Di tích lịch sử

Xem dạng bản đồViệt nam

Danh sách điểm di tích (1417)

Căn cứ Ô Tà Sóc

Căn cứ Ô Tà Sóc

Căn cứ Ô Tà Sóc, xã Lương Phi, huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang, là di tích lịch sử cách mạng cấp quốc gia. Ô Tà Sóc, theo tiếng Khmer có nghĩa là “Suối Ông Sóc”, nằm trên núi Dài, nổi bật với địa hình núi đá hiểm trở, nhiều hang động, gộp đá và dòng suối quanh năm nước chảy. Từ cuối năm 1962, Ô Tà Sóc trở thành căn cứ quan trọng của Tỉnh ủy An Giang và các cơ quan cách mạng. Dựa vào địa hình rừng núi hiểm trở, quân và dân ta xây dựng hệ thống phòng thủ, bố trí chông mìn, hầm trú ẩn và tổ chức nhiều trận đánh, kiên cường chống lại các cuộc càn quét của quân địch. Từ đây, Tỉnh ủy An Giang chỉ đạo phong trào cách mạng, đấu tranh phá ấp chiến lược, bảo vệ nhân dân và tổ chức lực lượng chiến đấu trên toàn tỉnh. Trong những năm 1965–1967, địch nhiều lần mở các cuộc hành quân quy mô lớn nhằm đánh phá căn cứ, nhưng đều gặp sự chống trả quyết liệt của lực lượng cách mạng. Các chiến sĩ đã tận dụng từng hốc đá, triền dốc và địa hình hiểm trở để đánh địch, bảo vệ an toàn cho cơ quan Tỉnh ủy. Đến cuối năm 1967, Tỉnh ủy chuyển căn cứ về núi Tô – Tức Dụp, nhưng Ô Tà Sóc vẫn tiếp tục là địa điểm hoạt động và phối hợp chiến đấu của các lực lượng cách mạng. Ngày nay, căn cứ Ô Tà Sóc không chỉ mang vẻ đẹp hoang sơ của núi rừng mà còn là địa chỉ đỏ giáo dục truyền thống cách mạng, giúp thế hệ hôm nay hiểu hơn về tinh thần kiên cường, mưu trí và sự hy sinh của quân dân An Giang trong cuộc kháng chiến chống Mỹ. Nguồn: Ban Quản lý Di tích và Danh thắng tỉnh An Giang

An Giang

453 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Khu lưu niệm Cát Tường

Khu lưu niệm Cát Tường

Khu lưu niệm Cát Tường – nơi lưu giữ ký ức về Bác Hồ. Khu lưu niệm Cát Tường, xã Bình Mỹ, tỉnh Ninh Bình, được xây dựng trên chính nơi Bác Hồ về thăm và động viên nhân dân chống hạn vào ngày 14/1/1958. Tại đây, Bác đã biểu dương tinh thần lao động của nhân dân và động viên bà con đẩy nhanh tiến độ đắp đập, đưa nước về cứu hàng nghìn mẫu lúa đang bị khô hạn. Thực hiện lời căn dặn của Bác, nhân dân địa phương đã hoàn thành đập Cát Tường trong chưa đầy 5 ngày. Ngày nay, khu lưu niệm có nhà bia, đền thờ Bác Hồ và khu trưng bày nhiều hình ảnh, tư liệu quý về chuyến thăm năm 1958. Đặc biệt, cây đa được nhân dân trồng tại nơi Bác từng đứng nói chuyện vẫn xanh tốt, trở thành một dấu ấn thiêng liêng của khu di tích. Năm 2018, Khu lưu niệm Cát Tường được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch công nhận là Di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia. Đây không chỉ là nơi tưởng niệm, ghi nhớ tình cảm của Bác Hồ dành cho nhân dân mà còn là “địa chỉ đỏ” giáo dục truyền thống, thu hút nhiều đoàn viên, thanh thiếu nhi đến tham quan, dâng hương và tìm hiểu lịch sử quê hương. Nguồn: Báo Nhân Dân

Ninh Bình

479 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Núi Thiên Ấn

Núi Thiên Ấn

Núi Thiên Ấn, hay còn gọi là núi Hó, là di tích lịch sử - văn hóa và là biểu tượng thiêng liêng hàng đầu của tỉnh Quảng Ngãi. Nằm bên tả ngạn sông Trà Khúc, ngọn núi mang hình thang cân độc đáo này tựa như một chiếc ấn báu của trời đóng xuống lòng sông, tạo nên thế núi “Niêm Ấn Thiên Hà” nổi tiếng trong thơ ca. Trải qua hàng thế kỷ, núi Thiên Ấn là chứng nhân lặng lẽ ghi dấu công cuộc mở cõi phương Nam của tiền nhân. Nơi đây từng lưu lại những dấu tích kiến trúc tháp cổ và giếng đá ong sâu hút của người Chăm. Sự tiếp quản và xây dựng các công trình của người Việt trên nền phế tích cũ là minh chứng lịch sử rõ nét cho sự dung hợp văn hóa giữa hai dân tộc. Tầm vóc của danh thắng càng được khẳng định vào năm 1717, khi đích thân Chúa Nguyễn Phúc Chu ngự đề sắc phong bảng vàng, vinh danh ngọn núi là “đệ nhất thắng cảnh”.Không chỉ mang giá trị phong kiến xa xưa, Thiên Ấn còn là một địa chỉ đỏ cách mạng. Trên đỉnh núi lộng gió, đây chính là nơi an nghỉ của cụ Huỳnh Thúc Kháng – nhà chí sĩ yêu nước vĩ đại, nguyên Quyền Chủ tịch nước. Sự hiện diện của mộ cụ Huỳnh đã hòa quyện hồn sông núi với khí phách kiên trung của một bậc vĩ nhân. Ngày nay, núi Thiên Ấn vẫn sừng sững đứng đó, như một biểu tượng vĩnh cửu về lịch sử, văn hóa và lòng tự hào dân tộc của người dân đất Quảng. Theo: Báo Thanh Niên

Quảng Ngãi

476 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Di tích Chiến thắng Vạn Tường

Di tích Chiến thắng Vạn Tường

Quần thể di tích quốc gia Chiến thắng Vạn Tường nằm trên địa bàn xã Bình Hải và Bình Hòa, huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi, được xếp hạng di tích lịch sử văn hóa quốc gia năm 1982. Quần thể gồm 8 điểm di tích, trong đó có chiến hào thép Lộc Tự, đồi Ngọc Hương, bãi biển An Cường, bãi biển Phước Thiện và Sở chỉ huy Trung đoàn 1 Quân giải phóng. Nơi đây ghi dấu trận Vạn Tường ngày 18/8/1965, khi quân và dân ta chiến đấu chống cuộc hành quân “Starlite” của quân đội Mỹ. Với sự phối hợp giữa bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân du kích, quân Giải phóng đã tận dụng địa hình, chiến hào và lối đánh linh hoạt để đánh bại cuộc hành quân “tìm diệt” quy mô lớn của đối phương. Chiến thắng Vạn Tường có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, chứng minh quân và dân ta có khả năng đánh bại quân Mỹ dù đối phương có ưu thế về quân số, hỏa lực và phương tiện chiến tranh. Đây được xem là một trong những trận đánh tiêu biểu, mở đầu cho “cao trào diệt Mỹ” trên chiến trường miền Nam. Ngày nay, các điểm di tích và Bảo tàng Chiến thắng Vạn Tường là nơi lưu giữ những hiện vật, hình ảnh về trận đánh lịch sử, đồng thời là địa chỉ giáo dục truyền thống yêu nước, tinh thần chiến đấu kiên cường của quân và dân Quảng Ngãi. Nguồn: Tỉnh Đoàn Quảng Ngãi

Quảng Ngãi

427 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Đền Thờ Vua Lê Thái Tông (Quế Lâm Linh Từ)

Đền Thờ Vua Lê Thái Tông (Quế Lâm Linh Từ)

Đền thờ Vua Lê Thái Tông (còn gọi là Quế Lâm Linh Từ) tọa lạc tại tổ 3, phường Chiềng Lề, thành phố Sơn La. Đây là công trình tâm linh trang nghiêm được khánh thành năm 2003 để tri ân công đức vị vua trẻ tài ba của triều Lê Sơ. Trong lịch sử, ông đã hai lần thân chinh dẫn quân lên dẹp loạn, giữ vững bình yên và khẳng định chủ quyền vùng biên cương Tây Bắc.Ngôi đền rộng 800m², được xây dựng hài hòa theo thế phong thủy cổ truyền "Tiền giang hậu chẩm": lưng tựa vững chãi vào Núi Cằm hùng vĩ, mặt hướng ra dòng suối Nậm La êm đềm. Lối kiến trúc của đền mang đậm bản sắc đền cổ Việt Nam với cổng tam quan, sân đá xanh, nhà tả hữu mạc, tòa đại bái sơn son thếp vàng và hậu cung trang nghiêm đặt tượng đồng vĩ nhân. Không chỉ là một công trình kiến trúc đẹp, Quế Lâm Linh Từ ngày nay đã trở thành một "địa chỉ đỏ" giáo dục lòng yêu nước cho thế hệ trẻ, đồng thời là điểm tựa văn hóa tâm linh không thể thiếu của đồng bào các dân tộc Sơn La mỗi dịp Tết đến xuân về. Nguồn: Cổng thông tin điện tử tỉnh Sơn La

Sơn La

220 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Suối Mạch Máng

Suối Mạch Máng

Suối Mạch Máng (hay còn gọi là Suối Sọ) thuộc phường Tân Bình, thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương bây giờ là TP Hồ Chí Minh, là di tích lịch sử gắn với trận chống càn ác liệt ngày 4/5/1968 trong cuộc kháng chiến chống Mỹ. Tại đây, bộ đội chủ lực, dân quân và du kích địa phương đã kiên cường chiến đấu trước cuộc tấn công quy mô lớn của quân Mỹ - ngụy với sự yểm trợ của máy bay, xe tăng và pháo binh. Sau hơn một ngày đêm chiến đấu, quân và dân ta đã đẩy lùi nhiều đợt tiến công, tiêu diệt nhiều sinh lực địch và bắn cháy 4 xe tăng. Tuy nhiên, hàng trăm cán bộ, chiến sĩ và người dân đã anh dũng hy sinh. Từ đó, con suối còn được người dân gọi là Suối Sọ để ghi nhớ sự mất mát to lớn và tri ân những người đã ngã xuống vì độc lập dân tộc. Ngày nay, bia tưởng niệm Suối Mạch Máng là địa chỉ đỏ giáo dục truyền thống yêu nước, nhắc nhở các thế hệ về tinh thần bất khuất và sự hy sinh của cha ông. Nguồn: Báo và Phát thanh, Truyền hình TP.HCM

TP Hồ Chí Minh

439 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp tỉnh

Mở

Phượng Hoàng Trung Đô

Phượng Hoàng Trung Đô

Phượng Hoàng Trung Đô là kinh đô được vua Quang Trung lựa chọn xây dựng trên núi Dũng Quyết, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An sau chiến thắng chống quân Thanh năm 1789. Nhà vua mong muốn dời đô từ Phú Xuân ra Nghệ An vì đây là vùng đất có vị trí trung tâm, thuận lợi để quản lý cả Bắc và Nam, đồng thời là vùng đất rộng lớn, giàu tiềm lực về quân sự và kinh tế. Quang Trung nhiều lần giao cho La Sơn Phu tử Nguyễn Thiếp khảo sát, chọn đất và trực tiếp ra Nghệ An đôn đốc việc xây dựng. Tuy nhiên, khi công trình còn dang dở thì vua Quang Trung đột ngột qua đời năm 1792. Sau đó, triều Tây Sơn suy yếu nên kế hoạch xây dựng kinh đô mới bị bỏ dở. Ngày nay, khu vực Phượng Hoàng Trung Đô và Đền thờ Vua Quang Trung trên núi Dũng Quyết là điểm đến lịch sử – văn hóa tiêu biểu, gắn với khát vọng xây dựng một kinh đô mới và tầm nhìn chiến lược của vị anh hùng dân tộc. Nguồn: Bảo tàng Lịch sử Quốc gia

Nghệ An

495 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Thành Cổ Trung Đô

Thành Cổ Trung Đô

Thành Cổ Trung Đô – Lá Chắn Biên Cương Nơi Thượng Nguồn Sông Chảy. Bên cạnh ngôi đền cổ linh thiêng, thung lũng Bảo Nhai, Bắc Hà còn ôm trọn một chứng nhân lịch sử oai hùng. Đó chính là Thành cổ Trung Đô – pháo đài quân sự, "tấm khiên" bảo vệ biên cương phía Bắc Tổ quốc vào thế kỷ XVI. Được xây dựng bởi Gia Quốc công Vũ Văn Mật thời Chúa Bầu, tòa thành sở hữu vị thế địa lý đỉnh cao: tiền sông, hậu núi. Phía Tây tòa thành dựa vào dòng sông Chảy như một hào sâu tự nhiên ngăn giặc; phía Đông được che chở bởi những dãy núi đá vôi trùng điệp tạo thành bức tường thành bất khả xâm phạm. Trải qua hơn 400 năm dâu bể, dù tường thành bằng đất và đá cuội xưa kia nay đã hòa vào những nương ngô, đồi chè của đồng bào người Tày, nhưng các dấu tích khảo cổ như gạch vồ lớn, ngói mũi hài vẫn minh chứng cho một "kinh đô kháng chiến" kiên cố, sầm uất thuở nào. Thành cổ Trung Đô hôm nay không chỉ là Di tích Lịch sử cấp Quốc gia, mà còn là bài học sống động về tài thao lược quân sự của cha ông. Đứng nơi đây, lắng nghe tiếng sóng sông Chảy, ta như còn nghe thấy hào khí ngàn năm của một thời gìn giữ bờ cõi. Nguồn: Cục Du lịch Quốc gia Việt Nam

Lào Cai

491 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Di tích lưu niệm Trung đoàn 52 Tây Tiến

Di tích lưu niệm Trung đoàn 52 Tây Tiến

Di tích lịch sử lưu niệm Trung đoàn 52 Tây Tiến nằm tại thị trấn Mộc Châu, tỉnh Sơn La, là nơi ghi dấu điểm tập kết của bộ đội Tây Tiến trước khi hành quân làm nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc và thực hiện nghĩa vụ quốc tế tại Lào. Đây là di tích gắn liền với những chiến công oanh liệt của Trung đoàn 52 Tây Tiến và hình tượng người lính bất tử trong bài thơ "Tây Tiến" của nhà thơ Quang Dũng. Khu lưu niệm được xây dựng trang nghiêm với bia tưởng niệm, quảng trường và nhiều hạng mục mang ý nghĩa lịch sử, tái hiện tinh thần chiến đấu quả cảm của những người lính Tây Tiến. Nội dung khắc trên bia gồm thư của Đại tướng Võ Nguyên Giáp gửi bộ đội Tây Tiến và trích đoạn bài thơ Tây Tiến, góp phần khơi gợi niềm tự hào về truyền thống cách mạng. Ngày nay, di tích không chỉ là nơi tưởng niệm các anh hùng liệt sĩ mà còn là địa chỉ đỏ giáo dục truyền thống yêu nước cho thế hệ trẻ. Với giá trị lịch sử và văn hóa sâu sắc, nơi đây đã được xếp hạng Di tích lịch sử quốc gia và trở thành điểm đến ý nghĩa trong hành trình khám phá Mộc Châu. Nguồn: Cổng Thông tin điện tử tỉnh Sơn La

Sơn La

229 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Đền Bổng Điền

Đền Bổng Điền

Đền Bổng Điền – Nơi thờ nữ tướng Quế Hoa. Đền Bổng Điền nằm tại xã Tân Đệ, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình bây giờ là tỉnh Hưng Yên. Đây là nơi thờ nữ tướng Đỗ Thị Quế Hoa, một vị tướng tài đã tham gia cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng chống quân Đông Hán vào những năm đầu Công nguyên. Theo thần phả địa phương, bà Quế Hoa là người văn võ song toàn, đã chiêu mộ nghĩa quân, cùng các tướng lĩnh như Bát Nạn và Lê Chân chiến đấu bảo vệ đất nước. Bà anh dũng hy sinh trong cuộc kháng chiến năm 43 và được nhân dân lập đền thờ để tưởng nhớ công lao. Đền Bổng Điền thuộc quần thể đình – đền – chùa Bổng Điền, được xây dựng từ năm 1848 dưới thời vua Tự Đức và được xếp hạng Di tích lịch sử - văn hóa cấp Quốc gia năm 1989. Hằng năm, lễ hội đền diễn ra vào tháng 3 âm lịch với nghi thức rước kiệu và nhiều hoạt động văn hóa truyền thống, thu hút đông đảo nhân dân và du khách thập phương. Nguồn: Báo Quân đội nhân dân

Hưng Yên

512 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Đền Dầm

Đền Dầm

Đền Dầm – Ngôi đền thờ Mẫu linh thiêng ở Hà Nội. Đền Dầm (hay đền Xâm Dương) nằm tại thôn Xâm Dương, xã Ninh Sở, huyện Thường Tín cũ, thành phố Hà Nội. Đây là một trong những ngôi đền tiêu biểu thờ Mẫu Thoải (Thủy Cung Thánh Mẫu) trong tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt. Theo truyền thuyết, Mẫu Thoải là con gái Long Vương, đã hiển linh giúp vua Trần Nhân Tông đánh thắng quân Nguyên – Mông. Sau chiến thắng, nhà vua cho lập đền để tưởng nhớ công lao của bà. Trải qua nhiều triều đại, đền được ban nhiều sắc phong và trở thành một di tích tâm linh nổi tiếng của vùng Thường Tín. Đền Dầm có không gian cổ kính với hồ nước, nhiều cây cổ thụ cùng các hạng mục như chính điện thờ Mẫu, cung Trần triều, động Sơn Trang, lầu Cô và lầu Cậu. Hằng năm, lễ hội đền diễn ra vào tháng 2 âm lịch với các nghi lễ dâng hương, rước nước cùng nhiều hoạt động văn hóa dân gian đặc sắc, thu hút đông đảo du khách và nhân dân thập phương. Nguồn: Focus Asia Travel

Hà Nội

555 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Đền Đại Lộ

Đền Đại Lộ

Đền Đại Lộ (còn gọi là đền Mẫu Đại Lộ, đền Lộ) tọa lạc tại xã Ninh Sở, huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội. Di tích được khởi dựng từ khoảng thế kỷ XVII, ban đầu thờ Tứ vị Thánh Nương nhà Tống, nhưng qua quá trình hình thành và phát triển đã trở thành một trong những ngôi đền thờ Mẫu tiêu biểu của vùng đồng bằng Bắc Bộ. Đền có quy mô kiến trúc khá hoàn chỉnh với các hạng mục như nghi môn, đền thờ Đức Thánh Trần, tiền bái, phương đình, trung cung, hậu cung, gác chuông, tả - hữu hành lang, lầu Cô và lầu Cậu. Trong đó, phương đình chồng diêm hai tầng tám mái là hạng mục nổi bật nhất với nghệ thuật chạm khắc tinh xảo, mang đậm phong cách kiến trúc thời Nguyễn. Di tích còn bảo lưu nhiều hiện vật có giá trị như sắc phong, đại tự, câu đối, long ngai, bài vị và hệ thống tượng thờ. Không gian thờ tự của đền phản ánh đầy đủ tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ, Tứ phủ truyền thống của người Việt. Ngoài Tứ vị Thánh Nương, đền còn thờ Đức Thánh Trần cùng nhiều vị Thánh trong hệ thống tín ngưỡng dân gian, là nơi diễn ra các nghi lễ hầu đồng và sinh hoạt tín ngưỡng đặc sắc của cộng đồng. Nguồn: Cục Di sản văn hóa

Hà Nội

562 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Đền Cây Quế

Đền Cây Quế

Đền Cây Quế tọa lạc tại xã Mỹ Tân, tỉnh Ninh Bình (trước đây thuộc xã Mỹ Tân, huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định), nằm bên bờ sông Đào, gần nơi hợp lưu giữa sông Hồng và sông Đào. Đây là ngôi đền cổ thờ Đức Thánh Linh Lang Đại Vương – vị thần có công giúp triều Lý đánh giặc giữ nước, đồng thời được nhân dân tôn thờ là vị thủy thần bảo hộ cuộc sống của cư dân vùng sông nước. Theo thần tích, Linh Lang Đại Vương là Hoàng tử Hoàng Lang, con vua Lý Thái Tông. Từ nhỏ đã có tư chất khác thường, khi đất nước có giặc ngoại xâm, Hoàng Lang xin vua giao voi và cờ để ra trận, lập nhiều chiến công hiển hách. Sau khi dẹp yên giặc, ngài hóa về thủy cung và được triều đình sắc phong là Linh Lang Đại Vương Thượng đẳng Phúc thần, cho phép nhiều địa phương lập đền thờ phụng. Đền Cây Quế được xây dựng theo kiểu chữ Tam gồm tiền đường, trung đường và cung cấm. Mặc dù đã qua nhiều lần trùng tu, di tích vẫn bảo tồn được nhiều giá trị kiến trúc nghệ thuật cùng hệ thống hiện vật quý như đại tự, câu đối, bia đá, chuông đồng và các mảng chạm khắc mang phong cách nghệ thuật thời Nguyễn. Ngoài thờ Linh Lang Đại Vương, đền còn phối thờ Bố Cái Đại Vương Phùng Hưng cùng một số vị thủy thần và sơn thần. Hằng năm, lễ hội Đền Cây Quế được tổ chức vào ngày 22 tháng Tám âm lịch với nhiều nghi lễ truyền thống, nổi bật là nghi thức rước nước từ ngã ba sông Hồng – sông Đào về đền để dâng lễ, cầu cho quốc thái dân an, mưa thuận gió hòa và mùa màng bội thu. Nguồn: Báo điện tử Pháp luật Việt Nam

Ninh Bình

511 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Đền Ngọc Quế

Đền Ngọc Quế

Đền Ngọc Quế tọa lạc tại thôn Ngọc Quế, xã Quỳnh Hoa, tỉnh Hưng Yên (trước đây thuộc xã Quỳnh Hoa, huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình), nằm sát chân đê sông Luộc và cách dòng sông khoảng 500m. Với vị trí thuận lợi cả đường bộ lẫn đường thủy, ngôi đền từ lâu đã trở thành điểm sinh hoạt tín ngưỡng quan trọng của nhân dân địa phương. Di tích là nơi thờ Đức Thánh Đỗ Huyến – vị tướng có công giúp Vua Hùng thứ 18 đánh giặc ngoại xâm, bảo vệ bờ cõi và khai khẩn vùng đất Ngọc Quế, lập làng, phát triển sản xuất. Nhân dân ghi nhớ công lao của ông và tôn thờ làm Thành hoàng làng. Bên cạnh đó, đền còn phối thờ vua Trần Thái Tông và Quốc công Tiết chế Trần Hưng Đạo, gắn với sự kiện tuyển quân, chuẩn bị lương thảo cho ba lần kháng chiến chống quân Nguyên – Mông. Đền Ngọc Quế mang phong cách kiến trúc thời Nguyễn với các hạng mục như cổng đền, bái đường, điện thờ và hậu cung. Di tích còn lưu giữ nhiều hiện vật có giá trị lịch sử, nghệ thuật như hoành phi, câu đối, đại tự sơn son thếp vàng, kiếm thờ bằng gỗ, chuông đồng, tượng thờ và nhiều đồ tế khí có niên đại từ thời Lê, thời Mạc. Hằng năm, vào ngày mùng 8 tháng 8 âm lịch, lễ hội Đền Ngọc Quế được tổ chức với các nghi thức tế lễ truyền thống cùng nhiều hoạt động văn hóa dân gian, thu hút đông đảo nhân dân và du khách thập phương đến dâng hương, tưởng niệm và cầu bình an. Nguồn: Di tích lịch sử văn hóa Việt Nam

Hưng Yên

497 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Đền Thái Vi

Đền Thái Vi

Đền Thái Vi thuộc thôn Văn Lâm, xã Ninh Hải, tỉnh Ninh Bình. Di tích nằm trong khu vực danh thắng Tam Cốc - Bích Động, giữa vùng núi đá vôi với nhiều hang động, sông ngòi và cảnh quan thiên nhiên đặc sắc. Nơi đây còn lưu giữ nhiều dấu ấn lịch sử gắn với triều Trần và vùng căn cứ Vũ Lâm trong thế kỷ XIII. Đền Thái Vi là nơi thờ các vị vua triều Trần gồm Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Hiển Từ Hoàng Thái hậu và phối thờ vua Trần Nhân Tông, Trần Anh Tông. Theo sử liệu, vùng Vũ Lâm từng là căn cứ địa quan trọng của quân dân Đại Việt trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên - Mông. Sau khi đất nước thái bình, các vua Trần đã khuyến khích nhân dân khai khẩn đất hoang, mở mang ruộng đồng, lập nên làng xã, góp phần phát triển vùng đất này. Đền Thái Vi được xây dựng để tưởng niệm công lao to lớn của các vị vua triều Trần đối với đất nước nói chung và vùng Vũ Lâm nói riêng. Đền Thái Vi là công trình kiến trúc mang phong cách thời Nguyễn. Tòa chính gồm một tòa ba cung với 28 cột đá cao khoảng 3,2m, trong đó có 22 cột đá vuông. Các cột đá tròn ở cung đệ tam được chạm khắc hình tứ linh và long cuốn thủy với đường nét tinh xảo, điêu luyện. Hệ thống xà, rui, mè đều được làm bằng gỗ lim. Trong khuôn viên di tích còn có gác chuông được xây dựng dưới thời vua Duy Tân, có kiến trúc hai tầng tám mái với 32 cột gỗ lim. Hệ thống cột, xà, bẩy và kết cấu đỡ mái đều được làm bằng gỗ lim. Di tích hiện còn lưu giữ nhiều hiện vật có giá trị về lịch sử, văn hóa và nghệ thuật. Đền Thái Vi không chỉ là căn cứ kháng chiến của quân dân Đại Việt trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên - Mông ở thế kỷ XIII mà còn là cơ sở phục vụ cách mạng trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp. Ngày nay, di tích là nơi sinh hoạt văn hóa tâm linh của nhân dân địa phương, đồng thời là nơi diễn ra lễ hội truyền thống hằng năm, góp phần gìn giữ và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc. Nguồn: Trang thông tin điện tử Sở Du lịch tỉnh Ninh Bình

Ninh Bình

577 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Di tích lịch sử Căn cứ Hố Lang

Di tích lịch sử Căn cứ Hố Lang

Di tích lịch sử Căn cứ Hố Lang. Di tích lịch sử Căn cứ Hố Lang nằm tại phường Tân Đông Hiệp, Thành phố Hồ Chí Minh. Đây là một căn cứ cách mạng quan trọng trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, gắn liền với truyền thống đấu tranh anh dũng của quân và dân vùng Dĩ An. Hố Lang có địa hình đồi gò, được bao bọc bởi suối và rừng cây rậm rạp, tạo thành một vị trí chiến lược thuận lợi cho việc xây dựng căn cứ cách mạng. Từ đây có thể quan sát một vùng rộng lớn, đặc biệt là khu vực sân bay quân sự Biên Hòa và các tuyến giao thông quan trọng. Nhờ lợi thế đó, Hố Lang trở thành nơi đứng chân, chỉ huy và tổ chức nhiều hoạt động của lực lượng cách mạng trong suốt thời kỳ kháng chiến. Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, Hố Lang là nơi diễn ra nhiều trận đánh tiêu biểu của lực lượng du kích địa phương. Năm 1966, quân và dân Tân Hiệp đã nhiều lần đánh lui các cuộc càn quét của quân Mỹ, tiêu diệt nhiều sinh lực địch và thu nhiều vũ khí. Đến năm 1971, Huyện ủy Dĩ An tiếp tục đặt căn cứ tại Hố Lang để lãnh đạo phong trào cách mạng. Sự che chở, đùm bọc của nhân dân địa phương cùng hệ thống tín hiệu bí mật đã góp phần bảo vệ an toàn cho cán bộ và lực lượng cách mạng hoạt động. Hiện nay, di tích vẫn còn lưu giữ một số dấu tích như hầm trú ẩn, hố chiến đấu và địa hình tự nhiên của căn cứ. Đây là minh chứng sinh động cho nghệ thuật chiến tranh nhân dân, tinh thần đoàn kết và ý chí kiên cường của quân và dân địa phương trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc. Nguồn: Trung tâm Xúc tiến Thương mại, Du lịch và Phát triển Công nghiệp Bình Dương.

TP Hồ Chí Minh

387 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp tỉnh

Mở

Đình thần Tương Bình Hiệp

Đình thần Tương Bình Hiệp

Đình thần Tương Bình Hiệp. Đình thần Tương Bình Hiệp tọa lạc tại phường Tương Bình Hiệp, Thành phố Hồ Chí Minh. Đây là một di tích lịch sử - văn hóa có giá trị, đồng thời là ngôi đình đặc biệt ở Nam Bộ thờ Phan Thanh Giản – vị tiến sĩ đầu tiên của Nam Kỳ và là một danh nhân văn hóa, nhà thơ, nhà sử học tiêu biểu của Việt Nam. Phan Thanh Giản sinh năm 1796, từng làm quan dưới ba triều vua Minh Mạng, Thiệu Trị và Tự Đức. Ông đảm nhiệm nhiều chức vụ quan trọng trong triều đình, nhiều lần được cử đi sứ sang Trung Quốc, Indonesia, Singapore, Pháp và Tây Ban Nha. Ông cũng là người tham gia các hoạt động ngoại giao nhằm bảo vệ chủ quyền và lợi ích của đất nước trong bối cảnh lịch sử đầy biến động của thế kỷ XIX. Sau khi ba tỉnh miền Tây Nam Kỳ rơi vào tay thực dân Pháp năm 1867, Phan Thanh Giản đã chọn tuẫn tiết để bày tỏ lòng trung quân, ái quốc và tinh thần trách nhiệm trước vận mệnh đất nước. Đến năm 1924, vua Khải Định ban sắc phong thần cho ông và cho phép nhân dân địa phương thờ phụng tại đình Tương Bình Hiệp. Ngày nay, đình thần Tương Bình Hiệp không chỉ là nơi sinh hoạt tín ngưỡng của người dân mà còn là địa chỉ lưu giữ, tưởng niệm công lao của Phan Thanh Giản. Nguồn: Trung tâm Xúc tiến Thương mại, Du lịch và Phát triển Công nghiệp Bình Dương.

TP Hồ Chí Minh

353 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp tỉnh

Mở

Khu di tích lịch sử Núi Minh Đạm

Khu di tích lịch sử Núi Minh Đạm

Khu di tích lịch sử Núi Minh Đạm. Khu di tích lịch sử Núi Minh Đạm nằm trên địa bàn các xã Long Hải, Phước Hải, Tam Phước và Long Mỹ, Thành phố Hồ Chí Minh. Dãy núi có chiều dài khoảng 8 km, cao 355 m, với địa hình hiểm trở, nhiều hang động và rừng cây tự nhiên. Không chỉ có cảnh quan đẹp, nơi đây còn là một căn cứ cách mạng quan trọng trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ. Nhờ địa thế hiểm yếu với hơn 300 hang động lớn nhỏ, Núi Minh Đạm được lực lượng cách mạng lựa chọn làm căn cứ hoạt động. Tại đây từng đặt nhiều cơ quan và đơn vị như Huyện ủy, Quân y, Quân giới, Huyện đội cùng các khu vực Đá Chẻ, Đá Chồng, Chùa Viên và Chùa Giếng Gạch. Những hang đá, bếp Hoàng Cầm, hầm trú ẩn và dấu tích sinh hoạt của cán bộ, chiến sĩ vẫn còn được lưu giữ, trở thành minh chứng cho một thời kỳ chiến đấu gian khổ nhưng đầy hào hùng. Tên gọi Minh Đạm được ghép từ tên của hai chiến sĩ cách mạng Bùi Công Minh và Mạc Thanh Đạm, những người đã anh dũng hy sinh vào ngày 17/11/1948. Việc lấy tên hai liệt sĩ đặt cho ngọn núi thể hiện lòng biết ơn và sự tưởng nhớ đối với những người đã cống hiến vì độc lập dân tộc. Ngày nay, khu di tích còn có Đền tưởng niệm các Anh hùng liệt sĩ, nơi ghi danh hơn 2.600 liệt sĩ đã chiến đấu và hy sinh vì Tổ quốc. Đây là địa chỉ đỏ có ý nghĩa đặc biệt trong công tác giáo dục truyền thống yêu nước, lòng tự hào dân tộc và tinh thần cách mạng cho các thế hệ hôm nay. Nguồn: Du lịch Hà Tiên

TP Hồ Chí Minh

380 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Di tích nổi bật

Xem tất cả
Khu di tích Láng Le Bàu Cò

Khu di tích Láng Le Bàu Cò

Khu di tích Láng Le Bàu Cò tọa lạc tại xã Tân Nhựt, huyện Bình Chánh, Tp HCM. Láng Le Bàu Cò gắn liền với cuộc kháng chiến chống Pháp xâm lược vào năm 1948 với những trận đánh lớn đi vào lịch sử. Di tích Láng Le Bàu Cò được công nhận là di tích lịch sử cấp thành phố vào năm 2003. Sở dĩ được gọi tên là khu di tích Láng Le Bàu Cò vì Tên gọi của khu di tích Láng Le Bàu Cò là do người dân địa phương đặt ra. Xóm làng được thành lập cạnh những con kênh rạch chằng chịt và dòng sông. Láng Le Bàu Cò có vị trí nằm ở bên trong cánh đồng có diện tích rộng lớn và có rất nhiều tôm, cua, cá. Cùng với nhiều loài chim như vịt trời, cò, con le le, cúm núm, cồng cộc, đa đa, diệc, đỏ nách tới kiếm ăn tại đây. Vì vậy, người dân Tân Nhựt gọi với cái tên thân thuộc và mộc mạc đó là Láng Le Bàu Cò. Di tích Láng Le Bàu Cò được xem là cửa ngõ để di chuyển tới trung tâm căn cứ Vườn Thơm và tấn công cơ quan đầu não của quân địch tại Sài Gòn. Trước đây khu di tích Láng Le Bàu Cò vốn là cánh đồng lau sậy mọc um tùm. Vào ngày 15/4/1948 thực dân Pháp đưa 3 nghìn quân lính cùng nhiều vũ khí hiện đại đồng loạt tấn công khu vực Láng Le Bàu Cò nhằm tiêu diệt căn cứ Vườn Thơm. Khi đó lực lượng vũ trang cách mạng ở Láng Le - Bàu vì lực lượng nhỏ và vũ khí thô sơ tuy nhiên được sự giúp đỡ của người dân địa phương cùng với lợi thế về địa hình. Chỉ sau hơn nửa ngày đấu tranh đã chuyển sang tấn công khiến quân Pháp bị thương vong với số lượng lớn. Chiến thắng Láng Le Bàu Cò đã tiêu diệt 300 tên địch và bắt sống 30 lính đánh thuê cùng phá hủy nhiều máy móc, xe nhà binh, súng các loại của quân giặc. Tuy nhiên, về phía ta có nhiều cán bộ chiến sĩ đã anh dũng hy sinh với tuổi đời còn rất trẻ. Ngày 14/10/1966 tại Láng Le tiểu đoàn biệt động quân Việt Nam Cộng Hòa bị dân quân du khách tiêu diệt. Khu di tích Láng Le Bàu Cò có ý nghĩa lịch sử to lớn đối với người dân Sài Gòn nói riêng và cả nước nói chung. Trước lòng căm thù thực dân Pháp, quân dân Láng Le Bàu Cò đã có cuộc chiến vang lừng lịch sử và có ý nghĩa to lớn mở đầu cho phía ta và phía địch. Đối với phía ta trận đánh mở đầu cho sự anh dũng trong tư thế kháng chiến vững mạnh. Còn với quân địch đã phải lùi vào thế bỏ chiến lược và bị tiêu diệt. Thực dân Pháp không còn định hình được chiến lược đánh bại Việt Minh. Hơn thế, tại căn cứ Vườn Thơm, Láng Le Bàu Cò còn diễn ra trận chiến quyết tâm bảo vệ căn cứ của ta và đập tan mọi kế hoạch phá hoại của quân giặc. Khu di tích Láng Le Bàu Cò sau phong trào Đồng Khởi vào năm 1960 còn là hậu cần, bàn đạp của lực lượng vũ trang để giải phóng Long An - Sài Gòn - Gia Định. Để tưởng nhớ sự hy sinh của đồng bào và các chiến sĩ của ta, vào năm 1988 huyện Bình Chánh đã xây dựng công trình lịch sử tại vùng đất Láng Le Bàu Cò với diện tích rộng 1000m2. Nguồn: Báo thông tin điện tử TP Hồ Chí Minh

TP Hồ Chí Minh

17915 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp thành phố

Mở

Di Tích Lịch Sử Nhà Lao Tân Hiệp

Di Tích Lịch Sử Nhà Lao Tân Hiệp

Nhà lao Tân Hiệp còn có tên là "Trung tâm cải huấn Tân Hiệp" tọa lạc ở khu phố 6, phường Tân Tiến, TP Biên Hòa. Di tích Nhà lao Tân Hiệp đã được Bộ Văn Hoá Thể Thao xếp hạng là di tích cấp quốc gia ngày 15-1-1994. Nhà lao Tân Hiệp là một trong sáu nhà tù lớn nhất miền Nam Việt Nam và là nhà tù lớn nhất vùng Đông Nam bộ, được xây dựng ở vị trí quân sự quan trọng, án ngữ phía đông bắc thị xã Biên Hòa. Phía trước là quốc lộ 1; phía sau là đường xe lửa Bắc - Nam. Đây là vị trí biệt lập, thuận tiện trong giao thông, dễ dàng cho việc bảo vệ, canh gác, nhận tù từ nơi khác đến và chuyển tù đi Côn Đảo, Phú Quốc... Nhà lao Tân Hiệp có diện tích 46.520m2 với 8 trại giam, trong đó có 5 trại giam những người tù cộng sản, người yêu nước. Xung quanh nhà tù được bao bọc bởi 4 lớp kẽm gai bùng nhùng với 9 lô cốt, 3 tháp canh cùng đội lính bảo vệ và hệ thống báo động tối tân. Mang tên "Trung tâm cải huấn" nhưng thực chất bên trong là kho súng, phòng xét hỏi, tra tấn với những dụng cụ hiện đại bậc nhất. Mỗi trại giam chỉ có diện tích gần 200m2 nhưng giam giữ từ 300-400 người, có lúc lên đến cả ngàn người. Đặc biệt ở đây có các phòng "cải hối", "chuồng cọp" rất nhỏ hẹp và điều kiện sinh hoạt cực kỳ khắc nghiệt, tù nhân sống chẳng khác gì trong lò thiêu xác. Chế độ ăn uống cực kỳ mất vệ sinh, bọn cai ngục mua gạo mục, cá thối dùng để bón ruộng, chiên bằng dầu luyn cho tù nhân ăn dẫn đến nhiều người bị ngộ độc. Với quyết tâm thoát khỏi nhà tù đế quốc, trở về với Đảng, với nhân dân để tiếp tục chiến đấu, giải phóng dân tộc, ngày 2-12-1956, được sự nhất trí của Liên Tỉnh ủy miền Đông, những chiến sĩ cộng sản bị "câu lưu" trong nhà lao Tân Hiệp dưới sự chỉ đạo trực tiếp của đồng chí Nguyễn Trọng Tâm (Bảy Tâm) - phụ trách Đảng ủy nhà tù và một số đồng chí khác đã bất thần làm một cuộc phá xiềng tập thể giải thoát gần 500 đồng chí, đồng bào yêu nước. Sự kiện này đã làm xôn xao cả Lầu Năm Góc. Mỹ - Diệm vội vã huy động cả quân chủ lực lẫn bảo an, dân vệ đang trấn thủ 3 tỉnh Biên Hòa, Bà Rịa, Thủ Dầu Một và hai biệt đoàn biệt động quân đến bủa lưới bao vây, truy bắt đoàn tù nhưng đều thất bại. Các đồng chí, đồng bào của ta thoát khỏi nhà lao Tân Hiệp đã được sự giúp đỡ, che chở của các cơ sở địa phương, trở về căn cứ an toàn. Trong số tù nhân vượt ngục có các đồng chí: Bảy Tâm, Hai Thông, Lý Văn Sâm... đã trở thành những hạt nhân nòng cốt cho phong trào Đồng Khởi sau này. Năm 2001, để tái hiện phần nào tội ác của Mỹ - Diệm đối với các đồng chí, đồng bào ta bị giam cầm tại nhà lao Tân Hiệp và diễn tả lại toàn bộ cuộc nổi dậy phá khám Tân Hiệp ngày 2-12-1956, Bảo tàng Đồng Nai đã tiến hành sưu tầm hình ảnh, tài liệu, hiện vật trưng bày tại di tích và làm một sa bàn để phục vụ nhu cầu nghiên cứu, tham quan của mọi tầng lớp nhân dân. Hàng ngày, di tích luôn mở cửa đón khách tham quan. Nguồn: Báo Đồng Nai Điện Tử

Đồng Nai

16421 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Đền thờ Nguyễn Hữu Cảnh

Đền thờ Nguyễn Hữu Cảnh

Đền thờ Nguyễn Hữu Cảnh còn gọi là đình Bình Kính tọa lạc bên tả ngạn sông Đồng Nai, xưa kia thuộc ấp Bình Kính, thôn Bình Hoành, tổng Trấn Biên, nay là ấp Nhị Hòa, xã Hiệp Hòa, TP Biên Hòa, đã được Bộ Văn Hoá – Thông Tin – Thể Thao & Du Lịch xếp hạng là di tích lịch sử cấp quốc gia ngày 25-3-1991. Đền thờ Nguyễn Hữu Cảnh được xây dựng vào khoảng cuối thế kỷ 18, ban đầu ngôi đền có qui mô nhỏ, vách làm bằng ván, mái ngói âm dương, cách ngôi đền hiện tại khoảng 400m về hướng Nam. Các tư liệu cho biết: ngôi đền được xây dựng lại lần đầu tiên vào năm Tự Đức thứ tư (1851); đến năm 1923, đền được tái thiết lại ở địa điểm hiện nay. Nguyễn Hữu Cảnh sinh vào năm 1650 tại Gia Miêu, huyện Tống Sơn, tỉnh Thanh Hóa trong một gia đình có nhiều bậc danh tướng đương triều. Ông là người văn võ song toàn, lập được nhiều chiến công lớn và được chúa Nguyễn tin yêu, trọng vọng. Mùa Xuân năm Mậu Dần (1698), ông vâng lệnh chúa Nguyễn vào kinh lược xứ Đàng Trong khi ấy còn rất hoang vu. Đến đất Đồng Nai, ông đặt Đại bản doanh ở Cù lao Phố (nay là xã Hiệp Hòa); lấy đất Đồng Nai làm huyện Phước Long, dựng dinh Trấn Biên, lấy xứ Sài Gòn làm huyện Tân Bình, dựng dinh Phiên Trấn, đất đai mở mang ngàn dặm. Ông chiêu mộ lưu dân đến lập nghiệp, tổ chức bộ máy hành chính từng bước có qui củ, khuyến khích khai hoang, thúc đẩy Cù lao Phố phát triển thành một trong những cảng thị sầm uất, năng động nhất đàng Trong suốt thế kỷ 18 và chính thức sáp nhập vùng đất mới phương Nam vào bản đồ Đại Việt. Sau khi kinh lược phương Nam trở về, năm sau ông lại phụng mệnh chúa Nguyễn Phúc Chu thống lĩnh đại binh dẹp vua Chân Lạp giữ vững miền biên ải phương Nam. Tháng 4 năm Canh Thìn (1700), sau khi hoàn thành sứ mệnh, trên đường trở về đến Rạch Gầm (Tiền Giang) thì ông thọ bệnh qua đời nhằm ngày 16 tháng 5 âm lịch, thọ 51 tuổi. Trên đường di quan ông về quê an táng, quan tài của ông được đình lại khu đất khi xưa ông đặt Đại bản doanh ở Cù lao Phố để cho nhân dân địa phương có dịp bái biệt ông lần cuối. Nơi đình quan đã được nhân dân địa phương xây một ngôi mộ vọng để ghi nhớ sự kiện này. Khi hay tin Nguyễn Hữu Cảnh mất, Chúa Nguyễn vô cùng thương tiếc đã phong tặng ông là Thượng đẳng công thần đặc Trấn phủ Chưởng cơ với tước: Lễ Thành Hầu và đưa bài vị của ông vào thờ tại Thái miếu. Nguồn: Báo Đồng Nai Điện Tử

Đồng Nai

14980 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Di tích chiến thắng La Ngà

Di tích chiến thắng La Ngà

Di tích chiến thắng La Ngà (tại km số 104-112 trên quốc lộ 20 đi Đà Lạt, thuộc xã Phú Ngọc, huyện Định Quán) được Bộ Văn hóa xếp hạng di tích lịch sử cấp quốc gia ngày 12-12-1986. Để cổ vũ cho chiến thắng Việt Bắc thu - đông 1947 và cũng để giáng cho kẻ thù một đòn chí mạng, Ban chỉ huy chi đội 10 đã quyết định phải tổ chức một trận đánh lớn, để quân giặc thấy rằng dân tộc Việt Nam, con người Việt Nam không dễ dàng chịu khuất phục trước bất kì một kẻ thù nào; Bằng tinh thần quả cảm và sự khôn khéo sau gần nửa năm chuẩn bị, nghiên cứu địa hình, chọn địa điểm: vào lúc 15 giờ 12 phút ngày 1/3/1948 trận chiến phục kích La Ngà bắt đầu và kết thúc vào lúc 15 giờ 57 phút cùng ngày, chỉ trong vòng 45 phút. Chiến thắng La Ngà đã làm nức lòng nhân dân Định Quán nói riêng, quân dân Đồng Nai nói chung. Đây là chiến thắng thể hiện sự mưu trí, dũng cảm của quân và dân ta làm cho địch một phen kinh hồn, bạt phía. Từ chiến thắng này lực lượng ta ngày càng thêm lớn mạnh, góp phần đánh bại kế hoạch đánh nhanh, thắng nhanh của địch, buộc chúng phải rơi vào thế bị động. Quần thể danh thắng đá Chồng, Thác Mai, sông La Ngà và Tượng đài chiến thắng La Ngà là một quần thể du lịch kì thú của Định Quán. Vẻ đẹp kỳ thú của Hòn Ba Chồng, Núi Đá Voi, Hòn Dĩa, cùng với ngôi chùa thiên nhiên dưới chân núi đá là những cụm tiêu biểu tạo thành cảnh đẹp hài hòa cho khu danh thắng Đá Chồng. Quần thể Đá Chồng Định Quán còn là nơi lưu lại những dấu tích của cuộc sống người tiền sử. Tại đây dưới các mái đá, ven các khe suối và cả các sườn dốc ven thung lũng đã phát hiện nhiều công cụ sản xuất, sinh hoạt của người xưa bằng đá, đồng, đất nung. Trong suốt cuộc kháng chiến dài 30 năm. Định Quán là một phần quan trọng của Chiến khu Đ. Đá Chồng đã chứng kiến sự hình thành, phát triển, trú quân, triển khai chiến đấu của lực lượng cách mạng. Ngày nay, một phần đất của khu danh thắng Đá Chồng Định Quán đã được sử dụng, xây dựng thành khu Trung tâm văn hóa thể thao huyện Định Quán. Tương lai không xa khu danh thắng Đá Chồng Định Quán sẽ được đầu tư tôn tạo góp phần làm cho cảnh quan thiên nhiên ngày càng tươi đẹp, là địa điểm du lịch sinh thái hấp dẫn. Nguồn: Uỷ Ban Nhân Dân Huyện Định Quán

Đồng Nai

14807 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Tháp cổ Chót Mạt

Tháp cổ Chót Mạt

Di tích Lịch sử-Văn hóa Tháp Chót Mạt, tọa lạc ấp Xóm Tháp, xã Tân Phong, huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh, được Bộ Văn hóa Thông tin (nay là Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch) công nhận là di tích lịch sử - văn hóa ngày 23 tháng 7 năm 1993. Đồng thời là một trong ba công trình tháp cổ cuối cùng còn lại ở miền Nam nước ta. Trải qua nhiều lần trùng tu vào các năm 1938, 2003 và gần đây nhất là vào năm 2013. Mặc dù trải qua các đợt trùng tu tôn tạo, nhưng khu di tích tháp cổ Chót Mạt đã mang cho mình một diện mạo mới nhưng vẫn giữ nguyên được tinh thần kiến trúc cổ. Toàn bộ tòa Tháp được xây dựng bằng gạch và đá phiến với phần đỉnh tháp nhọn dần lên, từ mặt đất lên nơi cao nhất của đỉnh tháp được ước tính là 10m. Ngoài ra, ngọn tháp cổ này nằm trên gò đất cao giữa cánh đồng nên nhìn từ xa nó tựa như ngọn bút đang vươn lên cao dần. Năm 2003 Uỷ ban nhân dân tỉnh Tây Ninh quyết định phê duyệt dự án đầu tư trùng tu tôn tạo bảo tồn di tích tháp Chót Mạt và được tiến hành triển khai trùng tu tôn tạo phục hồi, trưng bày mở hố khai quật năm 2003 đưa vào sử dụng. Ngày 27/11/2019 UBND tỉnh ban hành Quyết định Quy định về phân cấp quản lý, bảo vệ và phát huy giá trị di tích lịch sử văn hóa và danh lam thắng cảnh trên địa bàn tỉnh Tây Ninh. Quyết định giao UBND huyện Tân Biên trực tiếp quản lý 4 di tích, trong đó có di tích cấp Quốc gia di tích Lịch sử- văn Hóa Tháp Chót Mạt. Đặc biệt Di tích Lịch sử-Văn hóa Tháp Chót Mạt trên địa bàn xã Tân Phong, huyện Tân Biên được chọn nằm trong chũi liên kết phát triển du lịch của Tỉnh Tây Ninh. Đây là một địa điểm tham quan rất đáng để khám phá, góp phần phát triển du lịch trên địa bàn xã Tân Phong nói riêng và huyện Tân Biên nói chung. Nguồn: Cổng thông tin điện tử tỉnh Tây Ninh

Tây Ninh

14655 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Dinh Quận Hóc Môn

Dinh Quận Hóc Môn

Dinh Quận Hóc Môn tọa lạc tại số 1, đường Lý Nam Đế, thị trấn Hóc Môn, (cạnh trụ sở UBND huyện) là nơi để lại nhiều sự kiện đấu tranh nổi bật suốt chặng đường dài lịch sử từ 1885 đến ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng của Nhân dân 18 Thôn vườn trầu. Sau khi hạ được Đại đồn Chí Hòa, thực dân Pháp xây dựng tại nơi đây một ngôi nhà gỗ cao 3 tầng dùng làm Đồn binh. Khi tên Trần Tử Ca về nhậm chức Đốc Phủ, dùng Đồn làm Dinh huyện Bình Long. Vốn là một tay say quỷ quyệt của thực dân Pháp, Trần Tử Ca bị nhóm do các ông Phan Văn Hớn (Quản Hớn) và Nguyễn Văn Quá (Chánh Lãnh Binh) cầm đầu gần 1.000 nghĩa quân tiến về đốt Dinh Quận, bắt và cắt đầu bêu giữa chợ. Đó là ngày 8/2/1885 Tết Ất Dậu. Sau đó, Dinh Quận Hóc Môn được xây dựng lại với nền móng đá xanh, tường gạch, có hệ thống phòng thủ từ lầu cao đến tận vòng rào. Lối kiến trúc y như Đồn binh nên người địa phương gọi là Đồn Hóc Môn. Trấn nhậm thay Trần Tử Ca là Đốc phủ Ngôn, đến Quận Trà rồi Quận Thọ. Đây là khoảng thời gian dài người dân vùng Hóc Môn hứng chịu bao cảnh tham tàn, bỉ ổi của thực dân Pháp và bọn tay sai đầu sỏ kể trên. Với truyền thống kiên cường bất khuất của Nhân dân Hóc Môn. Ngày 4/6/1930, khoảng 6 giờ sáng trước Dinh Quận, hàng trăm bà con Hóc Môn kéo biểu tình đòi “bãi bỏ thuế thân, giảm các thuế môn bài và thuế chợ, cấp đất cho dân cày nghèo”. Quận Trà cho mời những người cầm đầu vào Dinh thương lượng, nhưng chúng xảo quyệt bắt giữ họ trong đó có ông Lê Văn Uôi (Bí thư xã Tân Thới Nhì), là người cầm đầu cuộc biểu tình. Mọi người không nao núng, quyết liệt đòi hỏi Quận Trà phải thả những người bị cầm giữ. Đoàn biểu tình càng lúc càng đông, khí thế đấu tranh có phần lan rộng, khiến Quận Trà nhượng bộ. Một mặt chúng thả những người bị giữ, mặc khác chúng gọi điện cho quan thầy ở Sài Gòn cứu viện. 2 giờ sau, cuộc đấu tranh bị 2 tên Blachôlê và Nobbot chỉ huy bắn xối xả vào đoàn biểu tình, gây thương vong nhiều người. Nhưng sự kiện lịch sử gây ấn tượng nhất tại Dinh Quận Hóc Môn là cuộc khởi nghĩa Nam kỳ ngày 23/11/1940. Đồn Hóc Môn rất kiên cố, xây bằng đá xanh như là một pháo đài, cao khoảng 15 thước, có ụ súng và hệ thống phòng thủ lỗ châu mai do một trung đội lính khố xanh trấn giữ. Ngày 22/11/1940, Pháp tăng cường thêm 1 trung đội để đối phó với tình hình. Chiều 22/11/1940, cánh quân của ông Đỗ Văn Cội đột nhập vào thị trấn, giả dạng thường dân, phục kích sau lưng Đồn chờ lệnh cướp Đồn. Một cánh quân khác có nhiệm vụ phá cầu, đốn cây ngăn lộ, đánh chiếm các công sở, nhà việc... Cánh quân từ Phước Vĩnh An, Tân Thông, Tân An Hội, Tân Phú Trung do ông Phạm Văn Sáng và Đặng Công Bỉnh chỉ huy, xuất phát từ ấp Bến Đò, đánh chiếm nhà việc, diệt 1 tên, thu 4 súng, làm chủ tình hình tại đây (Tân Phú trung). Liền đó cánh quân này được lệnh kéo về Hóc Môn. Cánh quân Long Tuy Thượng do ông Bùi Văn Hoạt chỉ huy. Cánh quân thuộc Tổng Long Tuy Trung do ông Đỗ Văn Dậy và Lê Bình Đẳng chỉ huy. Khoảng 24 giờ đêm ngày 22/11/1940, vẫn chưa nghe thấy tiếng pháo lệnh ở Sài Gòn. Sau khi hội ý, các vị chỉ huy những cánh quân thống nhất tấn công Đồn giặc. Lập tức các cánh quân tiến thẳng về Đồn Hóc Môn, nơi trú ngụ của tên Quận trưởng Bùi Ngọc Thọ. 2 nghĩa quân tên Nghé và Kinh xung phong vào cổng trước, hy sinh. Nghĩa quân bốn phía xông vào Đồn như nước vỡ bờ. Trước sức mạnh của nghĩa quân và quần chúng, bọn lính trong Đồn không còn tinh thần kháng cự, bỏ chạy tán loạn. Nghĩa quân chiếm lĩnh hoàn toàn bên trong Đồn nhưng trên lầu, địch vẫn ngoan cố dùng súng bắn tẻ, cùng lúc gọi điện về Sài Gòn, Thủ Dầu Một cấp cứu. Vì nóng lòng bắt cho được tên Quận Thọ nên đồng chí Đỗ Văn Dậy bám ống máng nước để leo lên tầng trên Đồn. Đến lưng chừng bị trúng đạn, đồng chí bị rơi xuống và hy sinh sau đó. Cuộc chiến đấu đang thế giằng co thì viện binh địch đến. Không thể cầm cự, nghĩa quân rút khỏi thị trấn, phân tán về các làng, lực lượng vũ trang rút về ấp Bến Đò (Tân Phú Trung) rồi di chuyển sang ấp Mỹ Hạnh (Đức Hòa). Cuộc tiến công Đồn Hóc Môn (sau gọi là Dinh Quận Hóc Môn) tuy thất bại nhưng đã để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng mọi người dân sự khâm phục lòng dũng cảm của các chiến sĩ cách mạng trong cuộc chiến đấu chống thực dân cướp nước. Trong chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, 7 giờ sáng ngày 30/4/1975, thị trấn Hóc Môn hoàn toàn được giải phóng, lá cờ Tổ quốc phất phới bay trên Dinh Quận, nơi tên Quận trưởng Nguyễn Như Sang và bọn tay sai đã chạy trốn từ tối đêm trước. Ngày nay Dinh Quận Hóc Môn được chọn làm Bảo tàng huyện, nơi đây tập trung nhiều tư liệu trưng bày, minh họa các giai đoạn lịch sử thăng trầm cũng như khí thế đấu tranh cách mạng của quân và dân trong huyện Hóc Môn qua 2 cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ. Một Tượng đài đặt trước di tích Dinh Quận Hóc Môn thể hiện gương hy sinh bất khuất của quân và dân 18 Thôn Vườn trầu, được công nhận là di tích lịch sử văn hóa cấp Quốc gia. Nguồn: Ủy ban nhân dân huyện Hóc Môn

TP Hồ Chí Minh

14015 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Tòa đại sứ quán Mỹ

Tòa đại sứ quán Mỹ

Di tích tòa Đại sứ Mỹ còn được gọi "Nhà trắng phương Đông" là nơi xuất phát các âm mưu thâm độc về quân sự lẫn chính trị nhằm thôn tính lâu dài đất nước Việt Nam, địa điểm di tích là tòa nhà 5 tầng xây dựng theo kiến trúc hiện đại, tọa lạc tại góc đường Mạc Đĩnh Chi - Lê Duẩn, Phường Bến Nghé, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh, trên một mảnh đất rộng gần 5.000m2. Trước đó, tòa đại sứ Mỹ nằm tại số 39 đường Hàm Nghi. Khoảng 10 giờ sáng ngày 30/3/1963, tòa đại sứ Mỹ trên đường Hàm Nghi đã bị đội Biệt động F21 đánh chất nổ làm sập 3 tầng lầu: 1, 2, 3 do đó Mỹ đã quyết định xây lại. Tòa nhà được khởi công xây dựng vào năm 1965, hầu hết vật liệu cũng như máy móc xây dựng đều được chở từ Mỹ sang, dưới sự điều khiển của kỹ sư người Mỹ. Theo thiết kế, tòa nhà bao bọc bởi 7.800 viên đá Taredo có khả năng chống đỡ mìn, đạn pháo. Cửa chính trang bị bằng thép dầy, những cửa khác chắn bởi lớp kín dầy đặc biệt chống đạn. Tất cả cửa sử dụng hệ thống tự động kể cả cửa sắt chắn lối lên các tầng lầu. Bên trong tòa nhà gồm 140 phòng với 200 nhân viên phục vụ ngày đêm ngoài ra bên cạnh tòa nhà còn được xây thêm một dãy nhà phụ gọi là khu "Norodom" dành riêng cho nhân viên C.I.A. Khi khánh thành, tòa nhà chỉ có 3 tầng. Cuối năm 1966 xây thêm 2 tầng và 1 sân thượng dùng làm nơi hạ cánh cho máy bay lên thẳng. Bao quanh tòa nhà là bức tường cao 3m, hai đầu tường sát đường Lê Duẩn xây 2 lô - cốt cao, canh gác ngày đêm. Tòa Đại sứ hoàn thành tháng 9/1967 với một hệ thống phòng thủ như là một pháo đài có 60 lính gác, một hầm tránh bom, một hệ thống màn hình ra-đa nhằm kiểm soát mặt tiền. Ngay sau khi tòa nhà hoàn tất, ngày 24/9/1967, hàng ngàn sinh viên, học sinh kéo đến trước cổng Đại sứ quán Mỹ đấu tranh đòi "Mỹ chấm dứt ném bom miền Bắc", "Mỹ cút về nước" và ra thông báo tố cáo Mỹ "chà đạp và vi phạm nghiêm trọng quyền tự quyết của nhân dân miền Nam". Nhưng sự kiện nổi bật xảy ra tại Tòa Đại sứ Mỹ là trận đánh của Biệt động thành trong Tổng Tiến công và nổi dậy xuân Mậu Thân 1968. Mục tiêu đánh Đại sứ quán Mỹ được bổ sung ngày 24/ 1/1968 do Ngô Thành Vân phụ trách chung. Đội Biệt động 11 nhận lãnh nhiệm vụ quan trọng này gồm đội trưởng Út Nhỏ (đội trưởng trinh sát quân khu) và các chiến sĩ: Bảy Truyền, Tước, Thanh, Chức, Trần Thế Ninh, Chính, Tài, Văn, Đực, Cao Hoài Vinh, Mang, Sáu và 2 lái xe: Trần Sĩ Hùng và Ngô Văn Thuận. Một sự kiện khác cũng không kém phần tủi nhục cho Toà Đại sứ Mỹ là cảnh hỗn loạn tháo chạy xảy ra trong 2 ngày 29 và 30/04/1975 của Mỹ và đồng bọn. Trước sức tấn công thần tốc của quân và dân Việt Nam trong chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, trên 1.000 người Mỹ và hơn 5.000 người Việt thân Mỹ đã chen lấn, xô đẩy, đạp nhau để tranh giành một chỗ trên sân thượng của toà nhà hòng được trực thăng cứu thoát. Di tích này đã được cấp bằng công nhận của Bộ Văn hoá ngày 25/6/1976. Hiện nay, toà nhà Đại Sứ Mỹ đã bị phá bỏ, xây mới thành lãnh sự quán tại Thành phố Hồ Chí Minh, nhưng cạnh đó một bia tưởng niệm ghi nhớ mãi chiến công của các chiến sĩ biệt động đã hy sinh trong trận đánh. Nguồn: Thành Đoàn Thành phố Hồ Chí Minh

TP Hồ Chí Minh

13912 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Lăng Mai Xuân Thưởng

Lăng Mai Xuân Thưởng

Mai Xuân Thưởng là người lãnh đạo phong trào Cần Vương chống Pháp cuối thế kỷ XIX ở Bình Định. Mai Xuân Thưởng sinh năm Canh Thân 1860, mất năm Đinh Hợi 1887 người thôn Phú Lạc, tổng Phú phong, huyện Tuy Viễn, tỉnh Bình Định (nay là thôn Phú Lạc, xã Bình Thành, huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định). Cha là Mai Xuân Tín làm Bố chánh ở Cao Bằng, mẹ là Huỳnh Thị Nguyệt con của một nhà quyền quý trong làng. Mai Xuân Thưởng vốn là người thông minh, ham học. Năm 18 tuổi (1878) ông đỗ Tú tài tại Trường thi Bình Định. năm 25 tuổi (1885) thi đỗ cử nhân. Hưởng ứng chiếu Cần vương của vua Hàm Nghi, Mai Xuân Thưởng về quê Phú Lạc, chiêu mộ nghĩa binh, lập căn cứ ở hòn Sưng dựng cờ cần vương chống Pháp, sau đó Mai Xuân Thưởng đã đem lực lượng của mình gia nhập vào nghĩa quân do Đào Doãn Địch lãnh đạo và được Đào Doãn Địch phong giữ chức Tán lương quân vụ (phụ trách về lương thực của nghĩa quân). Kể từ đó cho đến năm 1887, phong trào cần vương ở Bình Định phát triển mạnh mẽ và lan ra đến Quảng Ngãi, Phú Yên...thu hút hàng chục ngàn người thuộc mọi tầng lớp tham gia. Ngày 20/9/1885 Đào Doãn Địch mất, giao toàn bộ lực lượng cho Mai Xuân Thưởng. Ông chọn vùng núi Lộc Đổng (nay thuộc xã Bình Tường, huyện Tây Sơn) làm đại bản doanh và tổ chức lễ tế cờ , truyền hịch kêu gọi sỹ phu, văn thân, nhân dân tham gia phong trào cần Vương chống Pháp. Trong buổi lễ ấy, nghĩa quân nhiều vùng trong tỉnh Bình Định đã nhất trí suy tôn ông làm Nguyên soái lãnh đạo cuộc khởi nghĩa và nêu cao khẩu hiệu: “Tiền sát tả, hậu đả Tây”. Đầu năm 1887, quân Pháp dưới sự chỉ huy của Trung tá Cherrean và quân triều đình do Trần Bá Lộc chỉ huy cùng với Công sứ Trira đã mở cuộc tấn công lớn lên căn cứ đại bản doanh của phong trào Cần Vương Bình Định, trận giao chiến giữa lực lượng nghĩa quân với giặc Pháp diễn ra vô cùng ác liệt, cuộc chiến đấu không cân sức, cuối cùng lực lượng khởi nghĩa bị đẩy lùi. Tháng 3 năm 1887, sau trận ác chiến ở Bàu Sấu (thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định), Mai Xuân Thưởng bị thương nặng, nghĩa quân rút về Mật khu Linh Ðổng. Ngày 21 tháng 4 năm 1887, Trần Bá Lộc bao vây đánh chiếm căn cứ mật khu Linh Đổng và bắt được một số nghĩa quân, trong đó có thân mẫu Mai Nguyên Soái. Đêm 30 tháng 4 năm 1887, Mai Xuân Thưởng đã cử một đội quân cảm tử đột nhập doanh trại Trần Bá Lộc, giải vây cho những người bị bắt, ông cùng đoàn thuộc hạ gồm 50 người vượt núi vào Phú Yên, tiếp tục kháng chiến, nhưng khi đến đèo Phú Quý (ranh giới giữa Bình Định và Phú Yên) thị bị phục binh Trần Bá Lộc bắt và đưa ra xử trảm tại Gò Chàm (Phía đông Thành Bình Định). Di tích Lăng mộ nhà yêu nước Mai Xuân Thưởng tọa lạc trên ngọn đồi cao của dãy núi Ngang (thuộc thôn Hòa Sơn, xã Bình Tường, huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định) cách thành phố Quy Nhơn khoảng 50km về hướng Tây Bắc; Lăng mộ được xây dựng trên khu đất rộng 1988m2, khánh thành ngày 22 tháng 1 năm 1961.Về tổng thể, Lăng được thiết kế theo kiểu lăng mộ cổ, xung quanh có thành thấp bao bọc. Cổng Lăng (tam quan) là 4 trụ vuông, phía trên thắt lại theo kiểu bầu lọ mang dáng dấp kiến trúc cổng đình, miếu cuối thế kỷ XIX. Giữa nhà Lăng là mộ phần Mai Xuân Thưởng hình khối chữ nhật theo hướng Đông - Tây; Phía đầu mộ dựng tấm Bia đá khắc bài ký ghi tiểu sử và sự nghiệp của Mai Xuân Thưởng: Di tích được Bộ Văn hóa Thông tin quyết định xếp hạng cấp Quốc Gia ngày 20 tháng 4 năm 1995. Nguồn: UBND Huyện Tây Sơn tỉnh Bình Định

Gia Lai

13583 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Thành Nhà Mạc Ở Cao Bằng (Thành Nà Lữ, Thành Bản Phủ, Thành Phục Hòa)

Thành Nhà Mạc Ở Cao Bằng (Thành Nà Lữ, Thành Bản Phủ, Thành Phục Hòa)

Thời kỳ nhà Mạc đóng đô ở Cao Bằng, để phòng bị quân nhà Lê tiến đánh, nhà Mạc đã tu bổ, sửa chữa thành Na Lữ (nay thuộc xã Hoàng Tung, Hòa An) và thành Bản Phủ (nay thuộc xã Hưng Đạo), thành Phục Hòa, ngoài ra còn xây dựng nhiều thành lũy khác ở Cao Bằng, làm cho Cao Bằng trở thành một trung tâm chính trị và quân sự ở vùng biên viễn Đông Bắc thời bấy giờ. Thành Na Lữ và thành Phục Hoà là hai thành được xây dựng từ trước. Theo ghi chép của Bế Hựu Cung trong Cao Bằng thực lục, thành Na Lữ và thành Phục Hòa mở đầu từ đời Đường Ý Tông năm Giáp Thân, niên hiệu Hàm Thông thứ 5 (874). Căn cứ vào sự hiện diện của nhiều ngôi mộ cổ có đá khắc ghi bia mộ tên, địa chỉ, quê quán những người phu dịch xây thành chết ở đây từ thời Hàm Thông có thể khẳng định hai thành này xây từ đời Đường. Thành Na Lữ được xây qua nhiều triều đại khác nhau. Khi nhà Mạc lên Cao Bằng đã cho xây lại bằng gạch. Thành Na Lữ có hình gần chữ nhật, có tổng diện tích khoảng 37,5 ha, chiều dài khoảng 800 m, chiều rộng khoảng 600 m, thành có 4 cửa. Thành Bản Phủ tại kinh đô Nam Bình, nước Nam Cương của Thục Phán khi xưa ở Cao Bình (Cao Bằng), nhà Mạc đã tu bổ thành Vương phủ tại vòng trong của kinh đô cũ Nam Bình và được gọi là thành Bản Phủ hay Vương phủ. Tại kinh đô Nam Bình xưa của nước Nam Cương và của nhà Mạc, thành Bản Phủ vẫn còn dấu tích khá rõ nét. Kinh đô Nam Bình gồm có hai vòng thành, để bảo vệ kinh thành, vòng ngoài có chu vi khoảng 5 km, gồm cả một vùng gò đồi thấp, quanh chân đồi được bạt dựng đứng như một bức tường thành, thuận lợi cho việc xây dựng phòng tuyến bảo vệ. Bờ thành phía Tây chạy song song với bờ sông Bằng đến đầu làng Bó Mạ, nối bờ thành Đông Nam chảy qua trước mặt Bản Phủ theo chân đồi ra gặp quốc lộ 4, phía Đông Bắc chạy theo chân đồi sát phía ngoài quốc lộ 4, lên đến Đầu gò là phía Tây Bắc tiếp tục chạy theo chân đồi, ra đến bờ sông gặp bờ thành phía Tây tạo thành một vòng thành khép kín. Khi nhà Mạc lên đóng đô đã tu sửa lại và xây dựng thêm một số công trình, trong đó thành Bản Phủ (thành nội - nơi của vua làm việc) được xây lên cao hơn trên các tường thành cũ từ thời kỳ Thục Phán, thành nằm trên một khu đất bằng phẳng. Cùng với việc xây dựng lại kinh thành, nhà Mạc còn xây dựng một hệ thống đồn bốt, thành lũy khá dày xung quanh kinh đô và một số điểm biên giới quan trọng, tạo thành một hệ thống bảo vệ kinh thành và bảo vệ biên giới. Thành Phục Hòa (huyện Phục Hoà) được xây theo kiểu hình vuông, mỗi chiều khoảng 400 m, gồm hai vòng thành, khoảng cách giữa hai vòng là 80 m. Hiện nay, tường thành phía Nam đã bị phá huỷ hoàn toàn. Thành Phục Hòa có 2 cổng chính: Cổng phía Bắc được mở thông ra quốc lộ đi Cửa khẩu Tà Lùng ngày nay, nhân dân thường gọi là Pác Cổng, cổng này được xây theo kiểu hình chữ nhật, rộng 8 m, cao 5 m, gồm hai cánh cổng làm bằng gỗ nghiến dày rất chắc chắn; cổng thứ hai ở phía Nam, mở thông ra bờ sông. Cả hai cổng đều bị san phẳng từ lâu, hiện nay không còn vết tích. Gần thành, tại phía Tây Bắc ngoại thành dọc bờ sông còn có nhiều vết tích lò nung gạch, nhân dân cho biết trong quá trình lao động, khai phá đã tìm thấy ở khu vực này nhiều lò gạch còn nguyên vẹn. Qua nghiên cứu, khảo sát cho thấy, tại Cao Bằng, nhà Mạc đã tu bổ, tôn tạo và xây dựng thêm nhiều thành, đồn luỹ, trong đó tu bổ, tôn tạo xây lại thành Bản Phủ, thành Na Lữ, thành Phục Hoà. Các đồn luỹ này đã tạo thành một hệ thống liên hoàn bảo vệ kinh thành khá vững chắc. Đến nay, những thành cổ nhà Mạc xây dựng thời kỳ đóng đô ở Cao Bằng, một số thành xây dựng bằng đất chỉ còn vết tích, nhưng các thành được xây bằng đá vẫn còn rất rõ. Nguồn: Báo Cao Bằng điện tử

Cao Bằng

13296 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

KHU TƯỞNG NIỆM LIỆT SĨ NGÃ BA GIỒNG, DI TÍCH LỊCH SỬ QUỐC GIA

KHU TƯỞNG NIỆM LIỆT SĨ NGÃ BA GIỒNG, DI TÍCH LỊCH SỬ QUỐC GIA

Di tích Ngã Ba Giồng là di tích lịch sử cách mạng thuộc Ấp 5, xã Xuân Thới Thượng, huyện Hóc Môn. Được bao quanh bởi ba con đường: Phan Văn Hớn, Nguyễn Văn Bứa và tỉnh lộ 19. Khu di tích Ngã Ba Giồng là khu tưởng niệm về những sự kiện lịch sử trong hai cuộc khácg chiến chống ngoại xâm. Được công nhận là di tích lịch sử cấp quốc gia vào năm 2002. Ngã ba Giòng (còn có tên gọi đầy đủ là Ngã ba Giòng Bằng Lăng) nằm trên địa phận thôn Xuân Thới Tây thuộc 18 thôn vườn trầu xưa được hình thành từ những năm 1698 đến năm 1731. Từ lâu đời, Ngã ba Giồng là 1 địa danh có tên gọi dân gian đã đi vào lịch sử của quê hương 18 thôn vườn trầu Hóc Môn – Bà Điểm. Tục truyền rằng xưa kia nơi đây là 1 vùng đất giồng tương đối cao ráo và là nơi mọc nhiều cây bằng lăng nên địa danh này có tên gọi từ đó. Sau khi cuộc khởi nghĩa Nam kỳ (23/11/1940) bị thất bại, thực dân Pháp đã tăng cường đàn áp, khủng bố khốc liệt phong trào cách mạng vùng Hóc Môn – Bà Điểm. Chúng đã lập ra ở Hóc Môn 3 trường bắn để giết hại các đồng chí lãnh đạo Đảng, các đồng chí đồng bào yêu nước của quê hương Hóc Môn và các vùng lân cận. Ngã ba Giồng là trường bắn thứ ba ghi lại tội ác tày trời của giặc pháp và bọn tay sai đối với nhân dân Hóc Môn. Rút kinh nghiệm từ 2 trường bắn trước (1 tại rạp hát cũ trung tâm Quận lỵ Hóc Môn, 1 cạnh giếng nước sau Bệnh viện Hóc Môn ngày nay), chúng xử bắn công khai, bắt nhân dân đến xem nhằm mục đích uy hiếp tinh thần cách mạng của nhân dân Hóc Môn. Nhưng cách xử bắn đó đã phản tác dụng, nhân dân Hóc Môn đã tận mắt chứng kiến sự tàn ác của thực dân Pháp, sự hy sinh cao cả của các chiến sĩ cộng sản nên ngọn lửa yêu nước của họ càng bùng lên mãnh liệt. Trường bắn thứ 3 này, chúng không dám xây dựng gần trung tâm Quận lỵ nữa mà đưa ra khu vực Ngã ba Giồng là vùng hoang vắng, thưa dân để tránh sự phản kháng của nhân dân. Tại đây, chúng xây dựng thành 1 trường bắn có mô đất kiên cố dài 12m, cao 2,2m, phía trước có trồng 6 cột bắn, mỗi cột cao 1.7m, hướng bắn quay về phía đồng ruộng (bưng Tràm Lạc). Vào năm 1941, tại đây chúng lén lúc xử bắn rất nhiều lần, không cho nhân dân xem, hàng trăm chiến sĩ cộng sản và đồng bào yêu nước bị chúng giết hại. Với ý nghĩa lịch sử vô cùng thiêng liêng của Ngã ba Giồng, nơi ghi dấu tội ác dã man của giặc Pháp, nơi thể hiện ý chí chiến đấu bất khuất kiên cường và sự hy sinh cao cả của đồng chí và đồng bào ta sau cuộc khởi nghĩa Nam kỳ (23/11/1940); sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng (30/4/1975), huyện Hóc Môn đã nhanh chóng khôi phục và tôn tạo khu di tích lịch sử cách mạng Ngã ba Giồng nhằm giáo dục truyền thống cho các thế hệ thanh thiếu niên. Nơi đây đã trở thành điểm tham quan, nơi tổ chức lễ hội truyền thống trong những ngày lễ lớn hàng năm của huyện Hóc Môn và thành phố đặc biệt là lễ kỷ niệm ngày Nam kỳ Khởi nghĩa (23/11). Hiện nay được sự nhất trí của thành phố, huyện đang tiến hành tôn tạo xây dựng Ngã ba Giồng thành “Khu tưởng niệm liệt sĩ Ngã ba Giồng”. Nguồn: Cổng thông tin điện tử Hóc Môn

TP Hồ Chí Minh

13141 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở