Di tích lịch sử

Xem dạng bản đồThái Nguyên

Danh sách điểm di tích (45)

Trường dạy làm báo Huỳnh Thúc Kháng

Trường dạy làm báo Huỳnh Thúc Kháng

Trường dạy làm báo Huỳnh Thúc Kháng – Cái nôi của báo chí cách mạng Việt Nam. Nằm tại xã Tân Thái nay là xã Đại Phúc, tỉnh Thái Nguyên, Di tích lịch sử quốc gia Trường dạy làm báo Huỳnh Thúc Kháng là địa chỉ đỏ đặc biệt gắn liền với sự ra đời của nền báo chí cách mạng Việt Nam. Đây là nơi mở lớp đào tạo báo chí đầu tiên trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp, đặt nền móng cho công tác đào tạo đội ngũ những người làm báo cách mạng. Trường được thành lập năm 1949 theo chỉ thị của Chủ tịch Hồ Chí Minh và mang tên nhà yêu nước, nhà báo Huỳnh Thúc Kháng. Dù chỉ tổ chức một khóa học duy nhất trong ba tháng, ngôi trường đã đào tạo 42 học viên là cán bộ báo chí, tuyên truyền đến từ nhiều cơ quan Trung ương. Đặc biệt, đội ngũ giảng viên quy tụ nhiều đồng chí lãnh đạo và các nhà văn, nhà báo nổi tiếng như Trường Chinh, Võ Nguyên Giáp, Tố Hữu, Nguyễn Tuân, Xuân Diệu, Nam Cao… góp phần đào tạo lớp nhà báo đầu tiên phục vụ sự nghiệp kháng chiến. Ngày nay, khu di tích được quy hoạch khang trang với nhiều hạng mục như bia di tích, nhà trưng bày, nhà sàn tái hiện không gian báo chí Chiến khu Việt Bắc, phù điêu khắc họa chân dung Ban Giám hiệu, giảng viên và học viên cùng quảng trường phục vụ các hoạt động văn hóa, giáo dục truyền thống. Không chỉ là điểm tham quan ý nghĩa, nơi đây còn góp phần giáo dục truyền thống yêu nước, khơi dậy niềm tự hào về nền báo chí cách mạng Việt Nam và trở thành điểm đến hấp dẫn đối với những người yêu lịch sử, báo chí và du lịch về nguồn. Nguồn: Theo Cổng thông tin điện tử tỉnh Thái Nguyên

Thái Nguyên

140 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Di tích lịch sử Xưởng Đội Cấn – Nhà máy Quân giới k77

Di tích lịch sử Xưởng Đội Cấn – Nhà máy Quân giới k77

Di tích lịch sử Xưởng Đội Cấn – Nhà máy Quân giới k77 (1947-1954) ở xóm Đồng Làn, xã Đồng Thịnh, ATK Định Hóa. Ngày 15/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký chỉ thị thành lập Phòng Quân giới thuộc Bộ Quốc Phòng, với nhiệm vụ: thu thập, mua sắm và tổ chức cơ sở sản xuất vũ khí để trang bị cho quân đội. Xưởng Đội Cấn (Nhà máy Quân giới K77) thuộc Cục Quân giới Quân đội Nhân dân Việt Nam là Nhà máy chủ lực sản xuất đạn dược, vũ khí, đóng góp to lớn vào thắng lợi trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1946 – 1954), xây dựng nền tảng ngành Quân giới Việt Nam (nay là Tổng cục Công nghiệp Quốc phòng) góp phần cùng quân dân cả nước giành thắng lợi trong kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ cứu nước, xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Xưởng Đội Cấn cùng các xưởng Quân giới các liên khu kháng chiến chống thực dân Pháp trên toàn quốc góp sức làm nên thành quả to lớn của ngành Quân giới Việt Nam. Cục Quân giới ( nay là Tổng cục Công nghiệp Quốc phòng) được Đảng, Nhà nước trao tặng nhiều phần thưởng cao quý: Phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân trong kháng chiến chống thực dân Pháp và chống Mỹ cứu nước, Huân chương sao vàng, hai Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Quân công hạng nhất, hàng trăm Huân chương Chiến công, Huân chương Lao động. 17 tập thể và 58 cá nhân được phong tặng Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, Anh hùng lao động thời kỳ đổi mới, trong đó có 3 nhà máy Z111, Z121, Z113 được tuyên dương Anh hùng hai lần… Di tích Xưởng Đội Cấn được Cục Quân giới và Tổng Cục Công Nghiệp Quốc Phòng đầu tư, tôn tạo xây dựng khuôn viên, hàng rào với Tổ hợp phù điêu gốm nghệ thuật “Chủ tịch Hồ Chí Minh với công nhân Quân giới” Nhà trưng bày bổ sung di tích– thư viện phục vụ nhân dân xã Đồng Thịnh và khách tham quan di tích Quốc gia đặc biệt ATK Định Hóa, Thái Nguyên. Xác định là Cội nguồn của Tổng Cục Công nghiệp Quốc phòng ở Căn cứ địa Việt Bắc . Các điểm di tích lịch sử trên có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong quần thể Khu di tích Quốc gia đặc biệt ATK Định Hóa và.trong công tác giáo dục truyền thống cách mạng, học tập và làm theo tấm gương đạo đức, tư tưởng và phong cách Hồ Chí Minh. Để phát huy tốt tiềm năng giá trị di tích lịch sử và thực hiện chức năng nhiệm vụ Ban quản lý Khu di tích Lịch sử – Sinh thái ATK Định Hóa, Thái Nguyên nghiên cứu, lập hồ sơ khoa học dựa trên giá trị lịch sử, văn hóa và khoa học của di tích trình Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch. Ngày 9/3/2017, Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Nguyễn Ngọc Thiện đã ký quyết định số 814/QUYẾT ĐỊNH BỘ VĂN HÓA xếp hạng di tích quốc gia đối với địa điểm di tích lịch sử Cơ quan Bộ Tổng Tham mưu Quân đội nhân dân Việt Nam và nơi ở, làm việc của Tổng Tham mưu trưởng Hoàng Văn Thái (1949 – 1954) và quyết định số 813/QUYẾT ĐỊNH BỘ VĂN HÓA THỂ THAO DU LỊCH di tích lịch sử Xưởng Đội Cấn – Nhà máy Quân giới k77 (1947-1954). NGUỒN: Ban quản lý Khu di tích Lịch sử - Sinh thái ATK Định Hoá, Thái Nguyên

Thái Nguyên

3996 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Di tích lịch sử Nơi ở và làm việc của Đại tướng Võ Nguyên Giáp

Di tích lịch sử Nơi ở và làm việc của Đại tướng Võ Nguyên Giáp

Khu di tích lịch sử cơ quan Bộ Tổng tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam (1949- 1954) gồm hai điểm chính là nơi ở và làm việc của Đại tướng Võ Nguyên Giáp kiêm văn phòng Quân ủy ở đồi Đỏn Mỵ (là đồi mít ) và văn phòng Bộ tổng Tư lệnh trên đồi Khau Cuổi (là rừng chuối ) thuộc thôn Bảo Biên, xã Bảo Linh, huyện Định Hóa. Trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1947- 1954), Bảo Biên được chủ tịch Hồ chí Minh và Đảng ta chọn làm một trong những điểm trung tâm của căn cứ địa Trung ương (An toàn khu- gọi là ATK). Tại đây từng có các đồng chí lãnh đạo chỉ huy của Bộ Quốc phòng ở và làm việc như đồng chí Tạ Quang Bửu – Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, đồng chí Hoàng Văn Thái – tổng tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam ở đình bản Khen. Sau ngày kháng chiến thành công Thủ tướng Phạm Văn Đồng và Đại tướng Võ Nguyên Giáp nhiều lần viết thư thăm hỏi và động viên đồng bào các dân tộc ở đây, mùa xuân năm 1989 và 12/ 8/ 1998 Đại tướng Võ Nguyên Giáp về Bảo Biên, đã đến thăm nơi ở, làm việc năm xưa và văn phòng Bộ tổng Tư lệnh trong kháng chiến chống Pháp. Nơi ở và làm việc của Đại tướng Võ Nguyên Giáp và văn phòng quận uỷ nằm trên đồi Đỏn Mỵ, nhìn ra phía trước theo hướng Đông – Nam là cánh đồng Bảo Biên, có đường ô tô chạy qua, cắt ngang phía trước ngay sát di tích là con đường làng mới mở, bên phải, bên trái là nhà dân. Phía sau là dãy núi Lai Liệp nối liền với dải núi Hồng hùng vĩ, hiện nay qua khảo sát còn thấy 5 nền nhà to, nhỏ khác nhau được cây cối che phủ. Căn cứ vào kích thước, vị trí và lời kể của nhân chứng thì nền nhà lớn trên đỉnh đồi, giữa có một cửa hầm là nơi hội họp và làm việc. Phía trước là nhà gác, sau là bếp, bên trái là nhà ở của Đại tướng Võ Nguyên Giáp và văn phòng Quân ủy cùng với nhân viên phục vụ, dưới chân đồi phía sau có một cái ao lau sậy um tùm xung quanh là ruộng của dân. Khu vực văn phòng Bộ tổng Tư lệnh nằm trên dải đồi thấp, đối diện phía trước cách nơi ở của Đại tướng Võ Nguyên Giáp khoảng 700m về hướng Đông – Nam, xung quanh bên phải, bên trái, phía sau là rừng cọ, vào, phía trước nhìn lên hướng Tây – Bắc là cánh đồng Bảo Biên. Qua khảo sát thấy có hai nền nhà liền nhau còn rõ dấu tích, đó là hội trường lớn và văn phòng làm việc của Bộ tổng Tư lệnh, ngoài ra còn nhiều nền nhà to, nhỏ khác nhau nằm rải rác trên đồi Khau Cuổi, đó là nơi ở của bộ đội ta để bảo vệ khu căn cứ Bảo Biên. Toàn bộ khu di tích lịch sử Bảo Biên nằm trong một thung lũng nhỏ hẹp, bao quanh là rừng núi rất kín đáo, tiện lợi cho việc giữ gìn bí mật, nhưng cũng rất thuận lợi cho việc liên lạc đi các hướng. Từ đây có thể ra Chợ Chu, xuống Thái Nguyên, lên Chợ Đồn – Bắc Kạn, sang Sơn Dương – Tuyên Quang một cách dễ dàng. Bảo Biên là trung tâm đầu não quân sự của Đảng ta, tại đây Đại tướng Võ Nguyên Giáp cùng với quân ủy và Bộ tổng Tư lệnh xây dựng các kế hoạch quân sự quan trọng trình lên thường vụ Trung ương Đảng, Hồ Chủ Tịch phê duyệt, chỉ huy, chỉ đạo nhiều chiến dịch lớn, trong đó có chiến dịch Điện Biên Phủ lịch sử, Bảo Biên có một vị trí quan trọng trong lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp của dân tộc ta. Cùng với thời gian, do tác động của thiên nhiên cũng như con người nên di tích bị xuống cấp nhiều. Nơi ở và làm việc của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Văn phòng quân ủy và văn phòng Bộ tổng Tư lệnh trước đây được làm bằng tre, nứa, gỗ, không còn nữa, dấu tích nền nhà còn tương đối nguyên vẹn. Nhờ ý thức bảo vệ di tích của đồng bào, cả hai địa điểm của khu di tích không bị phá hại xâm lấn, đầu năm 1996 theo dự án đầu tư xây dựng vùng ATK của nhà nước, đường ô tô đã mở qua phía trước trung tâm khu di tích, làm đường xây bậc lên bằng gạch, xi măng vào nơi ở của Đại tướng Võ Nguyên Giáp và văn phòng Quân ủy, đường điện lưới quốc gia cũng đang được xây dựng. Cuối năm 1996 nhân dân địa phương huy động làm đường ô tô vào điểm di tích văn phòng Bộ tổng Tư lệnh. Cùng với các di tích trong vùng ATK Định Hóa như nơi hợp nhất đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân với đội Cứu quốc quân thành Việt Nam giải phóng quân (15/ 5/ 1945) tại Định Biên. Di tích chủ tịch Hồ Chí Minh ở Tỉn Keo xã Phú Đình, vượt qua Đèo De núi Hồng là khu di tích lịch sử Tân Trào (Tuyên Quang)… tạo thành một quần thể di tích cách mạng và kháng chiến, thuận tiện cho việc tham quan du lịch. Để phát huy tốt giá trị của di tích, cần tạo một môi trường tốt về đời sống vật chất, tinh thần, phải đẩy mạnh phát triển kinh tế, văn hóa, giáo dục, nâng cao dân trí trong vùng, phục hồi lại một vài điểm di tích quan trọng, xây dựng nhà bia ghi dấu sự kiện, dựng biển hướng dẫn để đón khách vào tham quan thường xuyên. Địa điểm di tích cơ quan Bộ tổng Tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam (1949 – 1954) tại Bảo Biên được Bộ Văn hóa Thông tin xếp hạng di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia theo quyết định số: 43/1999-QĐ-BVHTT, ngày 12/07/1999, quân dân xã Bảo Linh được tuyên dương Anh hùng lực lượng vũ trang trong kháng chiến chống thực dân Pháp. NGUỒN: Ban quản lý Khu di tích Lịch sử - Sinh thái ATK Định Hoá, Thái Nguyên

Thái Nguyên

4512 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Văn phòng Trung ương Đảng

Văn phòng Trung ương Đảng

Địa điểm di tích Tổng Bí thư Trường Chinh và Văn phòng Trung ương Đảng ở làm việc tại Nà Mòn, xã Phú Đình, huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên. Kháng chiến toàn quốc bùng nổ (19/12/1946), thực hiện đường lối “kháng chiến toàn dân, toàn diện, trường kỳ, tự lực cánh sinh” bảo vệ độc lập dân tộc, Tổng Bí thư Trường Chinh cùng Văn phòng Trung ương Đảng di chuyển từ Hà Nội lên Phú Thọ, qua Tuyên Quang, Đèo Khế, Minh Tiến (huyện Đại Từ)…Điểm dừng chân đầu tiên của Tổng Bí thư Trường Chinh, đồng chí Lê Văn Lương cùng anh Lê Đức Thọ… tại An toàn khu (ATK) Định Hóa là ở nhà sàn của dân xã Quảng Nạp nay là xã Bình Thành, nơi giáp ranh với xã Minh Tiến, huyện Đại Từ, cửa ngõ vào ATK, có chợ quê kháng chiến, một thị tứ khá đông đúc đầu năm 1947 của chiến khu Việt Bắc. Cùng di chuyển, đặt cơ quan làm việc với đồng chí Trường Chinh, ngoài Văn phòng Trung ương Đảng còn có bộ phận biên tập, phóng viên báo Sự Thật của Đảng, Ban Tổ chức Trung ương chủ yếu di chuyển quanh dưới chân dãy núi Hồng từ xã Điềm Mặc lên xã Phú Đình… (Theo lời kể của Bà Nguyễn Thị Bích Thuận nguyên Phó Cục trưởng Cục Cảnh vệ, vợ cố ủy viên Bộ Chính trị, Trưởng ban tổ chức Trung ương Lê Văn Lương cùng con gái thăm lại chốn xưa ở ATK Định Hóa năm 2006) Dừng chân ở Quảng Nạp vài tháng, Tổng Bí thư cùng Văn phòng Trung ương di chuyển lên đồi Khuổi Khê, địa bàn xóm Phụng Hiển (Thanh Định, nay là xã Điềm Mặc), sau đó lại di dời lên xóm Na Mòn (xã Phú Đình), ở chân núi Hồng, gần dân, có đồng ruộng trải rộng phía trước. Từ đây đến đồi Thẩm Khen nơi Phó Thủ tướng Phạm Văn Đồng làm việc (1950 - 1953) khoảng 1km, cách cơ quan Phủ Chủ tịch Bác Hồ ở Tỉn Keo 2,5km. Có thể theo đường ngựa đi vượt Đèo De núi Hồng sang Tân Trào (Sơn Dương, Tuyên Quang) có 6 – 7 km. Trong thời kỳ kháng chiến, đồng chí Trường Chinh cùng Văn phòng Trung ương Đảng di chuyển cùng các cơ quan Trung ương và Chủ tịch Hồ Chí Minh từ Định Hóa sang Võ Nhai, lên Chợ Đồn (Bắc Kạn), sang Sơn Dương, Chiêm Hóa (Tuyên Quang)…rồi lại quay về ở, làm việc, sống cùng đồng bào Tày, Nùng xóm Nà Mòn dưới chân núi Hồng, xã Phú Đình lâu nhất từ 1948 đến đầu năm 1954. Văn phòng Trung ương Đảng tại Nà Mòn là cơ quan tham mưu, giúp việc cho Tổng Bí thư Trường Chinh, nhận các chỉ thị, báo cáo từ Đảng bộ các tỉnh, các liên khu và là nơi phát đi chủ trương, đường lối, nghị quyết, chỉ thị chỉ đạo, lãnh đạo ra toàn quốc. Tại đây thông qua nhiều chỉ thị, chủ trương, nghị quyết quan trọng, mở các chiến dịch lớn như hạ quyết tâm giải phóng, khai thông biên giới với nước bạn Trung Quốc (1950), chiến dịch Trung Du, chiến dịch Hà Nam Ninh, chiến dịch Hòa Bình, Tây Bắc… Cũng tại đây đã chuẩn bị báo cáo chính trị, dự kiến nhân sự, tổ chức chuẩn bị văn kiện đại hội Đảng toàn quốc lần thứ II diễn ra tại Kim Bình, Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang năm 1951… NGUỒN: Ban quản lý Khu di tích Lịch sử - Sinh thái ATK Định Hoá, Thái Nguyên

Thái Nguyên

3931 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Đồi Pụ Đồn

Đồi Pụ Đồn

Trong không khí phấn khởi toàn đảng, toàn dân và toàn quân ta hướng tới kỷ niệm 80 năm Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam và 35 năm Ngày hội Quốc phòng toàn dân, chiều ngày 09/12/2024, tại xóm Tỉn Keo, xã Phú Đình, huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên, Bộ tư lệnh Quan khu I phối hợp với Ủy ban Nhân dân tỉnh Thái Nguyên đã long trọng tổ chức khánh thành, bàn giao công trình tu bổ, tôn tạo Di tích Quốc gia Đồi Pụ Đồn, thuộc Khu di tích Quốc gia đặc biệt ATK Định Hóa, Thái Nguyên. Dự án tu bổ, tôn tạo Di tích Quốc gia Đồi Pụ Đồn được khởi công xây dựng từ tháng 01/2024, với diện tích 3,32ha gồm các hạng mục: Cổng nghi môn; khối đá tên công trình; nhà đón tiếp; nhà bia di tích; nhà tưởng niệm Đại tướng Võ Nguyên Giáp; bình phong đá; cột cờ cùng các hạng mục phụ trợ khác. Sau hơn 10 tháng thi công việc tu bổ, tôn tạo đã hoàn tất và đưa vào sử dụng để phục vụ du khách trong và ngoài tỉnh tham quan. Sau khi khánh thành đưa vào sử dụng Di tích Quốc gia Đồi Pụ Đồn cùng với các di tích khác thuộc Khu di tích Quốc gia đặc biệt ATK sẽ là địa chỉ đỏ để cán bộ, chiến sỹ toàn quân về nguồn giáo dục truyền thống cách mạng, góp phần nâng cao công tác quảng bá, giới thiệu về tiềm năng, thế mạnh của mảnh đất, con người ATK Định Hóa, Thái Nguyên./. NGUỒN: Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Thái Nguyên

Thái Nguyên

3628 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Đồi phong Tướng

Đồi phong Tướng

Ngày 20/1/1948 tại Phủ Chủ tịch – mái lá cọ đơn sơ ở Khuôn Tát (xã Phú Đình), Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh số 110/SL phong quân hàm cấp tướng cho một số cán bộ lãnh đạo - chỉ huy quân đội, quân hàm Đại tướng: Võ Nguyên Giáp, quân hàm Trung tướng: Nguyễn Bình, quân hàm Thiếu tướng: Nguyễn Sơn, Lê Thiết Hùng, Chu Văn Tấn, Hoàng Sâm, Hoàng Văn Thái, Lê Hiến Mai, Văn Tiến Dũng, Trần Đại Nghĩa, Trần Tử Bình. Trong một căn nhà dựng bên suối lớn, dựa một bên núi, cây cối chen phủ kín, ở ngoài trông vào rất khó thấy mà máy bay cũng khó lòng sục sạo. Một phòng trưng bày đặc biệt. Có bàn thờ Tổ quốc, chung quanh băng đỏ ghi các khẩu hiệu: “Trường kỳ kháng chiến nhất định thắng lợi”, “Thống nhất độc lập nhất định thành công“… trông đơn giản mà trang nghiêm. Chủ tịch Hồ Chí Minh và cụ Bùi Bằng Đoàn, Trưởng ban Thường trực Quốc hội, lên đứng 2 bên bàn thờ, toàn thể nhân viên Chính phủ đứng xếp hàng trước bàn thờ (ông Cù Huy Cận – thư ký Hội đồng Chính phủ, Phan Mỹ – Chánh văn phòng Chính phủ)… Chủ tịch Hồ Chí Minh tay cầm sắc lệnh gọi Võ Nguyên Giáp lên trước bàn thờ, rồi Cụ nín lặng, sụt sùi rơi nước mắt… Một phút vô cùng cảm động, mọi người đều rớm nước mắt. Giây lâu, Chủ tịch Hồ Chí Minh mới cất được tiếng mà tuyên bố: Nhân danh Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, trao cho chú chức vụ Đại tướng, để chú điều binh khiển sĩ làm trọn sứ mạng mà quốc dân phó thác cho. Đồng chí Võ Nguyên Giáp nhận sắc lệnh. Cụ Trưởng ban Thường trực nhân danh Quốc hội tuyên bố mấy lời. Ông Phan Anh thay mặt Chính phủ nói mấy câu chúc mùng. Tạ Quang Bửu – Bộ trưởng Bộ Quốc phòng nhân danh bộ đội tỏ lời mừng của toàn thể bộ đội và nêu cao tinh thần phấn đấu anh dũng dưới sự chỉ huy của Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Sau cùng, đồng chí Võ Nguyên Giáp đứng lên cảm ơn Chủ tịch Hồ Chí Minh, Quốc hội và Chính phủ, tuyên bố sẽ tiếp tục nỗ lực làm tròn nhiệm vụ để đem lại độc lập và thống nhất cho đất nước, Võ Nguyên Giáp lần lượt bắt tay tất cả mọi người. Rồi Chủ tịch Hồ Chí Minh tuyên bố bế mạc cuộc lễ. Ghi dấu sự kiện này, “Cảnh vệ Công an nhân dân Việt Nam, lịch sử biên niên 1941-1954” khắc ghi. “Từ đầu tháng 5 đến cuối tháng 5-1948 bảo vệ Bác trở lại Nà Lọm, xã Phú Đình, ở ngay trại thiếu nhi Bác Hồ bên suối Nà Lọm, cách đồi cũ chừng 200m. Tại đây Bác Hồ cùng Chính phủ phong quân hàm Đại tướng cho đồng chí Võ Nguyên Giáp”... Ban quản lý di tích và danh thắng Thái Nguyên đã lập hồ sơ khoa học trình Bộ Văn hóa-Thể thao và Du lịch xếp hạng di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia cho địa điểm di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trì lễ phong quân hàm Đại tướng đầu tiên của quân đội ta, nơi ghi dấu sự kiện lịch sử quan trọng đánh dấu sự tiến lên chính quy, hiện đại của quân đội ta và sự quan tâm đào tạo, rèn luyện, cất nhắc các tướng lĩnh Quân đội nhân dân Việt Nam trở thành đội ngũ cán bộ lãnh đạo quân đội đánh thắng kẻ thù xâm lược bảo vệ độc lập, tự do của Tổ quốc.

Thái Nguyên

4071 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Cầu Gia Bảy

Cầu Gia Bảy

Cầu Gia Bảy được xây dựng khoảng những năm 1928-1930. Trước đây, cầu nằm trên Quốc lộ 1B, con đường huyết mạch nối từ Lạng Sơn sang Thái Nguyên. Vào thời kỳ Chiến tranh Đông Dương, cầu từng bị binh lính và người dân Việt Nam phá sập vào năm 1947. Đến năm 1965, cầu bị máy bay Hoa Kỳ ném trúng ba quả bom và hư hỏng nặng. Năm 1991, cầu được xây mới tại vị trí cũ, có chiều dài gần 100m, chiều rộng khống chế 9m. Cầu Gia Bảy là nơi ghi nhiều dấu ấn lịch sử, nhất là trong thời kỳ kháng chiến chống đế quốc Mỹ. Lịch sử đã ghi lại: Ngày 17/10/1965, giặc Mỹ huy động 29 lần chiếc máy bay, ném 116 quả bom phá xuống cầu Gia Bảy và nhiều loạt đoạn tên lửa xuống trận địa pháo cao xạ của Trung đoàn 210, mở đầu cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân của chúng vào Thái Nguyên. Sức tàn phá quá lớn của trận bom đã khiến cầu Gia Bảy bị hỏng hai mố, dầm chủ và dầm bên thượng lưu, hạ lưu bị đứt khiến giao thông hoàn toàn ngưng trệ. Bom Mỹ làm 147 người chết và bị thương; 45 ngôi nhà ở hai bên đầu cầu bị cháy, đổ; 32 cán bộ chiến sĩ trong Đại đội tự vệ khu phố Hoàng Văn Thụ thương vong. NGUỒN: Sở ngoại vụ Tỉnh Thái Nguyên

Thái Nguyên

4383 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp tỉnh

Mở

Cụm di tích khởi nghĩa Thái Nguyên

Cụm di tích khởi nghĩa Thái Nguyên

Cách đây 105 năm, khởi nghĩa Thái Nguyên do Đội Cấn và Lương Ngọc Quyến lãnh đạo đã làm rung chuyển chính quyền thực dân Pháp ở Đông Dương. Đây được xem là cuộc khởi nghĩa vũ trang hào hùng vào bậc nhất trong lịch sử dân tộc ta đầu thế kỷ XX. Ngược dòng lịch sử, trong những năm đầu thế kỷ XX, Nhân dân trong tỉnh Thái Nguyên cũng như cả nước chịu muôn vàn thống khổ bởi sự áp bức, bóc lột của thực dân Pháp và tay sai. Trong tình cảnh đó, những người con của quê hương Thái Nguyên có tinh thần yêu nước đã dựng cờ khởi nghĩa, đứng đầu là Trịnh Văn Cấn và Lương Ngọc Quyến. Cuộc khởi nghĩa nổ ra vào tối 30/8/1917, các ông Đội Trường, Ba Chén và một số binh lính giác ngộ đã tới diệt tên giám binh Nô-en (Noel) và những tên tay sai đắc lực của giặc. Ông Đội Giá và đồng đội tới giết hai vợ chồng tên Lô-ét (Loet) - một tên giám ngục rất độc ác, mở cửa nhà lao phá xiềng xích, giải thoát cho trên 200 tù chính trị và tù thường phạm. Ông Lương Ngọc Quyến bị liệt nửa người, được anh em cõng ra ngoài. Tiếp đó ông Đội Giá cho mở kho quân lương, lấy quần áo, đạn dược trang bị cho nghĩa quân rồi chiếm tiếp dinh Công sứ, tòa án, nhà đoan, kho rượu, kho đạn... Với tinh thần chiến đấu ngoan cường, nghĩa quân đã làm chủ tỉnh lị trong vòng 1 tuần. Ngày 5/9/1917, mặt trận của nghĩa quân tại thị xã Thái Nguyên bị phá vỡ, buộc phải rút lui khỏi Thái Nguyên. Ông Lương Ngọc Quyến bị thương nặng và hy sinh anh dũng. Tuy thất bại sau đó nhưng khởi nghĩa đã để lại một dấu mốc đặc biệt. Lần đầu tiên trong lịch sử cận đại Việt Nam, một cuộc khởi nghĩa diễn ra, giành được chính quyền tại một tỉnh, có tuyên ngôn, tuyên bố nền độc lập, có quốc kỳ, quốc hiệu, thành lập quân đội riêng. Cụm di tích khởi nghĩa Thái Nguyên đã được xếp hạng Quốc gia năm 1997, gồm các di tích: Trại lính khố xanh, dinh công sứ Pháp, nhà lao Thái Nguyên, đền thờ Đội Cấn. NGUỒN: Sở ngoại vụ Tỉnh Thái Nguyên

Thái Nguyên

4346 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp tỉnh

Mở

Khu du lịch sinh thái, bảo tồn văn hóa truyền thống dân tộc Tày ở Thái Nguyên

Khu du lịch sinh thái, bảo tồn văn hóa truyền thống dân tộc Tày ở Thái Nguyên

Nằm cách trung tâm thành phố Thái Nguyên hơn 10km, khu du lịch sinh thái Thái Hải thuộc xóm Mỹ Hào, xã Thịnh Đức, thành phố Thái Nguyên là một khu du lịch trải nghiệm phong tục tập quán dân tộc Tày, từ nhiều năm nay. Khu du lịch sinh thái, bảo tồn văn hóa dân tộc Tày Thái Hải hiện nay có khoảng 30 ngôi nhà sàn được dựng theo nguyên bản từ nhà sàn của người Tày Định Hóa Thái Nguyên nơi bạn có thể được thưởng thức văn hóa người Tày vô cùng đặc sắc Nơi đây, dưới những nếp nhà sàn quần tụ trong không gian xanh mướt của những tán cọ, rừng keo, rừng vầu trong núi đồi bảo tồn các hiện vật và văn hóa dân gian truyền thống của đồng bào Tày, Nùng Việt Bắc.Làng nhà sàn Thái Hải được chia làm nhiều khu với những chức năng riêng, gồm có khu bảo tồn, khu ẩm thực, khu vui chơi giải trí, tổ chức sự kiện…là điểm đến hấp dẫn thu hút du khách trong và ngoài nước.

Thái Nguyên

4287 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp tỉnh

Mở

Bảo tàng Văn hoá các Dân tộc Việt Nam

Bảo tàng Văn hoá các Dân tộc Việt Nam

Bảo tàng Văn hoá các Dân tộc Việt Nam Bảo tàng Văn hóa các dân tộc Việt Nam có địa chỉ tại số 1 Đội Cấn, Trưng Vương, thành phố Thái Nguyên (tỉnh Thái Nguyên), được thành lập vào năm 1960 với tên gọi ban đầu là Bảo tàng Việt Bắc, đến năm 1990 đổi tên thành Bảo tàng Văn hóa các dân tộc Việt Nam. Với diện tích gần 40.000m2, đây là công trình hội tụ, lưu giữ, trưng bày và giới thiệu những tư liệu quan trọng về lịch sử, bản sắc văn hóa của cộng đồng các dân tộc trên đất nước Việt Nam. Bảo tàng Văn hóa các dân tộc Việt Nam đạt giải thưởng Hồ Chí Minh về công trình kiến trúc đợt I, năm 2006. Trong đó, các dân tộc anh em tại các khu vực như vùng đồng bằng, trung du Bắc Bộ, Tây Bắc, Đông Bắc, Tây Nguyên, đồng bằng Nam Bộ… được tái hiện qua gần 50.000 hiện vật trong không gian bảo tàng. Trong đó, bản sắc văn hóa về phong tục, tập quán lao động, sản xuất, các nghi lễ, lễ hội, trang phục, ẩm thực, kiến trúc, nghề thủ công… được tái hiện sinh động qua hệ thống tư liệu, di sản văn hóa vật thể và phi vật thể. NGUỒN: Cơ quan Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam

Thái Nguyên

4297 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp tỉnh

Mở

Di tích rừng Khuân Mánh

Di tích rừng Khuân Mánh

Di tích rừng Khuân Mánh Rừng Khuân Mánh là khu rừng thuộc xã Tràng Xá, huyện Võ Nhai, cách thành phố Thái Nguyên 50 km về phía Đông Bắc. Đây là nơi ra đời của Trung ương đảng về bảo toàn và tiếp tục củng cố lực lượng, ngày 15/9/1941, thay mặt thường vụ trung ương Đảng, ông Hoàng Quốc Việt đã đến căn cứ chứng kiến lễ thành lập và trao nhiệm vụ cho đội cứu quốc quân II, ông Chu Văn Tấn là chỉ huy trưởng, ông Nguyễn Văn Phấn làm chỉ huy phó. Lúc đầu trung đội có 36 người, trong đó có 3 nữ, sau tăng lên 46 người, trang bị vũ khí thô sơ, chỉ có súng kíp và giáo mác. Sau lễ thành lập, trung đội bắt tay vào xây dựng cơ sở chính trị trong nhân dân, đẩy mạnh hoạt động du kích ở Tràng Xá, Đình Cả, gây nhiều tổn thất cho địch. Tháng 11/1944, nhiều trận chiến đấu ác liệt giữa đội cứu quốc quân II, (có sự tham dự của nhân dân địa phương) với quân đội Pháp tại cầu Đồng Thu, đèo Khê, gốc đa La Hán, núi Đá Đỏ, hang Mỏ gà... các địa danh này lưu dấu chiến công oanh liệt của quân dân Võ Nhai thời đó. NGUỒN: Du Lịch Thế Giới

Thái Nguyên

3778 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp tỉnh

Mở

Chùa Đông Cao

Chùa Đông Cao

Chùa Đông Cao hay chùa Đôi Cao, được xây dựng từ thời nhà Lý, tọa lạc trên quả đồi thuộc thôn Phúc Duyên, xã Tân Hương. Trải qua cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, ngôi chùa bị tàn phá. Đến năm 1999, xã Tân Hương đã tổ chức trùng tu lại chùa và xây dựng gác chuông. Năm 2002, bà con trong xã và các nhà hảo tâm đã vận động quyên góp hơn 120 triệu đồng để tu bổ chùa. Hiện, chùa đã được đầu tư xây dựng khang trang, sạch đẹp, có nhà Tam Bảo, nhà thờ Mẫu, nhà thờ Bác Hồ, phía trước mặt là gác chuông 3 tầng. Chùa Đông Cao đã được công nhận là di tích lịch sử – văn hoá cấp tỉnh năm 2004. Hàng năm, cứ vào ngày 14, 15 tháng Giêng, bà con trong xã và du khách thập phương lại tới chùa làm lễ cầu nguyện năm mới an lành, cây cối đâm chồi nảy lộc, vạn vật tốt tươi. Lễ hội còn diễn ra các hoạt động giao lưu văn hoá, văn nghệ (ảnh) và các trò chơi dân gian thu hút đông đảo người dân tham gia như: Đấu vật, cờ tướng, chọi gà… Chùa thường được gọi là chùa Đông Cao, chùa Cao, tọa lạc trên một ngọn đồi thuộc xã Tân Hương, huyện Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên. Từ Hà Nội đến địa phận tỉnh Thái Nguyên, đi 16km nữa thì đến chùa. Chùa thuộc hệ phái Bắc tông. Chùa được dựng vào thời Hậu Lê. Ngôi chùa ngày nay do Sư cụ Thích Đàm Hinh tổ chức xây cất vào ngày 17 tháng 5 năm 1992, hoàn thành ngày 21 tháng 7 năm 1992. Chùa còn giữ được các ngôi tháp, bia, cột đá thời Hậu Lê, như tấm bia cổ có khắc niên hiệu Chính Hòa năm thứ 18 (1697). NGUỒN: Viet Architect Group

Thái Nguyên

3552 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp tỉnh

Mở

Đình Minh Lý

Đình Minh Lý

Sáng ngày 06/01, Đảng ủy, chính quyền và nhân dân xã Minh Lập đã tổ chức Lễ đón nhận Bằng di tích lịch sử văn hóa cấp tỉnh cho đình Minh Lý. Đình Minh Lý thuộc xóm Minh Lý, xã Minh Lập là nơi sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng của nhân dân trong xã. Đình thờ vị anh hùng dân tộc Dương Tự Minh, người có đóng góp to lớn trong việc duy trì, củng cố khối đại đoàn kết các dân tộc đánh đuổi giặc ngoại xâm, được nhân dân tôn kính và lập đền thờ Thành hoàng làng. Ngôi đình đã có từ rất lâu, song do biến thiên của lịch sử, thiên tai tàn phá khiến Đình Minh Lý bị xuống cấp nghiêm trọng. Năm 2007, nhân dân 4 xóm Ao Sơn, Đoàn Kết, Làng Chu và Theo Cày đã cùng nhau công đức xây dựng lại ngôi đình trên nền cũ. Đình gồm có tiền tế và hậu cung, tổng diện tích đất xây dựng là 1.903 m. Hằng năm tại đình có 2 kỳ lễ chính vào ngày 09/1 và ngày 20/11 âm lịch, ngoài ra còn có các ngày lễ khác như lễ hạ điền và thượng điền. Lễ vật dâng lên thành hoàng làng chủ yếu là các nông sản tại địa phương với mục đích cầu cho mưa thuận gió hòa,cây cối tốt tươi, mùa màng bội thu, nhân dân các dân tộc trên địa bàn được ấm no hạnh phúc. Với những giá trị về lịch sử và văn hóa, UBND tỉnh Thái Nguyên quyết định công nhận đình Minh Lý là di tích lịch sử văn hóa cấp tỉnh. Đây là niềm vui của Đảng bộ, chính quyền và nhân dân xã Minh Lập nói riêng và huyện Đồng Hỷ nói chung. Việc được công nhận là di tích lịch sử góp phần bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa dân tộc, giáo dục truyền thống yêu nước, đáp ứng nhu cầu tâm linh của nhân dân trên địa bàn./. NGUỒN TRANG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ HUYỆN ĐỒNG HỶ

Thái Nguyên

3524 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp tỉnh

Mở

Địa điểm đóng quân Cục Thông tin liên lạc

Địa điểm đóng quân Cục Thông tin liên lạc

Trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp, đã có nhiều cơ quan được thành lập, đóng và làm việc tại ATK Định Hóa. Trong số này có cơ quan Cục Thông tin, Bộ Quốc phòng. Ngày 31/7/1949, Bộ trưởng Bộ quốc phòng ban hành Nghị định số 123/NĐ thành lập Cục Thông tin thuộc Bộ Tổng tư lệnh Quân đội Quốc gia và Dân quân, tự vệ Việt Nam. Cơ quan thành lập trên cơ sở Phòng Thông tin liên lạc quân sự do đồng chí Hoàng Đạo Thúy làm Trưởng phòng. Theo Nghị định, Cục Thông tin là cơ quan tham mưu cho Bộ Tổng tư lệnh về mặt thông tin liên lạc; tổ chức, giữ vững thông tin liên lạc từ Bộ Tổng Tham mưu đến các chiến trường, các đơn vị chỉ đạo nghiệp vụ; trang bị vật chất kỹ thuật cho các đơn vị thông tin liên lạc trực thuộc Bộ Quốc phòng, Tổng tư lệnh; thống nhất tất cả các lực lượng thông tin liên lạc ở cơ quan Bộ Quốc phòng, Sở Vô tuyến điện Việt Nam và đưa về nằm trong đội hình Cục Thông tin. Trong giai đoạn 1952-1953, cơ quan Cục Thông tin ở và làm việc ở xóm Khuổi Tát, xã Quy Kỳ (Định Hóa). Địa điểm này đã được khảo sát, xác định vị trí nhưng được xây bia di tích. Ông Hoàng Văn Chức, sinh năm 1942, ở xóm Khuổi Tát, xã Quy Kỳ xác nhận: Khu vực Cục Thông tin làm việc nằm ở trên lưng chừng đồi, san gạt nền tương đối rộng. Sau khi chuyển đi thì nơi này vẫn còn giấu khá nhiều máy móc và điện đàm nhưng nay không còn và gần như mất dấu. Tháng 5-1953, Cục Thông tin chuyển địa điểm đến xóm Khuân Giàng, xã Trung Hội (từ năm 1953 đến nay thuộc xã Trung Lương, Định Hóa). Tuy còn nhiều khó khăn, thiếu thốn nhưng đội ngũ cán bộ đơn vị đã xác định quyết tâm trong thời gian 6 tháng phải hoàn thành những công việc: Hình thành tổ chức cơ quan và đơn vị thuộc Cục; mở lớp đào tạo sĩ quan tham mưu, thông tin liên lạc và cán bộ kỹ thuật sửa chữa vô tuyến điện, điện thoại, máy phát điện; dự thảo trình Bộ Quốc phòng, Tổng Tư lệnh duyệt và ban hành phương án tổ chức hệ thống thông tin liên lạc trong toàn quân; sắm và sửa chữa các phương tiện khí tài thông tin liên lạc để sớm trang bị cho các đơn vị, đồng thời nhanh chóng biên soạn tài liệu “Thông tin liên lạc sơ lược” để huấn luyện trong toàn quân. Cũng tại Khuân Giàng, Tổng Tham mưu trưởng Hoàng Văn Thái đã dành nhiều thời gian đến làm việc và nói chuyện với cán bộ, chiến sĩ của Cục Thông tin. Ông nhấn mạnh: “Thông tin liên lạc cần nắm chắc những nhiệm vụ cốt yếu nhất, trong đó hàng đầu là xây dựng đội ngũ cán bộ, chiến sĩ có đủ trình độ đảm nhận nhiệm vụ, bảo đảm chỉ huy bộ đội trong điều kiện tác chiến vận động với quy mô lớn hơn. Phương hướng tự lực là đúng nhưng Cục Thông tin cần tăng cường phương tiện vật chất - kỹ thuật cho cấp chiến dịch, chiến thuật để đủ sức hoàn thành nhiệm vụ…”. Trong cuộc kháng chiến chống Pháp, Cục Thông tin đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao, bảo đảm thông tin liên lạc cho lãnh đạo, chỉ huy các cấp phối hợp giữa các chiến trường; góp phần xây dựng các đại đoàn chủ lực, bảo đảm cho chỉ huy tác chiến của ba thứ quân, cho đấu tranh chính trị, ngoại giao…phục vụ đắc lực cho lực lượng vũ trang đấu tranh giành thắng lợi trong các chiến dịch, đặc biệt là cuộc tiến công chiến lược Đông Xuân (1953-1954) mà đỉnh cao là Chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ năm 1954. Với ý nghĩa lịch sự quan trọng như vậy, địa điểm đóng quân của Cục Thông tin (1953-1954) tại Khuân Giàng, xã Trung Lương đã được UBND tỉnh công nhận là di tích lịch sử cấp tỉnh vào tháng 8-2017. NGUỒN: Báo Thái Nguyên

Thái Nguyên

3806 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp tỉnh

Mở

Địa điểm an táng nhà yêu nước Lương Ngọc Quyến

Địa điểm an táng nhà yêu nước Lương Ngọc Quyến

Ngày 25-8, tại xóm Thống Nhất 3, xã Vô Tranh (Phú Lương), huyện Phú Lương đã long trọng tổ chức Lễ đón nhận và động thổ công trình ghi dấu tích địa điểm an táng nhà yêu nước Lương Ngọc Quyến cấp tỉnh. Nhà yêu nước Lương Ngọc Quyến sinh năm 1885, 19 tuổi tham gia vào sự nghiệp giải phóng dân tộc; 29 tuổi, bị thực dân Pháp bắt giữ, kết án chung thân cấm cố qua nhiều nhà tù. Ngày 25-7-1916, chúng chuyển ông lên giam ở Nhà tù Thái Nguyên. Tại đây, ông đã giác ngộ lòng yêu nước, ý chí đấu tranh cho các bạn tù và binh lính khố xanh, trong đó có Trịnh Văn Cấn (tức Đội Cấn). Cuộc khởi nghĩa Thái Nguyên nổ ra đêm 30-8-1917, đến ngày 4-9-1917, ông bị trúng đạn pháo của địch, hy sinh. Nghĩa quân chôn cất ông ở phía Đông Nam đồi Gò Mu, xóm Thống Nhất 3, xã Vô Tranh (Phú Lương). Ngày 23-12-2001, được sự giúp đỡ của chính quyền địa phương và cơ quan chuyên môn, các hậu duệ đã lấy di cốt ông mang về quê nhà, xã Nhị Khê, huyện Thường Tín (Hà Tây) truy điệu, an táng. Nơi ông yên nghỉ (1917-2001) được tỉnh Thái Nguyên xếp hạng Di tích lịch sử cấp tỉnh (Quyết định số 2386/QĐ-UBND, ngày 10-8-2017). Diện tích đất khoanh vùng bảo vệ di tích rộng 1.281m­2, trong đó khu vực an táng rộng 335 m2; khu vực cảnh quan tiếp giáp và khu vực phụ cận rộng 946 m2. Cùng ngày, các đại biểu đã tham gia Lễ động thổ công trình; UBND xã Vô Tranh cũng đã công bố quyết định thành lập Ban Quản lý Di tích, gồm 11 người. NGUỒN: Báo Thái Nguyên

Thái Nguyên

3878 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp tỉnh

Mở

Đình Vân Hán

Đình Vân Hán

Đình Vân Hán thuộc xóm Vân Hán, xã Văn Hán; đình có từ xa xưa, nằm trên một gò đồi với diện tích trên 1 ha, thuộc loại hình Kiến trúc nghệ thuật, di tích lịch sử kháng chiến. Đình thờ Đức thánh cả Cao Sơn Quý Minh Đại Vương - một danh tướng chống giặc Tống thời Lý và con gái của ông. Năm 1951 tại Đình Vân Hán có mở Hội nghị trù bị ban chính sách thuế nông nghiệp do đồng chí Trường Chinh chủ trì. Đình trước kia được xây dựng theo kiểu nhà sàn, gồm một gian, 2 trái, quay hướng Tây Nam; mái Đình lợp bằng ngói vẩy, trong Đình có nhiều cột to đường kính từ 50  60 cm; trải qua thời gian và các biến cố lịch sử, Đình đã được xây dựng lại 5 lần, lần làm lại cuối cùng năm 2015, gồm 03 gian lợp ngói đỏ. Hiện trong Đình còn giữ được nhiều hiện vật cổ như: 1 Bộ kiệu rước, trạm trổ nổi hình rồng; 1 Nhan án trạm trổ nổi hình con hạc, con rồng; 1 bát hương cổ bằng xứ, trạm trổ hình rồng phượng; 1 Bức tượng ông Cao Sơn Quy Minh, hai góc bên dưới bức tượng khắc 2 mặt của Ngọc Rong và Đoan Trinh là 2 cô con gái của ông; 3 sắc phong do vua: Tự Đức, Duy Tân và Khải Định ban. Ngày 28/2/2012, UBND tỉnh Thái Nguyên đã ban hành Quyết định số 596/QĐ-UBND xếp hạng Đình Văn Hán là di tích cấp tỉnh. Nguồn Cổng thông tin điện tử huyện Đồng Hỷ , tỉnh Thái Nguyên.

Thái Nguyên

4022 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp tỉnh

Mở

Đình Thịnh Đức

Đình Thịnh Đức

Đình Thịnh Đức thuộc xóm Thịnh Đức, xã Văn Hán, là nơi sinh hoạt văn hoá tín ngưỡng của nhân dân. Đình được xây dựng từ lâu, vào năm nào không ai nhớ rõ. Trước đây đình gồm năm gian, cột đình bằng gỗ táu, mái lợp gianh, có hạ sàn hai bên làm chỗ ngồi cho các quan viên và khách đến thăm đình. Trước năm 1945, Đình Thịnh Đức còn có tên gọi là Đình Làng Đẫu, được xây dựng trên gò Na Làng thuộc đất đình của Thịnh Đức, khu đất đình bằng phẳng, không khí thoáng mát; Đình quay hướng Tây Nam xuống cánh đồng của xóm; trước cửa đình còn hai cây đa to, bóng mát toả kín sân đình. Về phong tục, lễ hội hàng năm của Đình, dân làng thờ cúng 5 kỳ trong năm vào các ngày 7 tháng giêng , 23 tháng 3, 10 tháng 3, 15 tháng 8 và 23 tháng 1 (âm lịch); vào ngày lễ hội, làng tổ chức nhiều trò chơi như múa lân , tung còn, hát ví, đánh vật. Ngày nay dân bản vẫn duy trì hương khói vào các ngày trên, nhưng các ngày hội không còn được duy trì nữa. Trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp của dân tộc ta (giai đoạn 1946- 1954) tại Đình Thịnh Đức nơi đã diễn ra nhiều cuộc họp bí mật của liên Khu Việt Bắc. Đáng chú ý nhất là năm 1953 thực hiện phong trào cải cách ruộng đất, giảm tô của Đảng và nhà nước. Đình Thịnh Đức được chọn làm nơi họp bàn phong trào cải cách ruộng đất, giảm tô của Đảng và nhà nước. Trong cuộc họp có đồng chí Nông Quốc Chấn đại diện cho liên khu uỷ Việt Bắc về dự. Đình còn giữ được nhiều hiện vật quý như: 1nhan án công đồng, 1 ngai sơn son thếp vàng, 1 bát hương cổ, 4 cờ đuôi nheo, 1 chiêng bằng đồng, 1 cồng bằng đồng, 2 bộ cánh cửa, 2 thang gỗ, 2 con Nghê bằng gỗ, 4 chân nến bằng gỗ, 2 ống hương bằng gỗ, 3 sắc phong vua ban (cùng chung với đình Vân Hán), 1 cột đình bằng gỗ táu. Ngày 21/7/2014, UBND tỉnh Thái Nguyên ra quyết định số 1574/QĐ-UBND xếp hạng Đình Thịnh Đức là di tích lịch sử cấp tỉnh. Nguồn Cổng thông tin điện tử huyện Đồng Hỷ , tỉnh Thái Nguyên.

Thái Nguyên

4092 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp tỉnh

Mở

Đình - Chùa Hộ Lệnh

Đình - Chùa Hộ Lệnh

Phú Bình là địa phương có số lượng các di tích đình, đền, chùa và lễ hội lớn nhất trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên. Vào dịp đầu xuân, các điểm du lịch tâm linh trên địa bàn huyện như: Cụm di tích Đình - Đền - Chùa Cầu Muối; đình Phương Độ; chùa Khánh Long; chùa Mai Sơn… thu hút khá đông du khách trong và ngoài tỉnh đến tham quan, bái lễ. Trong đó không thể không kể đến quần thể di tích Đình - Chùa Hộ Lệnh nằm ở xóm Trung, xã Điềm Thụy, huyện Phú Bình. Chùa Hộ Lệnh tên chữ là “Linh Quang tự”, xây dựng vào khoảng thế kỷ XVII. Chùa nằm trên địa thế cao, chính diện quay theo hướng Đông Nam. Ban đầu chùa có bố cục gồm: Tam quan, tiền đường, hậu cung, nhà tổ... Trải qua thời gian ngôi chùa đã bị xuống cấp. Tuy nhiên, được sự quan tâm của các cấp lãnh đạo và sự ủng hộ quyên góp của tăng ni phật tử và người dân trong làng, chùa đã được trùng tu, tôn tạo trên cơ sở giữ nguyên hiện trạng và mở rộng thêm khu giảng đường, nhà thờ vong… để phục vụ quý phật tử thập phương và tổ chức các ngày đại lễ. Chùa Hộ Lệnh đã được UBND tỉnh xếp hạng di tích kiến trúc nghệ thuật cấp tỉnh năm 2010. Đình Hộ Lệnh được xây dựng vào triều Lê, năm Vĩnh Hựu thứ 4 (1738). Đình Hộ Lệnh thờ các vị thành hoàng làng gồm: Cao Sơn, Quý Minh và Tam Giang là những vị tướng phò vua Hùng đánh giặc giữ nước và Dương Tự Minh, một danh tướng tài giỏi dưới triều Lý. Đình gồm 3 gian, 2 chái, dài 21m, rộng 9m, được kết cấu bởi 48 cột gỗ lim. Các bộ vì kèo đều được trang trí đề tài “tứ linh”. Đình Hộ Lệnh được công nhận là Di tích lịch sử văn hóa cấp Quốc gia vào năm 2001. Hằng năm lễ hội Đình - Chùa Hộ Lệnh được tổ chức vào ngày mùng 4 tháng giêng, thu hút hàng nghìn lượt khách thập phương đến tham quan, bái lễ. Trải qua thời gian, cụm di tích Đình - Chùa Hộ Lệnh vẫn bảo lưu dáng vẻ kiến trúc uy nghi cổ kính, là nơi sinh hoạt tôn giáo tín ngưỡng của người dân địa phương, là điểm du lịch tâm linh thu hút đông đảo du khách thập phương đến tham quan và cầu may. Nguồn Cổng thông tin điện tử huyện Phú Bình , tỉnh Thái Nguyên.

Thái Nguyên

4385 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Di tích nổi bật

Xem tất cả
Di Tích Đồi Nà Pậu

Di Tích Đồi Nà Pậu

Địa danh Nà Pậu - xã Lương Bằng, huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn. Cùng với di tích lịch sử Bản Ca, Khuổi Linh, Đồi Pù Cọ, Khau Mạ, Nà Quân và Nà Pậu là nơi Bác Hồ đã sống và làm việc đầu năm 1951. Đầu năm 1951, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đến làm việc tại Nà Pậu, thuộc bản Thít, xã Lương Bằng (Chợ Đồn). Trên quả đồi này, Trung ương Đảng đã cho làm hầm, dựng lán để Người làm việc. Nà Pậu - nơi Người ở và làm việc có địa thế rất thuận tiện cho hoạt động cũng như khi di chuyển để tránh tai mắt kẻ thù. Phía trước đồi Nà Pậu là một đám ruộng rộng, có khả năng quan sát phía xa, bên cạnh là một con suối trong vắt cung cấp nguồn nước, phía sau liền với cánh rừng đại ngàn mà khi có động, Người và các đồng chí trong cơ quan có thể rút thẳng sang xã Phong Huân, Nghĩa Tá hoặc sang thẳng Chiêm Hóa (Tuyên Quang) rất an toàn. Từ Km 18, đường 254 Chợ Đồn - Thái Nguyên, men theo con đường mòn của bản Thít khoảng 150m là đến đồi Nà Pậu. Nhà của Người có hai gian, một gian để làm việc, một gian để nghỉ ngơi và một nhà khoảng 6 gian để cho anh em cơ quan (đơn vị 41) ở”. Cách nền nhà khoảng 70m đi về hướng Tây là căn hầm trú ẩn của Hồ Chủ tịch. Căn hầm có hình chữ T, chiều cao cửa hầm là 1,5m, đi sâu vào 4m thì chia làm 2 ngách cân đối. Tuy thời gian đã lâu, mưa xói đất lấp mất một chút cửa hầm nhưng căn hầm vẫn như còn được giữ nguyên vẹn. Từ hầm của Hồ Chủ tịch đi ra phía trước khoảng 5 - 6m có một cây cổ thụ khá lớn, có tuổi khoảng 90 - 100 năm, dân địa phương gọi là cây Phay. Trước cửa hầm là một khu đất bằng phẳng, nơi trước đây Người thường tăng gia trồng rau… Trước đồi Nà Pậu là suối Nà Pậu, bên cạnh có 2 cây đại thụ đan chéo nhau, dưới tán cây có tảng đá to, nơi Người thường câu cá, tắm giặt. Tại Nà Pậu, Người đã viết nhiều bức thư và điện mừng gửi tới các cơ quan, đoàn thể trong và ngoài nước. Ngày 20/1/1951, Người ký quyết định khen thưởng các đơn vị bộ đội đã chiến thắng trong chiến dịch Trung Du và Đông Bắc, đồng thời gửi 4 lá cờ danh dự để trao tặng cho các đơn vị bộ đội đạt nhiều thành tích và lập nhiều chiến công xuất sắc. Cũng trong thời gian này, Người đã ký nhiều quyết định quan trọng góp phần đưa cuộc kháng chiến của nhân dân ta đến thắng lợi. Người còn đi thăm một số cơ quan của Trung ương Đảng, quân đội đóng trên địa bàn Chợ Đồn, động viên tinh thần cán bộ, chiến sỹ, đồng bào hăng hái thi đua giết giặc và lao động sản xuất phục vụ kháng chiến. Chiều ngày 27/2/1951, Hồ Chủ tịch rời Nà Pậu - Lương Bằng lên đường đi dự Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng ở Chiêm Hóa (Tuyên Quang). Ngày 28/6/1996, Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận và xếp hạng Di tích Đồi Nà Pậu xã Lương Bằng, huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn là di tích lịch sử cấp quốc gia. Nguồn: Cổng Thông tin điện tử tỉnh Bắc Kạn

Thái Nguyên

10593 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Di tích tích lịch sử An toàn khu (ATK) Chợ Đồn

Di tích tích lịch sử An toàn khu (ATK) Chợ Đồn

Khu di tích An toàn khu (ATK) Chợ Đồn, thuộc địa bàn 3 xã: Bình Trung, Nghĩa Tá, Lương Bằng, huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn. ATK Chợ Đồn thuộc quần thể di tích Chiến khu Việt Bắc (bao gồm ATK Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên và ATK Tân Trào, tỉnh Tuyên Quang), là nơi ở và làm việc của Chủ tịch Hồ Chí Minh và các đồng chí lãnh đạo Trung ương trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp (1946 - 1954). Di tích ATK Chợ Đồn là căn cứ địa chiến lược, chứng kiến và ghi dấu nhiều sự kiện lịch sử quan trọng trong thời kỳ trước Cách mạng tháng 8 năm 1945 và thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp (1946 - 1954); gắn với sự nghiệp cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh và các đồng chí: Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp, Trường Chinh, Hoàng Văn Thái, Nguyễn Chí Thanh, Trần Đăng Ninh… Tại đây, Chủ tịch Hồ Chí Minh, Trung ương Đảng, Chính phủ đã hoạch định đường lối kháng chiến, đưa ra những quyết sách mang tầm chiến lược, quyết định vận mệnh của đất nước trong một giai đoạn lịch sử đấu tranh gian khổ, lãnh đạo toàn dân, đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Nằm trên địa bàn 3 xã phía Nam huyện Chợ Đồn, nơi có địa hình rừng núi hiểm trở, độ cao trung bình là 600m, hệ thống sông, suối, khe, ngòi khá dày đặc, lớn nhất là sông Phó Đáy, Khu ATK Chợ Đồn, bao gồm 25 di tích, trong đó có: 6 di tích đã được xếp hạng quốc gia, 3 di tích được xếp hạng cấp tỉnh, 16 di tích đưa vào danh mục kiểm kê. 1. Di tích Đồi Pù Cọ (thôn Bản Bẳng, xã Nghĩa Tá - Nơi hai đoàn quân Nam tiến và Bắc tiến gặp nhau tháng 10/1943) 2. Di tích Lán đồng chí Võ Nguyên Giáp (thôn Bản Bẳng, xã Nghĩa Tá - Nơi ở và hoạt động cách mạng của đồng chí Võ Nguyên Giáp, sau khi con đường Nam tiến được khai thông năm 1943). 3. Di tích Khuổi Khít (thôn Nà Cà, xã Nghĩa Tá - nơi tổ chức triển lãm biểu dương lực lượng Đồng Minh thời kỳ trước năm 1945). 4. Di tích Nhà ông Triệu Phú Dương (thôn Bản Bẳng, xã Nghĩa Tá - Nơi các đồng chí lãnh đạo của Mặt trận Việt Minh hội họp trong suốt thời kỳ tiền khởi nghĩa 1945). 5. Di tích Nà Pay (thôn Nà Kiến, xã Nghĩa Tá - Nơi Bác Hồ dừng chân nghỉ trên đường từ Pác Bó (Cao Bằng) đến Tân Trào (Tuyên Quang) ngày 17, 18, và 19/5/1945. 6. Di tích L-sao L-sô đỗ (Khe Nứa) (thôn Bản Bẳng, xã Nghĩa Tá - Nơi lực lượng Việt Minh đặt cơ sở sửa chữa và tự chế vũ khí thô sơ phục vụ trực tiếp cho hai đoàn quân Bắc tiến, Nam tiến, năm 1943 – 1945). 7. Di tích Bản Ca (thôn Bản Ca, xã Bình Trung - Nơi ở và làm việc của Bác Hồ tháng 12/1947) 8. Di tích Nà Kiến (thôn Nà Kiến, xã Nghĩa Tá - Nơi tổ chức Lễ Bế giảng Khóa 2, Khóa 3 Trường Võ bị Trần Quốc Tuấn vào ngày 28/10/1947. 9. Di tích Khuổi Đăm (thôn Nà Khằn, xã Nghĩa Tá - Nơi ở và làm việc của Báo Sự thật từ năm 1948 đến năm 1953), nằm ở một thung lũng nhỏ, nơi giao nhau giữa 2 con suối nhỏ, xung quanh là đồi núi cao, cây cối rậm rạp, thuộc phạm vi khoanh vùng bảo vệ khu vực II, chia thành 3 khu vực: 10. Di tích Đồi Bản Tảng (thôn Nà Quân, xã Bình Trung - Nơi ở và làm việc của đồng chí Hoàng Văn Thái từ năm 1947 - 1954). 11. Di tích Nền lán Chuyên gia (thôn Nà Quân, xã Bình Trung - Nơi ở và làm việc của chuyên gia từ năm 1947 - 1954) 12. Di tích Nà Đon (thôn Đon Liên, xã Bình Trung - Nơi ở và làm việc của cơ quan Hậu cần Bộ Quốc phòng từ năm 1948 - 1951). 13. Di tích Khuổi Đó (thôn Nà Tông, xã Nghĩa Tá - Nơi ở và làm việc của cơ quan cơ khí Thăng Long từ năm 1948 - 1950) 14. Di tích Khuổi Tói (thôn Nà Quân, xã Bình Trung - Nơi ở và làm việc của Bác Hồ năm 1948). 15. Di tích Khuổi Dân (thôn 8 Vằng Quân, xã Bình Trung - Nơi Nhà máy giấy Minh Khai đặt cơ sở sản xuất giấy từ năm 1948 - 1952), chia làm 2 khu: 16. Di tích Nhà ông Ma Văn Chương (thôn Nà Phầy, xã Bình Trung - Nơi ở và làm việc của đồng chí Nguyễn Chí Thanh từ năm 1948 – 1952) 17. Di tích Nà Chang (thôn Nà Chang, xã Nghĩa Tá - Nơi đặt khu Giao tế (Nhà khách Chính phủ) từ năm 1948 – 1953) 18. Di tích Nà Săm (thôn Nà Quân, xã Bình Trung - Nơi ở và làm việc của đồng chí Võ Nguyên Giáp năm 1948- 1953) 19. Di tích Khuổi Chang (thôn Bản Pèo, xã Bình Trung - Nơi ở và làm việc của Bác Hồ từ ngày 12 tháng 5 đến ngày 1 tháng 6 năm 1949. 20. Di tích Khuổi Áng (thôn Khuổi Áng, xã Bình Trung - Nơi ở và làm việc của cơ quan Báo Cứu Quốc năm 1949). 21. Di tích Khuổi Linh (thôn Nà Đeng, xã Nghĩa Tá - Nơi ở và làm việc của đồng chí Trường Chinh và Văn phòng Trung ương Đảng từ năm 1950 – 1951) 22. Di tích Đồi Khau Mạ (thôn Bản Vèn, xã Lương Bằng - Nơi ở và làm việc của đồng chí Phạm Văn Đồng và Văn phòng Chính phủ năm 1950 - 1951). 23. Di tích Nà Quân (thôn Nà Quân, xã Bình Trung - Nơi đặt Hội trường Trung ương Đảng từ năm 1948 – 1952). 24. Di tích Nhà ông Trần Văn Lý (thôn Nà Phầy, xã Bình Trung - Nơi ở và làm việc của cơ quan Bộ Quốc phòng từ năm 1950 – 1953). 25. Di tích Nà Pậu (thôn Bản Thít, xã Lương Bằng - Nơi Bác Hồ ở và làm việc từ năm 1950 – 1951), nằm trên một khu đất rộng: Ngày nay, khu di tích ATK Chợ Đồn trở thành địa chỉ đỏ khơi dậy niềm tự hào dân tộc; tuyên truyền, giáo dục tinh thần yêu nước, truyền thống đấu tranh cách mạng của các thế hệ cha anh đi trước cho thế hệ trẻ hôm nay và mai sau. Với những giá trị đặc biệt tiêu biểu, di tích lịch sử An toàn khu (ATK) Chợ Đồn (huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn) được Thủ tướng Chính phủ xếp hạng là di tích quốc gia đặc biệt. Nguồn: Cục Di sản văn hóa

Thái Nguyên

10115 lượt xem

Xếp hạng : Di tích quốc gia đặc biệt

Mở

Chùa Thạch Long

Chùa Thạch Long

Chùa Thạch Long (Rồng đá) thuộc xã Cao Kỳ, huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn. Nơi đây được mệnh danh là “chùa thiêng trong hang đá”. Ngôi chùa chứa trong mình nhiều sự tích, huyền sử đẹp. Chùa Thạch Long thu hút hàng ngàn khách thập phương tới dự hội và dâng hương cầu phúc, cầu tài mỗi dịp xuân về. Nhiều người nói rằng, đi khắp Bắc chí Nam chưa thấy chùa nào nằm trong hang núi đá rộng, sạch mà thoáng như chùa Thạch Long. Tăng ni Phật tử tới dự hội có thể vào hang lễ Phật tới hàng ngàn người. Chuyện kể rằng, ngày xưa, người dân xã Vi Hương - Bạch Thông xuôi dòng sông Cầu rước tượng Phật Thích Ca về thờ ở làng mình là Hoa Sơn, trên đỉnh dãy núi Phja Bjoóc. Tượng Phật bằng vàng rất nặng nên khi ngược lên Vi Hương phải kéo bằng mảng. Đến vằng Bó Mi thuộc xã Cao Kỳ ngày nay, mảng cứ xoay tròn không sao đi được. Trời đã tối, đêm ấy, người đi rước tượng phải căng lều ngủ tại vằng Bó Mi để hôm sau tính tiếp. Sáng hôm sau tỉnh dậy, họ hốt hoảng không thấy Đức Phật đâu. Người đi rước tượng đành thắp một bó nhang to và khấn: “Nếu ngài muốn ở đây thì con đành thuận theo ý ngài, nhưng ngài hãy cho con biết nơi ngài đang thượng tọa để con cháu đời sau thờ phụng hương khói”. Dứt lời, bó nhang cuộn khói bay sang bên kia bờ sông, luồn mãi vào trong núi. Người rước tượng cứ đi theo khói nhang ấy và phát hiện ra một hang động tuyệt đẹp, rộng thênh thang. Đức Phật Thích Ca đã ngự tọa ở chốn cao nhất. Biết hang đá thiêng, từ đó dân làng lập chùa ngay tại hang đá này. Chùa có tên Thạch Long (con rồng đá) là vì hang động nằm trong núi đá, cổng hang có hình miệng con rồng đang há. Chùa có hai phần chính. Phần thứ nhất là chùa Thiên. Chùa này nằm ở trên cao, có một bậc đá xếp từ chân núi dẫn thẳng lên tới cửa động. Gian cao nhất thờ Đức Phật Thích Ca. Ở gian trung, trên bệ cao nhất có ảnh thờ Bác Hồ. Phần thứ hai của chùa là chùa Âm, đường đến chùa Âm phải đi vòng quanh sườn núi. Cửa vào chùa Âm hẹp hơn chùa Thiên một chút. Lòng hang cũng không rộng bằng chùa Thiên. Ước chừng cao khoảng 6m, rộng 6m và có ngách ăn sâu vào bên trong. Cả chùa Thiên và chùa Âm đều có nhiều tượng thiên tạo hình các Chư Phật. Trong lòng chùa Thiên, vách đá tự chia thành từng múi như những chiếc lọng cao và sang trọng che cho các vị Chư Phật ngồi dưới. Không chỉ chứa trong mình nhiều huyền tích, chùa Thạch Long còn là một di tích lịch sử, là niềm tự hào của bà con xã Cao Kỳ trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp. Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, Bác Hồ đã 3 lần đến đây. Trong chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954, chùa trở thành trạm vận chuyển vũ khí và là kho vũ khí bí mật của quân đội ta. Hoà bình lập lại, chùa lại được bà con thờ tự như xưa. Hội chùa Thạch Long được tổ chức vào mùng 7 tháng Giêng hằng năm, thu hút rất nhiều du khách thập phương, họ đến để dâng hương cầu may mắn, hạnh phúc cho gia đình và người thân. Chùa Thạch Long không những là thắng cảnh đẹp của Bắc Kạn, mà còn là một di tích lịch sử. Di tích này đã và đang nhận được rất nhiều sự quan tâm, bảo vệ, tôn tạo để trở thành điểm du lịch văn hoá hấp dẫn của tỉnh Bắc Kạn. Nguồn: Cổng Thông Tin Điện Tử Tỉnh Bắc Kạn

Thái Nguyên

8078 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp tỉnh

Mở

Đền Thắm

Đền Thắm

Đền Thắm thuộc huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn với nhiều huyền sử, huyền tích đã đi vào tâm thức các cư dân vùng núi nơi đây. Đền nằm ngay cạnh con đường rải nhựa cấp phối dẫn đến xã Quảng Chu, cách quốc lộ 3 chưa đầy 4km cách thành phố Bắc Kạn 45km về phía Nam. Đền thờ vị nữ tướng có tên là Thắm - người có công lớn trong công cuộc chống giặc Cờ Đen vào nửa cuối thế kỷ XIX. Trước đây đền là nơi thờ Sơn thần, Thuỷ thần để cầu cho thuyền bè được qua lại bình yên. Cho đến cuối thế kỷ XIX đền được tu bổ để thờ phụng vị nữ tướng có công lớn đánh giặc Cờ Đen là cô Thắm. Chuyện kể rằng, có hai cha con ông lão đánh cá mưu sinh bên khúc sông Tràng Cổ. Một năm thiên tai, lụt lội, con nước hung dữ đã cuốn trôi thuyền, lưới của ông lão nghèo khổ. Sau khi nước rút, ông lão mang chài ra sông. Đến khi chiều xuống ông mới cất được một mẻ nặng trịch nhưng buồn thay chỉ là một tảng đá. Những lần tiếp theo, vẫn chỉ có tảng đá đó vào lưới. Ông bỏ sang khúc sông khác, vẫn cất lên tảng đá kỳ lạ kia. Ông toan vứt bỏ thì có tiếng vọng từ trong lòng đá: “Ông lão, hãy mang tôi về”. Thấy lạ, ông mang theo tảng đá biết nói về nhà. Đến nơi, mệt bã người ông quăng tảng đá xuống đất, nó va phải một tảng đá khác, vỡ ra. Kỳ lạ thay, rực một màu vàng trong bụng đá. Đó là những thỏi vàng, nghĩ rằng Giàng (Trời) cho làng để bù đắp tai ương lụt lội, ông đem vàng chia cho khắp người dân quanh vùng. Có vàng nhưng hai cha con ông lão vẫn làm lụng kiếm sống bên khúc sông Tràng Cổ. Biết ơn, người dân nơi đây đã lập đền thờ hai hòn đá Sơn thần, Thủy thần để thuyền bè qua lại bình an. Cô Thắm con ông lão đánh cá nết na hiền thục lại xinh đẹp có tiếng, trai khắp mường trên, mường dưới đều mơ ước được kết tóc xe duyên cùng nàng. Đương tuổi xuân thì, nàng bị tay Chúa mường dùng quyền lực bắt về làm vợ. Nàng sống trong cảnh vàng son mà tủi nhục trăm bề, nhất là khi lũ giặc Cờ Đen kéo sang nhũng nhiễu, tên Chúa mường chẳng những không chống giặc mà còn làm tay sai cho chúng. Nàng đã tìm mọi cách thoát ra khỏi nhà tên Chúa mường, tập hợp dân nghèo vùng lên đánh giặc. Tên Chúa mường uất hận và muốn lập công đã dẫn giặc đến đánh. Vị nữ tướng cầm quân kiên cường đánh trả. Tại khúc sông Tràng Cổ đã diễn ra một trận kịch chiến, máu chảy thành sông mà quân sĩ Cô Thắm vẫn không hề nao núng. Chẳng may, nữ tướng trúng phải tên độc mà mất, quân sĩ tức giận quyết chiến để rửa thù. Giặc khiếp sợ tháo chạy tán loạn, tên Chúa mường bị bắt sống và bị xử tử để tế vị chủ tướng. Để tưởng nhớ vị nữ tướng can trường, người dân đã lập đền thờ cô Thắm. Quần thể đền Thắm gồm đền chính, miếu cô Thắm và miếu Sơn thần. Đền chính được chia làm ba gian, thờ: Ngũ vị tôn ông, Bách Linh, Đức thánh Trần Hưng Đạo, mẫu Thượng Thiên, Phật Quan âm. Miếu thờ cô Thắm nằm kề ngay bên đền chính, về phía trái có kiến trúc bê tông cuốn vòm, trên bệ thờ là tượng cô Thắm mặc áo xanh, dưới bệ có đôi chim phượng tạc bằng đá. Hàng năm, du khách thập phương về đền Thắm lễ bái, cầu nguyện rất đông, nhất là dịp giêng hai. Sau nhiều năm tôn dựng và tu sửa, năm 2012 ngôi đền được xếp hạng cấp tỉnh là di tích lịch sử - văn hóa, nơi sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng của nhân dân. Nguồn: Cục du lịch quốc gia Việt Nam

Thái Nguyên

7592 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp tỉnh

Mở

Khu Di Tích Lịch Sử Nà Tu

Khu Di Tích Lịch Sử Nà Tu

Nà Tu là một di tích lịch sử cách mạng thuộc xã Cẩm Giàng, huyện Bạch Thông (Bắc Kạn) nằm dọc bên Quốc lộ 3, cách thị xã Bắc Kạn 10 km về phía Bắc. Trong kháng chiến chống thực dân Pháp đây là nơi Tổng đội thanh niên xung phong đóng quân, thực hiện nhiệm vụ đảm bảo giao thông vận tải phục vụ kháng chiến. Trong chiến tranh giặc Pháp luôn tăng cường máy bay bắn phá các tuyến giao thông, trong đó trọng điểm nhất là đoạn Quốc lộ 3 đi qua Bắc Kạn. Do vậy lúc này việc đảm bảo giao thông vận tải đã trở thành nhiệm vụ trọng yếu của quân và dân Bắc Kạn. Ngay từ năm 1950, Trung ương Đảng đã chủ chương cho sửa chữa, khôi phục lại quốc lộ 3 đoạn từ Thái Nguyên đi Cao Bằng nhằm phục vụ cho kháng chiến. Cũng tại thời điểm này Chính phủ đã phát động chiến dịch 3 tỉnh Cao Bằng, Bắc Kạn, Thái Nguyên đồng thời tăng cường cho Bắc Kạn nhiều liên phân đội thanh niên xung phong. Tổng đội thanh niên xung phong đã chọn Nà Tu để đóng quân. Mặc dù còn thiếu thốn nhiều thứ, lại phải lao động nặng nhọc mà thời gian máy bay địch bắn phá thì nhiều, thanh niên xung phong phải làm việc ngày đêm rất nguy hiểm nhưng họ đã cùng quân và dân Bắc Kạn hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Thật vinh dự thay trong lúc khó khăn vất vả, ác liệt đó ngày 28/3/1951 trong một chuyến đi công tác Bác Hồ đã đến Nà Tu để thăm hỏi sức khoẻ, động viên thanh niên và nhân dân ở đây. Bác nhắc nhở Ban chỉ huy công trường, cán bộ phải tổ chức lao động thật khoa học, đoàn kết yêu thương lẫn nhau. Trước khi ra về Bác đã đọc tặng lực lượng thanh niên xung phong 4 câu thơ: Không có việc gì khó, Chỉ sợ lòng không bền, Đào núi và lấp biển, Quyết chí ắt làm nên. Như vậy tại địa danh Nà Tu đã là nơi ra đời 4 câu thơ bất hủ của Bác, và Nà Tu ngày nay đã trở thành khu di tích lịch sử. Từ đó cùng với nhịp độ phát triển của cách mạng, lời dạy của Bác trong 4 câu thơ trở thành nguồn động viên cho các thế hệ trẻ, củng cố lòng quyết tâm đạp bằng mọi trở lực làm nên chiến thắng. Cho đến hôm nay khi đã được sống trong hoà bình tự do nhân dân thôn Nà Tu - Cẩm Giàng vẫn không thể nào quên những lời dạy sâu sắc của Bác và coi đây là kim chỉ nam cho mọi hành động. Nguồn: Cổng Thông Tin Điện Tử Tỉnh Bắc Kạn

Thái Nguyên

7400 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Di tích lịch sử Bản Ca

Di tích lịch sử Bản Ca

Di tích lịch sử Bản Ca, xã Bình Trung, huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn. Đây là nơi Bác Hồ từng sống và làm việc trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Người đã ở Bản Ca từ ngày 7/12/1947 đến cuối tháng 12/1947. Ban đầu Người cho dựng lán trại ở đầu suối Bản Ca, sau đó cho dựng thêm một lán nữa ở đồi Khau Phay gần dân trong bản. Hai lán này cách nhau 800m, bên cạnh có lán đặt máy chữ để in ấn và soạn thảo tài liệu, máy soạn thảo văn bản và lán của các chiến sĩ bảo vệ. Theo người dân nơi đây kể lại, trong thời gian sống và làm việc tại đây, Người sống rất giản dị và gần gũi với nhân dân, cũng mặc áo nâu, đeo túi vải như người dân. Người làm việc có giờ giấc, sau giờ làm việc, Người thường tập thể dục và tham gia trồng rau xanh cùng cán bộ trong Phủ Chủ tịch. Người thường xuyên đến thăm các đồng chí lãnh đạo Trung ương Đảng khác ở Chợ Đồn nhưng thỉnh thoảng mới đi ngựa còn lại là đi bộ. Trong thời gian ở đây, Bác Hồ đã từng ra nhiều sắc lệnh, chỉ thị, thư từ như: Người kí sắc lệnh khen thưởng các chủ tịch kiêm hành chính xã nhân kỷ niệm một năm ngày toàn quốc kháng chiến. Ngày 8/12/1947, Người đã viết thư gửi giám mục Lê Hữu Từ nhân dịp lễ giáng sinh. Ngày 12/12/1947, Người viết thư gửi Chính phủ Cao Miên giải phóng (Cam-pu-chia) hoan nghênh việc thành lập Ủy ban giải phóng Việt-Miên-Lào. Ngày 19/12/1947, Người ra lời kêu gọi đồng bào thi đua giết giặc lập công nhân ngày toàn quốc kháng chiến, và kí thông tư gửi các Bộ về việc “cử các nhân viên làm việc đắc lực để khen thưởng”. Nhân kỉ niệm 3 năm ngày thành lập Giải phóng quân Việt Nam, Người đã viết bài về quá trình phát triển của lực lượng vũ trang nhân dân, và mong muốn lực lượng vũ trang của ta không ngừng trưởng thành về mọi mặt. Ngày 24/12/1947, Người viết thư gửi đồng bào công giáo, mong muốn đồng bào công giáo sát cánh cùng đồng bào chiến sĩ cả nước đánh đuổi thực dân xâm lược. Ngoài ra, Người còn viết rất nhiều bài báo cổ vũ động viên đồng bào cả nước tham gia kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược… Hiện nay, chứng tích còn lại của khu vực lán Bác Hồ tại bản Ca chỉ còn lại dấu tích của nền lán cạnh cây cọ già. Hai hiện vật là kiềng nấu ăn cho Bác Hồ và chiếc áo dạ đen Người tặng cho gia đình cụ Bàn Văn Trai (cụ Nhuôi). Đầu năm 1990, gia đình cụ Trai đã tặng lại hai hiện vật này cho bảo tàng Bắc Thái (cũ). Hiện nay hai hiện vật này vẫn được lưu giữ tại bảo tàng Thái Nguyên. Ngày 28/6/1996, Bản Ca đã được Bộ Văn hóa - Thông tin xếp hạng là di tích lịch sử cấp Quốc gia. Nguồn: Cổng Thông tin điện tử tỉnh Bắc Kạn

Thái Nguyên

7371 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Di tích Chiến thắng Đèo Giàng

Di tích Chiến thắng Đèo Giàng

Đèo Giàng nằm trên Quốc lộ 3, giáp ranh giữa hai huyện Bạch Thông và Ngân Sơn. Nơi đây trong kháng chiến chống thực dân Pháp, quân và dân ta đã làm nên chiến thắng vang dội và đã đi vào lịch sử hào hùng của dân tộc. Đây là trận đánh có quy mô lớn nhất so với các trận phục kích đánh địch khác ở khu vực Đèo Giàng. Từ trận đánh này, ta đã rút được nhiều kinh nghiệm về chiến thuật phục kích cấp tiểu đoàn cho các trận phục kích địch trong thời kỳ chống thực dân Pháp xâm lược. Trận đánh này gắn liền với trận đánh đồn Phủ Thông, đã gây tiếng vang lớn, có tác dụng mạnh mẽ, cổ vũ, động viên lực lượng vũ trang trong những ngày đầu kháng chiến chống thực dân Pháp, góp phần cùng nhân dân cả nước đánh bại mọi âm mưu phá hoại của thực dân Pháp tại chiến khu Việt Bắc. 9 giờ sáng ngày 12/12/1947, tại km số 187 -188 Đèo Giàng - thuộc xã Lãng Ngâm (Ngân Sơn) có 1 đoàn xe cơ giới của địch gồm 22 chiếc xe tăng, xe thiết giáp, ô tô tải, xe jíp chở lính lọt vào trận địa phục kích của trung đoàn 165 (Trung đoàn Thủ đô). Trận phục kích là đoạn đường hiểm trở, một bên là núi cao, một bên là vực sâu. Ngay từ loạt đạn đầu của bộ đội ta, 1 xe ô tô của địch đã bị phá hủy, nhiều tên lính địch bị tiêu diệt. Sau ít phút dùng hỏa lực mạnh bắn thẳng vào đội hình địch, bộ đội ta ào ạt xung phong xuống mặt đường tiêu diệt địch. Kết quả trận đánh: Diệt tại chỗ 60 tên (trong đó có hai tên trung úy), phá hủy, đốt 17 xe cơ giới, thu 2 triệu đồng tiền Đông Dương và nhiều vũ khí quân trang, quân dụng. Từ trận đánh vang dội này, Đèo Giàng đã trở thành địa danh lịch sử gắn liền với những chiến công oanh liệt của quân và dân ta trong chiến dịch phản công Việt Bắc - Thu Đông năm 1947. Di tích lịch sử Đèo Giàng trở thành niềm tự hào của quân đội nhân dân Việt Nam và quân dân Bắc Kạn. Ngày 12/7/2001, Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận và xếp hạng di tích lịch sử Chiến thắng Đèo Giàng xã Lãng Ngâm, huyện Ngân Sơn, tỉnh Bắc Kạn là di tích lịch sử cấp quốc gia. Hiện nay, đoạn đường tại khu di tích Đèo Giàng đã thay đổi nhiều, chính quyền và nhân dân tỉnh Bắc Kạn đã xây dựng một nhà bia kỉ niệm chiến thắng Đèo Giàng. Nhà bia được xây sát vách núi trên một khu đất rộng, có cửa sắt, tường rào bảo vệ. Nhà bia được xây dựng bằng bê tông cốt thép, mái làm theo kiểu cổ (Bốn mái đao, dán ngói mũi hài) trên bốn cột bê tông sơn màu giả gỗ, để trống bốn mặt. Bên trong có đặt bia kỉ niệm ghi lại chiến thắng Đèo Giàng năm 1947. Bia được làm bằng đá, mặt bia hướng ra đường quốc lộ 3. Nền nhà bia được xây bằng gạch, vữa xi măng, lát đá và trồng hoa trang trí. Đường lên nhà bia được xây bậc thang bằng gạch trát xi măng. Đối diện với nhà bia là công trình phù điêu lớn ghi dấu chiến công của quân và dân đã có công trong trận đánh tại Đèo Giàng, có khắc hình Ban Chỉ huy, quân và dân chuẩn bị cho trận chiến cùng với toàn cảnh trận chiến đấu ác liệt diễn ra tại Đèo Giàng. Bia dẫn tích và các hạng mục công trình phụ trợ kèm theo, kè xung quanh nền, trồng cây xanh tạo cảnh quan công trình. Nguồn: Cổng Thông Tin Điện Tử Tỉnh Bắc Kạn

Thái Nguyên

7309 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Di tích lịch sử Khuổi Linh, đồi Khau Mạ

Di tích lịch sử Khuổi Linh, đồi Khau Mạ

Di tích lịch sử Khuổi Linh (thuộc xã Nghĩa Tá, huyện Chợ Đồn) là nơi ở và làm việc của đồng chí Trường Chinh, nguyên Tổng bí thư Ban chấp hành Trung ương Đảng và văn phòng Trung ương từ tháng 8 đến tháng 12 năm 1950. Nơi ở của đồng chí Trường Chinh nằm trên sườn đồi, chỗ làm việc nằm trên đỉnh một mỏm đồi kê sát nơi ở thuộc chân núi Khau Bon. Khu vực văn phòng Trung ương Đảng nằm trên một quả đồi gần nơi ở của đồng chí Trường Chinh. Khu di tích Khuổi Linh ở vào vị trí rất hiểm trở nhưng giao thông lại rất thuận lợi cho việc liên lạc đi các hướng. Ngày 18/3/1996, Khuổi Linh được Bộ Văn hóa - Thông tin xếp hạng là di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia. Năm 2000, xã Nghĩa Tá được Đảng và Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Di tích lịch sử Đồi Khau Mạ thuộc bản Vèn, xã Lương Bằng (Chợ Đồn) là nơi đồng chí Phạm Văn Đồng - nguyên Thủ tướng Chính phủ cùng cơ quan Văn Phòng Chính phủ ở và làm việc từ đầu năm 1950 đến mùa hè năm1951. Tại nơi này, đồng chí Phạm Văn Đồng đã cùng với Trung ương Đảng, Bộ Tổng tư lệnh Quân đội Nhân Dân Việt Nam dưới sự chỉ đạo của Chủ Tịch Hồ Chí Minh tổ chức họp bàn mở chiến dịch biên giới năm 1950, mở ra thời kì mới cho cách mạng Việt Nam. Có thể nói, trong thời kì ở chiến khu Việt Bắc, đặc biệt là thời kì sống và làm việc ở Khau Mạ - Bản Vèn (Lương Bằng), Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã có nhiều hoạt động tích cực cùng với Trung ương Đảng và Bác Hồ lãnh đạo nhân dân đẩy mạnh cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đến thắng lợi hoàn toàn. Năm 1996, nhân dân xã Lương Bằng đã vinh dự đón nhận Bằng di tích lịch sử do Bộ Văn hóa - Thông tin xếp hạng là di tích lịch sử cấp quốc gia. Nguồn: Cổng Thông Tin Điện Tử Tỉnh Bắc Kạn

Thái Nguyên

7276 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Di tích lịch sử Hoàng Phài

Di tích lịch sử Hoàng Phài

Đây là địa điểm nơi Bác Hồ dừng chân trên đường từ Pác Bó về Tân Trào tháng 5 năm 1945 tại thôn Hoàng Phài xã Cốc Đán, huyện Ngân Sơn, tỉnh Bắc Kạn. Mới đây, di tích lịch sử Hoàng Phài đã được Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch công nhận là Di tích lịch sử cấp Quốc gia. Đây là một địa chỉ đỏ đánh dấu chặng đường lịch sử cách mạng của ông cha ta trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược. Năm 1945 chiến tranh thế giới lần thứ hai bước vào giai đoạn kết thúc. Trong nước, Nhật đảo chính Pháp. Nhận thấy đây là cơ hội ngàn năm có một, tình thế lúc này đòi hỏi ta phải hành động kiên quyết, linh hoạt, mau lẹ, kịp thời. Bác Hồ quyết định nhanh chóng chuyển địa điểm từ Pác Bó (Cao Bằng) đến Tân Trào (Tuyên Quang) để thuận lợi cho việc lãnh đạo toàn dân tổng khởi nghĩa giành chính quyền. Trong thời gian này tại xã Cốc Đán, huyện Ngân Sơn phong trào cách mạng của các tổ chức quần chúng dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ Việt Minh phát triển mạnh. Chiều ngày 9/5/1945, Bác Hồ và đoàn đến thôn Hoàng Phài. Thời gian lưu lại tại thôn Hoàng Phài của Bác Hồ và đoàn cán bộ đã để lại những tình cảm tốt đẹp, mãi mãi khắc sâu trong ký ức của nhân dân các dân tộc địa phương. Tại đây, Bác đã đến lớp bình dân học vụ thăm hỏi tình hình học tập của các học viên. Trước lúc ra về, Bác đã dặn nam nữ thanh niên cố gắng rèn luyện, chăm chỉ học hành để sau này trở thành chủ nhân của nước Việt Nam độc lập. Sáng 10/05/1945, Bác cùng đoàn cán bộ tiếp tục cuộc hành trình về Tân Trào (Tuyên Quang), tại khu vực Hoàng Phài, Ban Việt Minh, các đoàn thể xã cùng nhân dân đã lưu luyến tiễn Bác và đoàn công tác trước khi lên đường. Để ghi dấu sự kiện quan trọng này, đồng thời xây dựng một điểm di tích xứng tầm với ý nghĩa lịch sử của nó nhằm phát huy giá trị di sản văn hóa, giáo dục truyền thống cách mạng cho các thế hệ hôm nay và mai sau, ngày 31/10/2011, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã công nhận và xếp hạng di tích lịch sử, Địa điểm Lưu niệm nơi Bác Hồ dừng chân trên đường từ Pác Bó về Tân Trào, tháng 5 năm 1945 tại thôn Hoàng Phài xã Cốc Đán, huyện Ngân Sơn, tỉnh Bắc Kạn là di tích lịch sử cấp Quốc gia. Đó là niềm tự hào không chỉ của Đảng bộ và nhân dân xã Cốc Đán nói riêng mà là của tỉnh Bắc Kạn nói chung. Nguồn: Cổng Thông Tin Điện Tử Huyện Ngân Sơn Tỉnh Bắc Kạn

Thái Nguyên

7252 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Di tích lịch sử Đồn Phủ Thông

Di tích lịch sử Đồn Phủ Thông

Đồn Phủ Thông nằm trên địa bàn thị trấn Phủ Thông, huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn. Toàn bộ khu vực này là núi đất với độ cao trung bình trên 350m. Đồn được xây dựng trên một mỏm nhỏ nhô ra của núi Nà Cọt, độ cao gần 200m, cách ngã ba Phủ Thông 300m. Ngày 7/10/1947, binh đoàn đổ bộ đường không của quân viễn chinh Pháp với gần 1.200 tên đã nhảy dù xuống thị xã Bắc Kạn, ngày 15/10 chúng tiến quân lên chiếm đóng Đồn Phủ Thông. Đồn dài 100m, rộng 50m; tường đắp bằng đất dày 1m, cao 2m, trong và ngoài tường ghép gỗ, bên ngoài có cọc chống, bốn phía có nhiều lỗ châu mai, bốn góc đồn có 4 lô cốt mẹ, có đài quan sát. Nhà chỉ huy ở chính giữa đồn, địch đào hầm từ nhà chỉ huy, nhà lính thông đến các lô cốt. Ngoài bờ tường có 3 lớp hàng rào tre nứa. Trong những năm 1947 - 1948, khi địch mới chiếm đóng Đồn Phủ Thông liên tiếp gặp phải các trận công đồn của quân ta, khiến cho chúng tinh thần hoang mang. Trong đó, trận tập kích lần thứ nhất đêm 30/11/1947 đã tiêu diệt và hạ thương 50 tên địch, thu 2 súng máy, 1 súng trường. Đây là lần đầu tiên quân địch bị tiêu diệt ngay tại sào huyệt có công sự kiên cố. Ta thực hiện một phần nhiệm vụ đề ra, góp phần vào thắng lợi chung của quân và dân ta trong Chiến dịch Việt Bắc Thu - Đông năm 1947, làm tiền đề cho trận đánh tiếp theo. Đêm 12/3/1948, quân ta mở trận tập kích thứ hai vào Đồn Phủ Thông. Trận này, quân ta phá sập phần lớn công sự và doanh trại trong cứ điểm, làm thương vong gần 70 tên địch. Sau trận này, quân ta liên tiếp nắm thế chủ động trên mặt trận đường số 3. Ngày 25/7/1948, Bộ Tổng chỉ huy quyết định mở trận công đồn lần thứ 3 vào Đồn Phủ Thông. Khoảng 18 giờ ngày 25/7/1948, pháo binh của Tiểu đoàn 410 nổ súng, phá sập một phần khu thông tin, phá hủy đường rào giao thông hào bao quanh điểm. Tiểu đoàn 11 chia làm hai mũi tiến công vào Đồn. Quân ta cắt hàng rào dây thép gai, phá hàng rào tre nứa, bắc thang phên trèo qua tường tiến công vào Đồn. Địch hoảng sợ, rút xuống hầm ngầm, quân ta làm chủ chiến trường, thu vũ khí, chiến lợi phẩm. Sau ít phút đầu hoang mang, địch phục hồi lại thế phòng ngự, chống trả quyết liệt, tập trung hoả lực súng máy, súng cối ngăn chặn các đơn vị vào sau, quân ta có một số chiến sỹ hy sinh, bị thương. Trận đánh kéo dài đến 23 giờ đêm. Ta rút khỏi Đồn, tuy không chiếm được cứ điểm nhưng đã tiêu diệt, làm bị thương 3 phần 4 quân số trong đồn, phá hủy nặng nề hệ thống công sự, vật cản, nhà ở trong đồn; thu được 5 trung liên, 4 tiểu liên, 10 súng trường, một số đạn, lựu đạn. Tuy không giành thắng lợi hoàn toàn, song trận đánh Đồn Phủ Thông ngày 25/7/1948 có ý nghĩa to lớn. Sau trận công Đồn Phủ Thông, quân địch ở các cứ điểm không dám càn quét, sạo sục các vùng xung quanh, quân ta giành được chủ động trên địa bàn Bắc Bạch Thông. Trận Phủ Thông được Trung ương Đảng, Bộ Tổng chỉ huy biểu dương. Ngày 27/3/1998, Đồn Phủ Thông được Bộ Văn hóa - Thông tin xếp hạng là di tích lịch sử cấp Quốc gia. Ngày 01/6/1999 nhân dân và lực lượng vũ trang nhân dân thị trấn Phủ Thông vinh dự được Đảng và Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Nguồn: Cổng Thông Tin Điện Tử Tỉnh Bắc Kạn

Thái Nguyên

7139 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

×
Hỏi AI