử đấu tranh của dân tộc. Nằm nơi địa thế sơn lâm kín đáo, năm 1946 Trung đoàn 98 đã đóng quân tại đây, do đồng chí Vũ Mạnh Hùng làm Trung đội trưởng, lấy ngôi chùa làm đài quan sát, đơn vị đã kháng chiến chống thực dân Pháp, lập lên nhiều chiến công, đập tan mọi âm mưu phá hoại của địch. Giờ đây, chùa Lôi Âm là một danh thắng hài hòa trong cảnh "sơn thuỷ hữu tình". Nguồn: Cổng Thông Tin Điện Tử Thành Phố Hạ Long
Quảng Ninh
4929 lượt xem
Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia
Trận địa pháo 37 ly của Xí nghiệp tuyển than Hòn Gai
Trận địa pháo cao xạ 37 ly của Xí nghiệp Tuyển than Hòn Gai là di tích lịch sử đã được xếp hạng cấp quốc gia năm 1997. Nơi đây, vào thời kỳ chống chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ, các chiến sĩ tự vệ của Xí nghiệp Bến Hòn Gai (nay là Công ty Tuyển than Hòn Gai) đã lập nên những chiến công xuất sắc, bắn rơi máy bay Mỹ. Di tích trận địa pháo 37 ly của Xí nghiệp Tuyển than Hòn Gai nằm trên đồi cao 102m so với mặt nước biển. Từ đây có thể bao quát được nhiều vị trí của Thị Xã Hòn Gai (nay là TP Hạ Long) như bến phà, cảng Hòn Gai và các khu dân cư xung quanh. Năm 1960, đơn vị tự vệ của Bến Hòn Gai được thành lập. Trận đánh đầu tiên của đơn vị chính là ngày 5-8-1964, khi máy bay Mỹ lao vào bắn phá Quân cảng Hải quân ta ở Bãi Cháy, các chiến sĩ tự vệ Bến Hòn Gai đã chiến đấu anh dũng, cùng với các lực lượng phòng không, hải quân và tự vệ của các đơn vị khác tạo nên lưới lửa, bắn rơi 3 máy bay, bắt sống tên phi công Mỹ E-vơ-rết An-va-rét khi hắn nhảy dù xuống Vịnh Hạ Long. Sau trận đánh này, đã có 28 đồng chí của đơn vị được tặng thưởng Huy hiệu 5-8, tiêu biểu như Đặng Bá Hát, Trần Minh Thành… Năm 1966, Xí nghiệp Bến Hòn Gai hình thành 2 cụm trực chiến gồm 30 người, chỉ huy trưởng là đồng chí Lê Quang Minh, chỉ huy phó là đồng chí Đặng Bá Hát. Ngày 10-3-1967, máy bay của giặc Mỹ theo nhiều hướng lao vào đánh phá khu Ba Đèo, phố Nhà Thờ, đồi 102… Với tinh thần chiến đấu dũng cảm của các chiến sĩ tự vệ, 1 chiếc máy bay F8 của giặc Mỹ đã bị bắn trúng bốc cháy, lao ra biển. Cuối năm 1968, sau khi được tỉnh trang bị thêm cho 4 khẩu pháo cao xạ 37 ly, Xí nghiệp Bến Hòn Gai thành lập 1 đại đội gồm 45 người do đồng chí Đặng Bá Hát làm Đại đội trưởng. Trận địa đóng trên đồi 102 (đồi Bến phà). Ngày 18-5-1972, Đại đội tham gia chiến đấu và đã bắn rơi 1 chiếc F4 của giặc Mỹ. Chiến công đã làm tăng thêm sự phấn khởi và quyết tâm đánh thắng cho cả Đại đội, từ chỉ huy tới chiến sĩ. Chiến tranh leo thang của giặc Mỹ ngày càng ác liệt. Ngày 12-7-1972, chúng lại tập trung đánh vào TX Hòn Gai. Lúc này, hai chiếc phà chở đầy người và ô tô đang trong hành trình qua sông Cửa Lục. Tình thế diễn ra rất nguy kịch. Đồng chí Đặng Bá Hát vừa chỉ huy đánh chi viện, bảo vệ phà vừa trực tiếp chiến đấu. Trận địa bị máy bay Mỹ đánh trúng bằng bom xuyên, đồng chí Đặng Bá Hát bị thương vào bụng và đã anh dũng hy sinh khi tay còn đang cầm cờ lệnh. Sau trận đánh, Đại đội bị tổn thất lớn nhưng vẫn tiếp tục bám trụ, triển khai đánh địch. Chỉ trong tháng 10-1972, Đại đội đã đánh 37 trận, tháo gỡ nhiều bom phá, bom xuyên và bom bi các loại… Với những chiến công đã đạt được, đầu năm 1973, Đại đội tự vệ 37 ly của Xí nghiệp Bến Hòn Gai đã vinh dự được Chủ tịch nước Tôn Đức Thắng trao tặng lẵng hoa ngay tại trận địa và cũng trong năm này, Xí nghiệp Bến Hòn Gai đã vinh dự được Đảng và Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng Vũ trang nhân dân. Liệt sĩ Đặng Bá Hát với tấm gương chiến đấu, hy sinh quên mình đã được truy tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng Vũ trang nhân dân vào năm 1995. Nhằm bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị di tích trận địa pháo cao xạ 37 ly của Xí nghiệp Bến Hòn Gai, được biết UBND tỉnh và Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam đã có sự thoả thuận về dự án đầu tư, tôn tạo di tích. Hiện các thủ tục đã cơ bản xong, chỉ còn chờ con đường lên cầu Bãi Cháy hoàn chỉnh để bắt tay vào thi công. Các hạng mục dự kiến tôn tạo bao gồm xây dựng tượng đài Đặng Bá Hát, phục hồi các giao thông hào, hầm đạn, hầm trú ẩn, xây dựng nhà trưng bày hiện vật… Di tích sau khi được tôn tạo sẽ không chỉ là nơi ghi dấu chiến công, giáo dục truyền thống, mà còn góp phần làm tăng giá trị, ý nghĩa và vẻ đẹp của cầu Bãi Cháy nói riêng, vùng đất Cửa Lục nói chung. Nguồn: Báo điện tử Quảng Ninh
Quảng Ninh
4659 lượt xem
Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia
Núi Bài Thơ
Núi Bài Thơ nằm ở trung tâm thành phố Hạ Long. Ba mặt núi là những khu dân cư đông đúc, phía tây và phía nam núi kề bên Vịnh Hạ Long xinh đẹp. Núi Bài Thơ là nơi ghi lại dấu ấn lịch sử, là biểu tượng của thành phố Hạ Long, nơi quần tụ của nhiều di tích nổi tiếng như: chùa Long Tiên, đền Đức Ông, Trung tâm điện chính Bưu điện Quảng Ninh; Trận địa 12 ly 7; Hang thị đội Hồng Gai; Các hang phòng không sơ tán (từ hang số 1 đến hang số 6). Là nơi quần tụ của các điểm di tích thuộc nhiều loại hình như lịch sử, danh lam thắng cảnh, núi Bài Thơ mang nhiều giá trị về lịch sử, văn hóa, thẩm mỹ (được Bộ Văn hóa Thông tin cấp bằng công nhận là Di tích lịch sử, thắng cảnh ngày 31/8/1992 (Bổ sung khu di tích thắng cảnh vịnh Hạ Long ) đã trở thành điểm đến thú vị cho những nhà lịch sử, các thi sỹ, nhiếp ảnh gia, nhân dân và khách du lịch gần xa. Từ đỉnh núi Bài Thơ ta có thể nhìn ra bao quát toàn cảnh Vịnh Hạ Long. Núi Bài Thơ như một tượng đài sống ghi lại những dấu ấn lịch sử quan trọng của nhiều thời đại. Hàng trăm năm trước, khi còn mang tên là núi Rọi Đèn (tên chữ là Truyền Đăng Sơn). Theo truyền thuyết dân gian ở địa phương kể rằng: núi Truyền Đăng là ngọn núi cao nhất ở vùng biển Cửa Lục, án ngữ trên con đường hàng hải cổ đại từ phía Bắc vào nội địa nước ta. Các triều đại phong kiến đều lấy núi Truyền Đăng đặt làm vọng gác tiêu biểu ở vùng biển ải Đông Bắc. Hàng đêm, lính đồn trú treo ngọn đèn nồng trên đỉnh núi báo hiệu tình hình phía Đông Bắc vẫn yên tĩnh. Nhưng khi có giặc dã, người lính bèn đốt củi cho ngọn khói bốc cao báo động về đất liền. Từ việc treo đèn đốt lửa của lính đồn trú trên đỉnh núi, nên núi có tên là Dọi Đèn, tên chữ là Truyền Đăng. Năm 1468, vua Lê Thánh Tông dẫn quân đi tuần vùng biển An Bang và đóng quân dưới núi Truyền Đăng. Xúc động trước vẻ đẹp thần tiên của mây trời non nước Hạ Long, nhà vua đã làm một bài thơ và cho khắc vào phía Nam của vách núi đá và từ đó núi có tên Bài Thơ. Hai trăm sáu mươi mốt năm sau (1729), chúa Trịnh Cương đã làm một bài thơ họa lại bài thơ của vua Lê Thánh Tông và cho khắc vào gần đấy... Đến thời kỳ kháng chiến chống Mỹ (năm 1968) núi Bài Thơ còn là vọng gác phòng không canh giữ biển trời vùng mỏ, là hang cứu thương, phục vụ chiến đấu và là nơi đặt trung tâm điện tín của Bưu điện tỉnh Quảng Ninh…. Đặc biệt sự kiện cắm cờ Đảng đầu tiên trên núi Bài Thơ mang một ý nghĩa, giá trị lịch sử to lớn. Sáng 01/5/1930, lá cờ Đảng phấp phới bay trên núi Bài Thơ đã đánh một dấu mốc quan trọng trong tiến trình cách mạng ở khu mỏ, nó thúc giục công nhân và lao động khu mỏ bước lên trường tranh đấu, đạp đổ ách thống trị tàn bạo của chủ nghĩa thực dân và bây giờ ngọn cờ đó vẫn tung bay phất phới trên ngọn núi Bài Thơ, là biểu tượng của thành phố Hạ Long - vùng đất mỏ anh hùng. Cũng trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ núi Bài Thơ còn góp phần tạo nên một sự kiện lịch sử quan trọng. Lịch sử còn ghi lại: Dân quân tự vệ phường Bạch Đằng ở ngay trung tâm thành phố Hòn Gai (thành phố Hạ Long bây giờ), dưới chân núi Bài Thơ đã thành lập một khẩu đội 12 ly 7 và đưa lên trực chiến ngay trên núi Bài Thơ. Khẩu đội này là một trận địa phòng không bám trụ và chiến đấu trong điều kiện hết sức gian khổ và góp phần tích cực vào thắng lợi chung của quân dân vùng mỏ Quảng Ninh. Với một vai trò khác, vào những năm 1964 -1975, tại các hang ở sườn núi phía Đông của núi Bài Thơ, Trung tâm điện chính Bưu Điện Quảng Ninh đã chọn làm nơi sơ tán nhà cơ vụ và đặt một trạm viba để phát sóng truyền đi những thông tin quan trọng, nhờ đó không những đảm bảo được thông tin liên lạc thông suốt mà còn góp phần đánh trả lại máy bay Mỹ, bảo vệ trạm phát sóng an toàn. Núi Bài Thơ nơi diễn ra nhiều sự kiện lịch sử quan trọng của tỉnh Quảng Ninh từ thời kỳ Phong kiến đến các thời kỳ chống Pháp, chống Mỹ nếu được đầu tư tôn tạo, kết hợp với các điểm di tích như Trận địa 37ly của Xí nghiệp tuyển than Hòn Gai (thành phố Hạ Long), Trung tâm chiến khu Đông Triều (chùa Bắc Mã) (huyện Đông Triều); Khu căn cứ cách mạng Sơn Dương, khu căn cứ kháng chiến chống Pháp Bằng Cả (huyện Hoành Bồ) cùng các di tích lịch sử cách mạng của các huyện Vân Đồn, Tiên Yên, Ba Chẽ, thành phố Móng Cái sẽ trở thành tour du lịch thăm chiến trường xưa hấp dẫn của tỉnh Quảng Ninh. Nguồn: Cổng thông tin điện tử văn hoá thể thao Quảng Ninh
Quảng Ninh
4869 lượt xem
Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia
Di tích nổi bật
Xem tất cả




























































