Di tích lịch sử

Xem dạng bản đồViệt nam

Danh sách điểm di tích (1412)

Đền thờ Sát Hải Đại Vương Hoàng Tá Thốn

Đền thờ Sát Hải Đại Vương Hoàng Tá Thốn

Đền thờ Sát Hải Đại Vương Hoàng Tá Thốn tọa lạc tại xóm Vạn Tràng, xã Hợp Minh, tỉnh Nghệ An. Đây là di tích lịch sử - văn hóa tiêu biểu, thờ Sát Hải Đại Vương Hoàng Tá Thốn (1254 – 1339), vị danh tướng triều Trần có nhiều công lao trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên – Mông, đặc biệt là chiến thắng Bạch Đằng năm 1288. Sau đại thắng, ông được giao thống lĩnh thủy binh, trấn giữ các cửa biển, bảo vệ vùng duyên hải và góp phần giữ vững bờ cõi Đại Việt. Ngôi đền được xây dựng trên vùng đất gắn với cuộc đời và sự nghiệp của ông. Trải qua nhiều thế kỷ, di tích vẫn lưu giữ được kiến trúc truyền thống với các hạng mục như cổng đền, bái đường, thượng điện cùng nhiều hiện vật, đồ thờ và hệ thống chạm khắc gỗ có giá trị, phản ánh nghệ thuật kiến trúc và tín ngưỡng đặc sắc của vùng đất xứ Nghệ. Đây không chỉ là nơi sinh hoạt tín ngưỡng của nhân dân mà còn là địa chỉ giáo dục truyền thống yêu nước và đạo lý "Uống nước nhớ nguồn". Hằng năm, từ ngày 11 đến 16 tháng 6 âm lịch, tại đền diễn ra Lễ hội Đền Hoàng Tá Thốn với các nghi lễ truyền thống như khai quang, yết cáo, rước kiệu, dâng hương và tế lễ, cùng nhiều hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể thao dân gian. Lễ hội là dịp tưởng nhớ công lao của vị danh tướng, đồng thời góp phần gìn giữ, phát huy các giá trị văn hóa truyền thống và thu hút đông đảo nhân dân, du khách thập phương về tham dự. Nguồn: Theo Cổng Thông tin điện tử xã Hợp Minh, Nghệ An

Nghệ An

282 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Đền Hưng Long – Lễ hội Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia

Đền Hưng Long – Lễ hội Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia

Đền Hưng Long – Điểm đến tâm linh gắn với lễ hội Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia. Đền Hưng Long (Hưng Long Linh Từ) tọa lạc tại xã Đông Tiền Hải, tỉnh Hưng Yên, là di tích lịch sử - văn hóa và tín ngưỡng gắn liền với tục thờ Quan Hoàng Bơ – vị thánh trong tín ngưỡng Tứ phủ được nhân dân vùng ven biển, sông nước tôn kính. Theo truyền thuyết, Quan Hoàng Bơ từng hiển linh giúp nhân dân chống thiên tai, bảo vệ đê điều và mang lại cuộc sống bình yên, vì vậy người dân đã lập đền để tưởng nhớ và thờ phụng. Trải qua nhiều thế kỷ, ngôi đền trở thành điểm sinh hoạt tín ngưỡng quan trọng của cư dân địa phương. Đền được xây dựng theo kiến trúc truyền thống vùng đồng bằng Bắc Bộ với các hạng mục như tiền tế, trung từ, chính tẩm và cung cấm. Không chỉ có giá trị về kiến trúc và lịch sử, đền còn lưu giữ nhiều hiện vật, đồ thờ tự và những giá trị văn hóa đặc sắc, góp phần phản ánh đời sống tâm linh của cư dân vùng cửa biển. Gắn liền với di tích là Lễ hội đền Hưng Long, được tổ chức hằng năm từ ngày 10 đến 15 tháng 6 âm lịch. Lễ hội nổi bật với nghi thức rước nước (lễ cấp thủy cầu ngư), các nghi lễ tế truyền thống cùng nhiều hoạt động văn hóa dân gian như múa lân, múa rồng, kéo co, vật và tổ tôm điếm, thể hiện khát vọng mưa thuận gió hòa, quốc thái dân an và đời sống no đủ của cư dân vùng sông nước. Tháng 7 năm 2025, Lễ hội đền Hưng Long được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ghi danh vào Danh mục Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia, góp phần khẳng định giá trị văn hóa tiêu biểu của di tích. Theo: Cổng Thông tin điện tử xã Đông Tiền Hải

Hưng Yên

272 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Tượng vua Lê Thái Tổ bên hồ Gươm

Tượng vua Lê Thái Tổ bên hồ Gươm

Tượng vua Lê Thái Tổ bên hồ Gươm Tượng vua Lê Thái Tổ nằm trong ngôi đền thờ vua lê Thái Tổ tọa lạc tại số 16 phố Lê Thái Tổ, phường Hàng Trống, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội, trong không gian xanh bên bờ hồ Hoàn Kiếm. Đây là di tích lịch sử gắn liền với vị anh hùng dân tộc Lê Lợi và truyền thuyết trả gươm thần, một biểu tượng tiêu biểu của Thăng Long – Hà Nội. Theo sử sách và truyền thuyết, sau khi lãnh đạo cuộc khởi nghĩa Lam Sơn đánh thắng quân Minh, lập nên triều Hậu Lê, vua Lê Thái Tổ đã hoàn trả thanh gươm Thuận Thiên cho Rùa Vàng tại hồ Hoàn Kiếm. Từ đó, hồ mang tên Hồ Hoàn Kiếm (hay Hồ Gươm), trở thành biểu tượng của khát vọng hòa bình và nền độc lập dân tộc. Tượng đồng vua Lê Thái Tổ được dựng năm 1896, cao khoảng 1,2m, thể hiện nhà vua trong tư thế uy nghiêm, tay phải cầm kiếm, tay trái chống hông. Toàn bộ khu di tích gồm cổng, sân vườn, nhà Phương đình và tượng đài, hài hòa với cảnh quan hồ Gươm. Năm 2000, công trình được trùng tu, tôn tạo nhân dịp kỷ niệm 990 năm Thăng Long – Hà Nội. Theo: Hà Nội Danh thắng và Di tích

Hà Nội

395 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Đình Quán La

Đình Quán La

Đình Quán La – Di tích lịch sử gắn với hầm ngầm cổ bí ẩn. Đình Quán La tọa lạc tại phường Tây Hồ, Hà Nội, là một ngôi đình cổ có lịch sử lâu đời của vùng ven Hồ Tây. Theo Trang thông tin điện tử Tây Hồ 360, đình còn có tên gọi Quán Già La, Quán Khai Nguyên hay Quán Chùa Hang, thờ Thành hoàng làng với nhiều đạo sắc phong từ thời Lê và thời Nguyễn, trong đó sắc phong sớm nhất có niên đại năm 1653. Cùng với chùa Khai Nguyên, đình Quán La đã được xếp hạng Di tích lịch sử, kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia năm 1992. Ngôi đình nổi bật với kiến trúc truyền thống, không gian cổ kính cùng nhiều cây cổ thụ hàng trăm năm tuổi. Đây cũng là địa điểm Chủ tịch Hồ Chí Minh hai lần về thăm vào các năm 1958 và 1964, đồng thời từng là nơi đóng quân của lực lượng bảo vệ Thủ đô trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ. Điểm đặc biệt của đình Quán La là phía dưới hậu cung còn tồn tại Động Thông Thiền – một hầm ngầm cổ được xây dựng bằng gạch vòm. Theo Tây Hồ 360, công trình này được cho là có từ thời Lý. Một số giả thuyết cho rằng đây từng là nơi luyện đan của Đạo giáo, trong khi các nhà khảo cổ nhận định có thể là một ngôi mộ táng thời Hán. Đến nay, nguồn gốc và công năng của hầm ngầm vẫn chưa được xác định, tạo nên nét huyền bí và sức hấp dẫn riêng cho di tích. Với giá trị lịch sử, kiến trúc và những dấu tích khảo cổ độc đáo, đình Quán La không chỉ là nơi sinh hoạt tín ngưỡng của cộng đồng mà còn là điểm đến giúp du khách tìm hiểu về lịch sử, văn hóa và những bí ẩn còn lưu giữ giữa lòng Thủ đô. Nguồn: Theo Trang thông tin điện tử Tây Hồ 360.

Hà Nội

743 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Khu tưởng niệm Chiến thắng Thượng Đức

Khu tưởng niệm Chiến thắng Thượng Đức

Khu tưởng niệm Chiến thắng Thượng Đức – Địa chỉ đỏ giữa miền đất anh hùng. Khu tưởng niệm Chiến thắng Thượng Đức nằm tại xã Đại Lãnh, thành phố Đà Nẵng, là nơi ghi dấu chiến thắng Thượng Đức vang dội ngày 7/8/1974 – một trong những trận đánh có ý nghĩa chiến lược trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Năm 1974, Thượng Đức là căn cứ quân sự kiên cố của chính quyền Sài Gòn, được mệnh danh là "cánh cửa thép" bảo vệ phía tây Đà Nẵng. Sau 10 ngày chiến đấu quyết liệt, quân và dân ta đã làm chủ cứ điểm vào ngày 7/8/1974, mở toang tuyến phòng thủ quan trọng của đối phương. Chiến thắng không chỉ tạo bước ngoặt trên chiến trường Quảng Nam mà còn góp phần quan trọng để Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương hoạch định chiến lược, tiến tới cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước. Để tưởng nhớ các anh hùng liệt sĩ đã anh dũng hy sinh, Khu tưởng niệm Chiến thắng Thượng Đức được đầu tư xây dựng với quy mô khang trang trên nền quận lỵ Thượng Đức cũ. Công trình gồm tượng đài chiến thắng bằng đá granite, sân hành lễ, khuôn viên cây xanh cùng hệ thống hầm hào, lô cốt được bảo tồn, tái hiện một phần chiến trường năm xưa. Tượng đài cao hơn 18 m, hướng về phía Ái Nghĩa – Đà Nẵng, thể hiện khí thế tiến công và khát vọng hòa bình của dân tộc. Nguồn: Báo và Phát thanh, Truyền hình Đà Nẵng.

Đà Nẵng

323 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Khu di tích vụ thảm sát Vĩnh Trinh

Khu di tích vụ thảm sát Vĩnh Trinh

Khu di tích vụ thảm sát Vĩnh Trinh – Chứng tích lịch sử về tội ác chiến tranh. Khu di tích vụ thảm sát Vĩnh Trinh nằm tại xã Thu Bồn, thành phố Đà Nẵng, là nơi ghi dấu một trong những vụ thảm sát đau thương nhất ở Quảng Nam trong thời kỳ đầu sau Hiệp định Giơnevơ năm 1954. Đêm 21/1/1955 (tức đêm 29 rạng ngày 30 Tết Ất Mùi), chính quyền Mỹ - Diệm đã sát hại dã man 38 cán bộ, chiến sĩ và đồng bào yêu nước tại đập Vĩnh Trinh nhằm đàn áp phong trào cách mạng. Các nạn nhân bị tra tấn, trói đá rồi dìm xuống lòng hồ để phi tang. Tội ác này đã gây chấn động dư luận trong nước và quốc tế, trở thành biểu tượng về sự tàn bạo của chế độ Mỹ - Diệm cũng như tinh thần bất khuất của những người con yêu nước. Sau ngày đất nước thống nhất, Đài tưởng niệm Vĩnh Trinh được xây dựng ngay gần nơi xảy ra vụ thảm sát. Công trình nổi bật với tượng đài người chiến sĩ hiên ngang, hồ nước có 38 bông sen tượng trưng cho 38 nạn nhân, trong đó một búp sen chưa nở tưởng nhớ người phụ nữ đang mang thai đã hy sinh. Không gian trang nghiêm giữa đồi thông và hồ nước vừa là nơi tri ân các anh hùng liệt sĩ, vừa góp phần giáo dục truyền thống yêu nước cho các thế hệ hôm nay. Với những giá trị lịch sử đặc biệt, Địa điểm vụ thảm sát Vĩnh Trinh đã được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xếp hạng Di tích lịch sử quốc gia theo Quyết định số 309/QĐ-BVHTTDL ngày 26/01/2011. Ngày nay, nơi đây là "địa chỉ đỏ" thu hút nhiều đoàn khách, học sinh, sinh viên và du khách đến dâng hương, tìm hiểu lịch sử và tưởng nhớ những người đã hy sinh vì độc lập, tự do của dân tộc. Nguồn: Trang Thông tin điện tử xã Thu Bồn

Đà Nẵng

568 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Mộ Phạm Phú Thứ

Mộ Phạm Phú Thứ

Mộ Phạm Phú Thứ – Di tích ghi dấu nhà canh tân tiêu biểu thế kỷ XIX. Mộ Phạm Phú Thứ tọa lạc tại xã Gò Nổi, thành phố Đà Nẵng (theo địa giới hành chính mới), là nơi an nghỉ của danh nhân Phạm Phú Thứ (1821–1882) – vị đại thần triều Nguyễn, nhà ngoại giao, nhà văn hóa và là một trong những người tiên phong đề xướng tư tưởng canh tân đất nước trong thế kỷ XIX. Sinh ra tại vùng đất Quảng Nam xưa, Phạm Phú Thứ nổi tiếng thông minh, học rộng, đỗ đạt cao và từng đảm nhiệm nhiều chức vụ quan trọng dưới triều vua Thiệu Trị và Tự Đức. Ông cùng Nguyễn Trường Tộ được xem là những nhà tư tưởng cải cách tiêu biểu với nhiều đề xuất về phát triển kinh tế, khoa học kỹ thuật, giáo dục, ngoại giao và thương mại nhằm đưa đất nước phát triển, tăng cường nội lực trước nguy cơ xâm lược của thực dân Pháp. Trong suốt cuộc đời làm quan, Phạm Phú Thứ luôn được biết đến là vị quan thanh liêm, chính trực, tận tụy vì dân. Ông từng tham gia phái bộ sang Pháp và Tây Ban Nha năm 1863, từ đó ghi chép nhiều tư liệu quý trong Tây hành nhật ký, đồng thời để lại nhiều tác phẩm có giá trị về lịch sử, văn hóa và tư tưởng cải cách, góp phần quan trọng vào kho tàng di sản học thuật Việt Nam. Sau khi qua đời năm 1882, ông được triều đình truy tặng hàm Nhất phẩm và ghi nhận những cống hiến to lớn đối với đất nước. Mộ Phạm Phú Thứ ngày nay không chỉ là nơi tưởng niệm một danh nhân văn hóa mà còn là địa chỉ giáo dục truyền thống yêu nước, tinh thần đổi mới và khát vọng phát triển dân tộc. Nguồn: Cục Di sản văn hóa

Đà Nẵng

699 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Căn cứ cách mạng Rừng Kiến An

Căn cứ cách mạng Rừng Kiến An

Rừng Kiến An – Địa chỉ đỏ cách mạng Rừng lịch sử Kiến An tọa lạc tại xã An Lập, huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương cũ bây giờ là Thành phố Hồ Chí Minh, có diện tích khoảng 245 ha. Với cảnh quan thiên nhiên xanh mát cùng bề dày truyền thống cách mạng, nơi đây là một trong những căn cứ kháng chiến tiêu biểu của vùng Đông Nam Bộ, đồng thời là điểm tham quan về nguồn mang nhiều ý nghĩa. Trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, rừng Kiến An giữ vai trò là căn cứ chiến lược của nhiều đơn vị cách mạng. Nhờ địa hình rừng già hiểm trở, nằm giữa sông Sài Gòn và sông Thị Tính, nơi đây trở thành địa điểm trú quân, bảo vệ cơ quan đầu não, huấn luyện lực lượng và là bàn đạp cho nhiều trận đánh quan trọng tiến về Sài Gòn. Rừng Kiến An cũng từng là căn cứ của lực lượng an ninh tỉnh Thủ Dầu Một, góp phần bảo vệ vùng giải phóng và hỗ trợ hiệu quả cho phong trào đấu tranh cách mạng. Ngày nay, di tích đã được đầu tư xây dựng nhiều hạng mục như cổng chào, nhà trưng bày truyền thống, khu tái hiện hầm chiến đấu và hệ thống cây xanh phục vụ tham quan, học tập. Năm 2004, căn cứ cách mạng rừng Kiến An được công nhận là Di tích lịch sử cấp tỉnh, trở thành địa chỉ đỏ giáo dục truyền thống yêu nước và lòng tự hào dân tộc cho các thế hệ. Nguồn: Cổng Thông tin điện tử tỉnh Bình Dương (Thành phố Hồ Chí Minh)

TP Hồ Chí Minh

256 lượt xem

Xếp hạng : Đang cập nhật

Mở

Di tích nhà số 8

Di tích nhà số 8

Di tích Nhà số 8 phố Chính Cai, phố Kỳ Lừa, phường Hoàng Văn Thụ, thành phố Lạng Sơn là nơi đồng chí Hoàng Văn Thụ trọ học và hoạt động cách mạng từ năm 1923 – 1927. Đồng chí Hoàng Văn Thụ là người dân tộc Tày, sinh ngày 4/11/1909 tại thôn Phạc Lạn, tổng Nhân Lý, châu Văn Uyên (nay là thôn Nhân Hòa, xã Hoàng Văn Thụ, huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn). Đồng chí sinh ra trong một gia đình có truyền thống yêu nước, lao động cần cù và hiếu học. Là một thanh niên yêu nước có chí hướng, đồng chí đã tham gia hoạt động cách mạng từ rất sớm và đã cống hiến trọn đời mình cho cách mạng. Đồng chí cũng là tấm gương sáng ngời về tinh thần yêu nước, ý chí vượt qua mọi hoàn cảnh để thực hiện những mục tiêu cao cả của Đảng, của dân tộc. Để ghi nhớ công lao của đồng chí Hoàng Văn Thụ, các cấp, ngành trên địa bàn tỉnh đã quan tâm, chú trọng công tác xây dựng, tu sửa các điểm di tích cách mạng và các công trình văn hoá liên quan đến đồng chí, trong đó có di tích Nhà số 8 phố Chính Cai, phường Hoàng Văn Thụ, thành phố Lạng Sơn. Đây là nơi đồng chí Hoàng Văn Thụ ở trọ trong quãng thời gian theo học trường Pháp – Việt (từ năm 1923 đến năm 1927). Tại đây, ngoài công việc học tập, đồng chí đã soạn thảo một số truyền đơn cũng như khẩu hiệu có nội dung vận động quần chúng đấu tranh giành cơm ăn, áo mặc, giành tự do dân chủ và chống chế độ thực dân, phong kiến áp bức. Ngôi nhà trọ gồm 2 tầng đã được phục chế nguyên gốc gồm khu nhà chính và khu vực sân với diện tích gần 200 m2. Sau nhiều lần tu bổ, tôn tạo, hiện nay ngôi nhà vẫn lưu giữ được nhiều hiện vật gắn liền với cuộc sống sinh hoạt của đồng chí Hoàng Văn Thụ và giữ nguyên về mặt kiến trúc cũng như cách bài trí. Hiện nay, nơi đây đã trở thành một “bảo tàng nhỏ” trưng bày về quãng thời gian hoạt động cách mạng của đồng chí Hoàng Văn Thụ với hơn 50 hình ảnh, tư liệu và hiện vật, tiêu biểu như: chiếc giường, nồi đồng, chậu đồng, khung xe đạp, bộ quần áo chàm đồng chí Hoàng Văn Thụ sử dụng trong thời gian hoạt động cách mạng… Theo: Tỉnh đoàn Lạng Sơn

Lạng Sơn

742 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Đình Hoành Sơn

Đình Hoành Sơn

Đình Hoành Sơn – Kiệt tác kiến trúc gỗ bên dòng Lam Giang. Tọa lạc tại xã Nam Đàn, tỉnh Nghệ An (trước đây thuộc xã Khánh Sơn, huyện Nam Đàn), đình Hoành Sơn là một trong những ngôi đình cổ tiêu biểu của xứ Nghệ, nổi tiếng với nghệ thuật kiến trúc và điêu khắc gỗ đặc sắc. Đình được xây dựng vào năm 1763 dưới thời vua Lê Hiển Tông và hoàn thành vào năm 1764. Đây là nơi thờ Uy Minh Vương Lý Nhật Quang – con trai thứ tám của vua Lý Thái Tổ, vị danh thần có nhiều công lao trong việc phát triển vùng Nghệ An. Đình Hoành Sơn được xây dựng trên khuôn viên rộng khoảng 2.500 m², bên hữu ngạn sông Lam. Công trình gồm 7 gian, 8 vì, với 32 cột gỗ lim lớn, kết cấu theo lối chồng diêm truyền thống, mái lợp ngói âm dương. Trải qua hơn 260 năm, ngôi đình vẫn giữ được dáng vẻ uy nghiêm cùng hệ thống khung gỗ bền vững, thể hiện trình độ kỹ thuật xây dựng tài hoa của các nghệ nhân xưa. Điểm nổi bật nhất của đình Hoành Sơn là nghệ thuật chạm khắc gỗ đạt đến trình độ tinh xảo. Hàng trăm mảng chạm trên kèo, cột, con rường và ván dong khắc họa sinh động các đề tài tứ linh, tứ quý, lưỡng long chầu nguyệt, trúc điểu, mai điểu, cùng nhiều hoạt cảnh đời sống như cày cấy, đánh cá, chèo thuyền, lễ hội và các điển tích dân gian. Những mảng chạm được thể hiện bằng kỹ thuật chạm bong kênh, chạm lộng mềm mại, vừa mang giá trị nghệ thuật, vừa phản ánh đời sống văn hóa của cư dân vùng sông Lam thế kỷ XVIII. Với giá trị nổi bật về lịch sử, kiến trúc và nghệ thuật điêu khắc, đình Hoành Sơn được xếp hạng Di tích quốc gia đặc biệt. Theo : Báo và Phát thanh, Truyền hình Nghệ An

Nghệ An

710 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia đặc biệt

Mở

Di tích lịch sử - nghệ thuật Chùa Thọ Lão

Di tích lịch sử - nghệ thuật Chùa Thọ Lão

Di tích lịch sử - nghệ thuật Chùa Thọ Lão. Chùa Thọ Lão có tên chữ là “Thanh Nhàn tự”, toạ lạc tại số 20 phố Thọ Lão, phường Đồng Nhân, quận Hai Bà Trưng nay là phường Hai Bà Trưng, TP Hà Nội. Chùa còn có tên Nôm là chùa Bún, sở dĩ có tên gọi như vậy là bởi làng Thọ Lão xưa có nghề làm bún. Chùa Thọ Lão được khởi dựng từ thế kỷ XVIII. Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, chùa bị đạn pháo tàn phá cháy trụi chỉ còn lại 3 gian nhà thờ Mẫu. Sau ngày giải phóng Thủ đô 1954, chính quyền, sư trụ trì cùng toàn thể nhân dân phục dựng lại ngôi chùa trên vị trí cũ. Trải qua nhiều lần trùng tu vào năm Canh Ngọ (1990), năm Mậu Dần (1998) và lần tu bổ gần đây nhất diễn ra vào năm Nhâm Thìn (2012) quy mô kiến trúc được giữ nguyên vẹn đến hiện nay. Hiện nay, chùa chính có bố cục kiến trúc kiểu chữ “nhị” với quy mô 2 tầng 8 mái bề thế gồm: Trai đường, ngôi Đại hùng bảo điện, ban thờ Địa Tạng, nhà thờ Tổ, nhà thờ Mẫu, nhà Tứ ân và phòng Kinh sách... Trong chùa còn lưu giữ được bộ tượng Tam thế Thường trụ Diệu pháp thân, tượng các đức Phật thế tôn, A Di Đà, Quan Thế Âm và Đại Thế Chí Bồ tát, Quan Âm thiên thủ thiên nhãn, tòa Cửu long và tượng Thích Ca sơ sinh... Hai ban thờ Đức Ông và Thánh Tăng được bố trí ở hai gian hồi nhà Tam bảo. Phần lớn các pho tượng này đều được tạo tác dưới thời Nguyễn thế kỷ XIX. Các di vật được tạo tác bằng chất liệu gỗ như: hoành phi, câu đối, hương án... với đề tài chủ yếu là tứ linh, tứ quý - những linh vật của vũ trụ tượng trưng cho sự vận hành chuyển đổi của tạo vật, đồng thời thể hiện sự khát vọng của con người đối với cuộc sống thiên nhiên. Đặc sắc nhất, là quả chuông đồng thời Tây Sơn niên hiệu Cảnh Thịnh 6 (1798) cho biết sự ra đời sớm của di tích. Ngoài ra, trong giai đoạn năm 1936 - 1944, chùa Thọ Lão là nơi hoạt động của các tổ chức yêu nước thôn Đồng Nhân như: Hội Người già, Hội Phụ nữ, Hội Thanh niên... Những năm toàn quốc kháng chiến, đặc biệt trong “Hà Nội - 60 ngày đêm khói lửa”, chùa là nơi nuôi giấu cán bộ Việt Minh và địa điểm đóng quân, tập kết, trung chuyển thương binh của Trung đoàn bảo vệ Thủ đô - Liên khu I. Theo: 360° di tích lịch sử - văn hóa phường Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội

Hà Nội

296 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp tỉnh

Mở

Di tích lịch sử Chùa Hương Tuyết

Di tích lịch sử Chùa Hương Tuyết

Di tích lịch sử Chùa Hương Tuyết. Chùa Hương Tuyết tọa lạc tại ngõ 205, phố Bạch Mai, phường Hai Bà Trưng, Hà Nội. Trên văn bia Hậu Phật dựng năm Nhâm Tý, niên hiệu Duy Tân thứ 6 (1912) ghi rõ lịch sử xây dựng ngôi chùa này như sau: “Ông Nguyễn Hữu Quang ở phố Hàng Đào, phường Đồng Lạc, cùng vợ là Trương Thị Điều, phát tâm mua một khu vườn tư tại địa phận phường Bạch Mai, huyện Hoàn Long để xây dựng chùa thờ Phật, cùng tô tượng, đúc chuông chùa. Đến năm Tân Hợi (1911), tháng 10, ngày lành chùa xây xong, đặt tên là “Hương Tuyết Tự” (Chùa Hương Tuyết)”. Công trình chùa bao gồm: Cổng, chùa chính, nhà Tổ, nhà Mẫu và nhà khách. Chùa chính bao gồm: Tiền đường; Trung đường và Thượng điện. Đáng quan tâm nhất của chùa là hệ thống tượng Phật được sắp đặt cao dần tại nhà thượng điện. Toàn bộ hệ thống trên 50 pho tượng tròn, được tạo tác vào khoảng nửa đầu thế kỷ XX. Ngoài ra, chùa còn lưu giữ nhiều di vật quí như: 3 chuông đồng; 3 bia đá thời Nguyễn có nội dung ghi việc xây dựng chùa và những người công đức; và các di vật chất liệu gỗ gồm: Hoành phi, câu đối, y môn, của võng, cuốn thư, hương án, long ngai, khám thờ… chạm khắc các đề tài tứ linh, tứ quí, rồng chầu, hổ phù… tất cả được sơn son thếp vàng, có niên đại thế kỷ XIX - XX. Bên cạnh đó, chùa còn là di tích lịch sử Cách mạng, có đóng góp to lớn trong cuộc kháng chiến chống Pháp. Tại cổng chùa, có gắn tấm bia đá khắc năm 1938 ghi: “Khu vực chùa Hương Tuyết đã là nơi liên lạc của tổ chức Việt Nam Thanh Niên cách mạng đồng chí hội năm 1929 và là trụ sở Ban chỉ huy cuộc bãi công đầu tiên của công nhân xưởng Avia Hà Nội (từ 28/5 đến 10/6/1929)”. Di tích chùa Hương Tuyết và cuộc đấu tranh của công nhân Avia Hà Nội là động lực trực tiếp thúc đẩy làn sóng đấu tranh cách mạng của nhân dân ta, dẫn tới sự ra đời của tổ chức Đông Dương Cộng sản Đảng (17/6/1929) - hạt nhân chủ yếu của Đảng Cộng sản Việt Nam, thành lập ngày 3/2/1930. Theo: 360° di tích lịch sử - văn hóa phường Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội

Hà Nội

297 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Chùa Ngọc Đới

Chùa Ngọc Đới

Chùa Ngọc Đới – Ngôi cổ tự lưu giữ dấu ấn lịch sử và nghệ thuật xứ Thanh Chùa Ngọc Đới tọa lạc tại xã Đông Thành, tỉnh Thanh Hóa, là một trong những ngôi chùa cổ tiêu biểu của vùng đất xứ Thanh. Được xây dựng từ thế kỷ XIII dưới thời Trần, chùa gắn với truyền thuyết vua Trần Nhân Tông ban đai ngọc để dựng chùa sau khi thị sát phòng tuyến chống quân Nguyên Mông. Từ đó, ngôi chùa mang tên Ngọc Đái tự (nay gọi là chùa Ngọc Đới), trở thành điểm sinh hoạt tín ngưỡng quan trọng của người dân địa phương. Chùa được xây dựng theo lối kiến trúc truyền thống "tiền chùa hậu phủ", với chính điện hình chữ Đinh gồm tiền đường năm gian và chính tẩm ba gian. Công trình được làm bằng gỗ lim, mái lợp ngói mũi hài, nổi bật giữa không gian xanh mát với hồ bán nguyệt và cây thông cổ thụ hàng trăm năm tuổi, tạo nên vẻ đẹp thanh tịnh, cổ kính. Không chỉ có giá trị kiến trúc, chùa Ngọc Đới còn lưu giữ nhiều di sản nghệ thuật quý như 32 pho tượng cổ, trong đó có một tượng đồng và 31 tượng gỗ được chạm khắc tinh xảo. Bên cạnh đó là hệ thống hoành phi, câu đối, bia đá, chuông đồng, kiệu Long Đình, kiệu Hoa Bành và nhiều hiện vật thờ tự có giá trị, phản ánh nghệ thuật điêu khắc truyền thống đặc sắc của Việt Nam. Trong suốt chiều dài lịch sử, chùa Ngọc Đới còn gắn liền với các phong trào yêu nước. Cuối thế kỷ XIX, nơi đây từng là căn cứ của nghĩa quân Ba Đình trong phong trào Cần Vương. Những năm trước Cách mạng Tháng Tám, chùa là cơ sở nuôi giấu cán bộ cách mạng và tích cực tham gia các hoạt động kháng chiến, góp phần vào sự nghiệp đấu tranh giành độc lập dân tộc. Nguồn tham khảo: Báo và Phát thanh, Truyền hình Thanh Hoá

Thanh Hóa

778 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Chùa Quỳnh Lâm

Chùa Quỳnh Lâm

Chùa Quỳnh Lâm – Danh lam cổ tự gắn với Thiền phái Trúc Lâm Nằm tại phường Tràng An, tỉnh Quảng Ninh (trước đây thuộc thị xã Đông Triều), chùa Quỳnh Lâm là một trong những ngôi chùa cổ nổi tiếng của vùng Đông Bắc Việt Nam. Được khởi dựng từ thời Lý và phát triển rực rỡ dưới thời Trần, chùa từng là trung tâm Phật giáo lớn của Thiền phái Trúc Lâm, gắn liền với nhiều dấu ấn lịch sử và văn hóa đặc sắc. Trải qua nhiều lần trùng tu dưới các triều Trần, Lê và Nguyễn, chùa vẫn lưu giữ nhiều giá trị quý báu. Tấm bia đá “Trùng tu tái tạo Tiên Du sơn đệ nhất Quỳnh Lâm tự” trước tam quan là minh chứng cho bề dày lịch sử hàng nghìn năm của ngôi chùa và được xem là một trong những bia đá lớn còn lại từ thời Lý ở Quảng Ninh. Sau những biến động của chiến tranh và thời gian, chùa từng trở thành phế tích vào giữa thế kỷ XX trước khi được phục dựng trên nền cũ. Ngày nay, chùa Quỳnh Lâm là một trong những ngôi chùa gỗ lớn của miền Bắc với kiến trúc bề thế, nổi bật là ba tòa điện: Thích Ca Phật điện, Di Lặc Phật điện và Lưu Ly Phật điện. Đặc biệt, Lưu Ly Phật điện tôn trí tượng Phật ngọc Thích Ca Mâu Ni nặng khoảng 3,5 tấn, tạo điểm nhấn cho toàn bộ quần thể. Không chỉ sở hữu kiến trúc ấn tượng, chùa Quỳnh Lâm còn lưu giữ nhiều di vật có giá trị như chuông đồng thời Nguyễn, các chân tảng, bậc thềm đá thời Lý, Trần, Lê và khu vườn tháp cổ. Đây cũng là nơi gắn với Thiền sư Pháp Loa – vị Tổ thứ hai của Thiền phái Trúc Lâm, từng xây dựng tháp an trí xá lợi của Phật hoàng Trần Nhân Tông. Tháp Tuệ Đăng của Thiền sư Chân Nguyên cũng là một di tích tiêu biểu còn tồn tại trong khuôn viên chùa. Ngày nay, với không gian thanh tịnh, kiến trúc uy nghi và những giá trị lịch sử, văn hóa đặc sắc, chùa Quỳnh Lâm không chỉ là điểm đến tâm linh quan trọng của Quảng Ninh mà còn là nơi giúp du khách tìm hiểu về lịch sử Phật giáo Việt Nam và Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử, góp phần gìn giữ bản sắc văn hóa dân tộc. Nguồn tham khảo: Báo Quảng Ninh điện tử.

Quảng Ninh

765 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Chùa Hoa Nghiêm

Chùa Hoa Nghiêm

Chùa Hoa Nghiêm – Cổ tự lưu giữ dấu ấn mỹ thuật thời Mạc. Tọa lạc tại thôn Phương Bản, xã Phụng Châu, huyện Chương Mỹ, nay là thôn Phù Yên, Phú Nghĩa, Hà Nội, chùa Hoa Nghiêm (Hoa Nghiêm tự) là một ngôi cổ tự có lịch sử lâu đời, gắn bó mật thiết với đời sống văn hóa, tín ngưỡng của người dân địa phương. Nằm trong vùng đất xứ Đoài giàu truyền thống lịch sử, ngôi chùa không chỉ là nơi thờ Phật linh thiêng mà còn là di tích lưu giữ nhiều giá trị văn hóa, nghệ thuật đặc sắc. Chùa được xây dựng theo lối kiến trúc truyền thống của đồng bằng Bắc Bộ với kết cấu gỗ, mái ngói cổ và không gian thanh tịnh dưới những cây cổ thụ. Đặc biệt, chùa nằm liền kề đình Phương Bản, tạo thành quần thể di tích phản ánh rõ nét đời sống tín ngưỡng của cư dân nông nghiệp xưa. Giá trị nổi bật của chùa Hoa Nghiêm là hệ thống cổ vật quý hiếm có niên đại từ thời Mạc (thế kỷ XVI). Trong đó, nổi bật là các pho tượng Phật cổ mang phong cách điêu khắc tinh xảo, thể hiện vẻ đẹp mềm mại, gần gũi của nghệ thuật Phật giáo Việt Nam. Chùa còn lưu giữ tấm bia đá thời Mạc với nội dung ghi chép về quá trình xây dựng, trùng tu chùa cùng những người có công cúng tiến, là nguồn tư liệu quý phục vụ nghiên cứu lịch sử, văn hóa và Hán Nôm. Trải qua nhiều biến cố lịch sử, chùa Hoa Nghiêm vẫn được gìn giữ và tôn tạo, trở thành điểm đến tâm linh, văn hóa hấp dẫn của huyện Chương Mỹ. Với những giá trị lịch sử, kiến trúc và nghệ thuật đặc sắc, ngôi cổ tự góp phần bảo tồn di sản văn hóa của vùng xứ Đoài và là địa chỉ ý nghĩa đối với du khách, Phật tử cũng như các nhà nghiên cứu. Nguồn tham khảo: Viện Nghiên cứu Hán Nôm

Hà Nội

787 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp tỉnh

Mở

Chùa Tản Viên

Chùa Tản Viên

Chùa Tản Viên – Ngôi cổ tự linh thiêng giữa núi rừng Ba Vì. Tọa lạc trên sườn núi Ba Vì, thuộc xã Minh Quang, Hà Nội, chùa Tản Viên (Tản Viên Sơn Quốc Tự) là một ngôi cổ tự gắn với vùng đất linh thiêng của núi Tản. Theo tư liệu của nhà chùa, chùa có lịch sử từ thời An Dương Vương. Trải qua nhiều biến cố lịch sử, ngôi chùa từng bị hư hại và trở thành phế tích trước khi được nhân dân địa phương phục dựng từ năm 1993. Năm 2008, Thượng tọa Thích Đạo Thịnh được bổ nhiệm trụ trì và cùng tăng ni, Phật tử từng bước xây dựng, phát triển chùa thành một trung tâm tu học, hoằng pháp của khu vực Ba Vì. Sau gần hai thập kỷ, chùa đã được xây dựng khang trang với nhiều hạng mục như Tam Bảo, nhà Tổ, điện Quan Âm Thiên Thủ Thiên Nhãn, nhà Pháp hội, tượng Đại Thông Trí Thắng, động – giếng Quan Âm cùng nhiều công trình tâm linh hài hòa giữa thiên nhiên núi rừng. Không chỉ là nơi thờ tự, chùa Tản Viên còn thường xuyên tổ chức các khóa tu dành cho Phật tử, thanh thiếu niên và sinh viên, góp phần lan tỏa những giá trị từ bi, trí tuệ và đạo đức của Phật giáo. Với cảnh quan thanh tịnh, kiến trúc đặc sắc và không gian linh thiêng giữa núi Ba Vì, chùa Tản Viên ngày nay là điểm đến tâm linh, văn hóa hấp dẫn đối với du khách và Phật tử thập phương. Nguồn: Báo Đại biểu Nhân dân.

Hà Nội

778 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Chùa Vinh Quang

Chùa Vinh Quang

Chùa Vinh Quang – Ngôi chùa cổ lưu giữ sắc phong Thái thượng Lão quân độc đáo. Chùa Vinh Quang tọa lạc tại khu Phù Nội, xã Thanh Miện, thành phố Hải Phòng (trước đây thuộc thị trấn Thanh Miện, huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương). Ngôi chùa có lịch sử hơn 350 năm, là một trong những trung tâm sinh hoạt văn hóa, tín ngưỡng lâu đời của địa phương. Trải qua nhiều lần trùng tu, đặc biệt sau khi được phục dựng trên nền cũ vào năm 2004, chùa vẫn giữ vai trò là điểm sinh hoạt tâm linh quan trọng của người dân. Giá trị nổi bật của chùa Vinh Quang nằm ở việc lưu giữ 13 đạo sắc phong cổ, gồm 5 sắc thời Lê và 8 sắc thời Nguyễn, có niên đại từ thế kỷ XVII đến đầu thế kỷ XX. Đặc biệt, đạo sắc phong ban năm 1657 dưới niên hiệu Thịnh Đức là một tư liệu quý hiếm khi phong tặng Thái thượng Lão quân (Lý Lão Đam) – vị thần của Đạo giáo. Đây là trường hợp ít gặp trong hệ thống sắc phong ở Việt Nam, phản ánh sự giao thoa giữa Đạo giáo với tín ngưỡng dân gian của người Việt qua nhiều thế kỷ. Bên cạnh giá trị lịch sử, chùa còn lưu giữ kiến trúc truyền thống với các hạng mục như tam bảo, nhà tổ và nhà mẫu. Trong thời kỳ kháng chiến, chùa từng được sử dụng làm lớp học và trạm xá phục vụ nhân dân, góp phần khẳng định vai trò gắn bó của di tích với đời sống cộng đồng. Ngày nay, chùa Vinh Quang không chỉ là nơi thờ Phật và thực hành tín ngưỡng truyền thống mà còn là địa chỉ có ý nghĩa nhân văn khi chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt. Với những giá trị về lịch sử, văn hóa, tôn giáo và xã hội, chùa Vinh Quang là một di tích tiêu biểu, góp phần bảo tồn và phát huy di sản văn hóa của vùng đồng bằng Bắc Bộ. Theo: Tạp chí điện tử Kinh tế Chứng khoán Việt Nam

Hải Phòng

809 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp tỉnh

Mở

Đền Hào Kiệt

Đền Hào Kiệt

Đền Hào Kiệt – Di tích lịch sử gắn với danh tướng Phan Công Tích Đền Hào Kiệt tọa lạc tại xã Hợp Minh, tỉnh Nghệ An, là một di tích lịch sử có giá trị, gắn liền với đời sống văn hóa, tín ngưỡng của người dân địa phương. Ngôi đền được xây dựng để thờ Thái úy Lai Quốc công Phan Công Tích, vị danh tướng có nhiều công lao trong sự nghiệp trung hưng nhà Lê. Ngoài ra, đền còn phối thờ Kế Quận công Phan Công Ngạn, Cao Sơn Cao Các và một số nhân vật được nhân dân tôn kính. Theo các tư liệu lịch sử và gia phả dòng họ Phan, Phan Công Tích (còn gọi là Phan Hoằng Tích) sinh ra trong một gia đình nhiều đời làm quan ở vùng Yên Thành. Trong thời kỳ Nam – Bắc triều, ông sớm hưởng ứng phong trào phò Lê chống nhà Mạc, góp công đưa vua Lê Trang Tông trở lại ngôi vị, trở thành một trong những vị tướng trụ cột của triều Lê Trung Hưng. Ông trực tiếp chỉ huy nhiều trận đánh quan trọng tại Thanh Hóa, Nghệ An và được giao kinh lý vùng Thuận Hóa nhằm ổn định tình hình biên cương. Với những đóng góp lớn lao, ông được phong tước Lai Quốc công, giữ chức Thái úy và nhiều lần được các triều Lê, Nguyễn ban sắc phong. Sau khi Thái úy Phan Công Tích qua đời, triều đình ban đất để nhân dân lập đền thờ tưởng niệm. Trải qua nhiều thế kỷ, Đền Hào Kiệt không chỉ là nơi thờ phụng vị anh hùng có công với đất nước mà còn là trung tâm sinh hoạt văn hóa, tín ngưỡng của cộng đồng. Trong tâm thức người dân, ông là vị thần linh thiêng luôn che chở, phù hộ cho cuộc sống bình yên, mùa màng thuận lợi và quốc thái dân an. Năm 2023, Đền Hào Kiệt được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xếp hạng Di tích lịch sử cấp Quốc gia, ghi nhận những giá trị tiêu biểu về lịch sử, văn hóa và tín ngưỡng của di tích. Hằng năm, từ ngày 8 đến 12 tháng Hai âm lịch, địa phương tổ chức Lễ hội Đền Hào Kiệt để tưởng nhớ công lao của Thái úy Phan Công Tích. Phần lễ diễn ra trang nghiêm với các nghi thức rước kiệu, dâng hương và tế lễ truyền thống, cầu cho quốc thái dân an, mưa thuận gió hòa. Phần hội sôi nổi với nhiều hoạt động văn hóa, thể thao và trò chơi dân gian như bóng chuyền, kéo co, đẩy gậy, nhảy bao bố..., góp phần bảo tồn bản sắc văn hóa và tăng cường tinh thần đoàn kết cộng đồng. Theo: Cổng Thông tin điện tử xã Hợp Minh, tỉnh Nghệ An.

Nghệ An

324 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Di tích nổi bật

Xem tất cả
Khu di tích Láng Le Bàu Cò

Khu di tích Láng Le Bàu Cò

Khu di tích Láng Le Bàu Cò tọa lạc tại xã Tân Nhựt, huyện Bình Chánh, Tp HCM. Láng Le Bàu Cò gắn liền với cuộc kháng chiến chống Pháp xâm lược vào năm 1948 với những trận đánh lớn đi vào lịch sử. Di tích Láng Le Bàu Cò được công nhận là di tích lịch sử cấp thành phố vào năm 2003. Sở dĩ được gọi tên là khu di tích Láng Le Bàu Cò vì Tên gọi của khu di tích Láng Le Bàu Cò là do người dân địa phương đặt ra. Xóm làng được thành lập cạnh những con kênh rạch chằng chịt và dòng sông. Láng Le Bàu Cò có vị trí nằm ở bên trong cánh đồng có diện tích rộng lớn và có rất nhiều tôm, cua, cá. Cùng với nhiều loài chim như vịt trời, cò, con le le, cúm núm, cồng cộc, đa đa, diệc, đỏ nách tới kiếm ăn tại đây. Vì vậy, người dân Tân Nhựt gọi với cái tên thân thuộc và mộc mạc đó là Láng Le Bàu Cò. Di tích Láng Le Bàu Cò được xem là cửa ngõ để di chuyển tới trung tâm căn cứ Vườn Thơm và tấn công cơ quan đầu não của quân địch tại Sài Gòn. Trước đây khu di tích Láng Le Bàu Cò vốn là cánh đồng lau sậy mọc um tùm. Vào ngày 15/4/1948 thực dân Pháp đưa 3 nghìn quân lính cùng nhiều vũ khí hiện đại đồng loạt tấn công khu vực Láng Le Bàu Cò nhằm tiêu diệt căn cứ Vườn Thơm. Khi đó lực lượng vũ trang cách mạng ở Láng Le - Bàu vì lực lượng nhỏ và vũ khí thô sơ tuy nhiên được sự giúp đỡ của người dân địa phương cùng với lợi thế về địa hình. Chỉ sau hơn nửa ngày đấu tranh đã chuyển sang tấn công khiến quân Pháp bị thương vong với số lượng lớn. Chiến thắng Láng Le Bàu Cò đã tiêu diệt 300 tên địch và bắt sống 30 lính đánh thuê cùng phá hủy nhiều máy móc, xe nhà binh, súng các loại của quân giặc. Tuy nhiên, về phía ta có nhiều cán bộ chiến sĩ đã anh dũng hy sinh với tuổi đời còn rất trẻ. Ngày 14/10/1966 tại Láng Le tiểu đoàn biệt động quân Việt Nam Cộng Hòa bị dân quân du khách tiêu diệt. Khu di tích Láng Le Bàu Cò có ý nghĩa lịch sử to lớn đối với người dân Sài Gòn nói riêng và cả nước nói chung. Trước lòng căm thù thực dân Pháp, quân dân Láng Le Bàu Cò đã có cuộc chiến vang lừng lịch sử và có ý nghĩa to lớn mở đầu cho phía ta và phía địch. Đối với phía ta trận đánh mở đầu cho sự anh dũng trong tư thế kháng chiến vững mạnh. Còn với quân địch đã phải lùi vào thế bỏ chiến lược và bị tiêu diệt. Thực dân Pháp không còn định hình được chiến lược đánh bại Việt Minh. Hơn thế, tại căn cứ Vườn Thơm, Láng Le Bàu Cò còn diễn ra trận chiến quyết tâm bảo vệ căn cứ của ta và đập tan mọi kế hoạch phá hoại của quân giặc. Khu di tích Láng Le Bàu Cò sau phong trào Đồng Khởi vào năm 1960 còn là hậu cần, bàn đạp của lực lượng vũ trang để giải phóng Long An - Sài Gòn - Gia Định. Để tưởng nhớ sự hy sinh của đồng bào và các chiến sĩ của ta, vào năm 1988 huyện Bình Chánh đã xây dựng công trình lịch sử tại vùng đất Láng Le Bàu Cò với diện tích rộng 1000m2. Nguồn: Báo thông tin điện tử TP Hồ Chí Minh

TP Hồ Chí Minh

17914 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp thành phố

Mở

Di Tích Lịch Sử Nhà Lao Tân Hiệp

Di Tích Lịch Sử Nhà Lao Tân Hiệp

Nhà lao Tân Hiệp còn có tên là "Trung tâm cải huấn Tân Hiệp" tọa lạc ở khu phố 6, phường Tân Tiến, TP Biên Hòa. Di tích Nhà lao Tân Hiệp đã được Bộ Văn Hoá Thể Thao xếp hạng là di tích cấp quốc gia ngày 15-1-1994. Nhà lao Tân Hiệp là một trong sáu nhà tù lớn nhất miền Nam Việt Nam và là nhà tù lớn nhất vùng Đông Nam bộ, được xây dựng ở vị trí quân sự quan trọng, án ngữ phía đông bắc thị xã Biên Hòa. Phía trước là quốc lộ 1; phía sau là đường xe lửa Bắc - Nam. Đây là vị trí biệt lập, thuận tiện trong giao thông, dễ dàng cho việc bảo vệ, canh gác, nhận tù từ nơi khác đến và chuyển tù đi Côn Đảo, Phú Quốc... Nhà lao Tân Hiệp có diện tích 46.520m2 với 8 trại giam, trong đó có 5 trại giam những người tù cộng sản, người yêu nước. Xung quanh nhà tù được bao bọc bởi 4 lớp kẽm gai bùng nhùng với 9 lô cốt, 3 tháp canh cùng đội lính bảo vệ và hệ thống báo động tối tân. Mang tên "Trung tâm cải huấn" nhưng thực chất bên trong là kho súng, phòng xét hỏi, tra tấn với những dụng cụ hiện đại bậc nhất. Mỗi trại giam chỉ có diện tích gần 200m2 nhưng giam giữ từ 300-400 người, có lúc lên đến cả ngàn người. Đặc biệt ở đây có các phòng "cải hối", "chuồng cọp" rất nhỏ hẹp và điều kiện sinh hoạt cực kỳ khắc nghiệt, tù nhân sống chẳng khác gì trong lò thiêu xác. Chế độ ăn uống cực kỳ mất vệ sinh, bọn cai ngục mua gạo mục, cá thối dùng để bón ruộng, chiên bằng dầu luyn cho tù nhân ăn dẫn đến nhiều người bị ngộ độc. Với quyết tâm thoát khỏi nhà tù đế quốc, trở về với Đảng, với nhân dân để tiếp tục chiến đấu, giải phóng dân tộc, ngày 2-12-1956, được sự nhất trí của Liên Tỉnh ủy miền Đông, những chiến sĩ cộng sản bị "câu lưu" trong nhà lao Tân Hiệp dưới sự chỉ đạo trực tiếp của đồng chí Nguyễn Trọng Tâm (Bảy Tâm) - phụ trách Đảng ủy nhà tù và một số đồng chí khác đã bất thần làm một cuộc phá xiềng tập thể giải thoát gần 500 đồng chí, đồng bào yêu nước. Sự kiện này đã làm xôn xao cả Lầu Năm Góc. Mỹ - Diệm vội vã huy động cả quân chủ lực lẫn bảo an, dân vệ đang trấn thủ 3 tỉnh Biên Hòa, Bà Rịa, Thủ Dầu Một và hai biệt đoàn biệt động quân đến bủa lưới bao vây, truy bắt đoàn tù nhưng đều thất bại. Các đồng chí, đồng bào của ta thoát khỏi nhà lao Tân Hiệp đã được sự giúp đỡ, che chở của các cơ sở địa phương, trở về căn cứ an toàn. Trong số tù nhân vượt ngục có các đồng chí: Bảy Tâm, Hai Thông, Lý Văn Sâm... đã trở thành những hạt nhân nòng cốt cho phong trào Đồng Khởi sau này. Năm 2001, để tái hiện phần nào tội ác của Mỹ - Diệm đối với các đồng chí, đồng bào ta bị giam cầm tại nhà lao Tân Hiệp và diễn tả lại toàn bộ cuộc nổi dậy phá khám Tân Hiệp ngày 2-12-1956, Bảo tàng Đồng Nai đã tiến hành sưu tầm hình ảnh, tài liệu, hiện vật trưng bày tại di tích và làm một sa bàn để phục vụ nhu cầu nghiên cứu, tham quan của mọi tầng lớp nhân dân. Hàng ngày, di tích luôn mở cửa đón khách tham quan. Nguồn: Báo Đồng Nai Điện Tử

Đồng Nai

16421 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Đền thờ Nguyễn Hữu Cảnh

Đền thờ Nguyễn Hữu Cảnh

Đền thờ Nguyễn Hữu Cảnh còn gọi là đình Bình Kính tọa lạc bên tả ngạn sông Đồng Nai, xưa kia thuộc ấp Bình Kính, thôn Bình Hoành, tổng Trấn Biên, nay là ấp Nhị Hòa, xã Hiệp Hòa, TP Biên Hòa, đã được Bộ Văn Hoá – Thông Tin – Thể Thao & Du Lịch xếp hạng là di tích lịch sử cấp quốc gia ngày 25-3-1991. Đền thờ Nguyễn Hữu Cảnh được xây dựng vào khoảng cuối thế kỷ 18, ban đầu ngôi đền có qui mô nhỏ, vách làm bằng ván, mái ngói âm dương, cách ngôi đền hiện tại khoảng 400m về hướng Nam. Các tư liệu cho biết: ngôi đền được xây dựng lại lần đầu tiên vào năm Tự Đức thứ tư (1851); đến năm 1923, đền được tái thiết lại ở địa điểm hiện nay. Nguyễn Hữu Cảnh sinh vào năm 1650 tại Gia Miêu, huyện Tống Sơn, tỉnh Thanh Hóa trong một gia đình có nhiều bậc danh tướng đương triều. Ông là người văn võ song toàn, lập được nhiều chiến công lớn và được chúa Nguyễn tin yêu, trọng vọng. Mùa Xuân năm Mậu Dần (1698), ông vâng lệnh chúa Nguyễn vào kinh lược xứ Đàng Trong khi ấy còn rất hoang vu. Đến đất Đồng Nai, ông đặt Đại bản doanh ở Cù lao Phố (nay là xã Hiệp Hòa); lấy đất Đồng Nai làm huyện Phước Long, dựng dinh Trấn Biên, lấy xứ Sài Gòn làm huyện Tân Bình, dựng dinh Phiên Trấn, đất đai mở mang ngàn dặm. Ông chiêu mộ lưu dân đến lập nghiệp, tổ chức bộ máy hành chính từng bước có qui củ, khuyến khích khai hoang, thúc đẩy Cù lao Phố phát triển thành một trong những cảng thị sầm uất, năng động nhất đàng Trong suốt thế kỷ 18 và chính thức sáp nhập vùng đất mới phương Nam vào bản đồ Đại Việt. Sau khi kinh lược phương Nam trở về, năm sau ông lại phụng mệnh chúa Nguyễn Phúc Chu thống lĩnh đại binh dẹp vua Chân Lạp giữ vững miền biên ải phương Nam. Tháng 4 năm Canh Thìn (1700), sau khi hoàn thành sứ mệnh, trên đường trở về đến Rạch Gầm (Tiền Giang) thì ông thọ bệnh qua đời nhằm ngày 16 tháng 5 âm lịch, thọ 51 tuổi. Trên đường di quan ông về quê an táng, quan tài của ông được đình lại khu đất khi xưa ông đặt Đại bản doanh ở Cù lao Phố để cho nhân dân địa phương có dịp bái biệt ông lần cuối. Nơi đình quan đã được nhân dân địa phương xây một ngôi mộ vọng để ghi nhớ sự kiện này. Khi hay tin Nguyễn Hữu Cảnh mất, Chúa Nguyễn vô cùng thương tiếc đã phong tặng ông là Thượng đẳng công thần đặc Trấn phủ Chưởng cơ với tước: Lễ Thành Hầu và đưa bài vị của ông vào thờ tại Thái miếu. Nguồn: Báo Đồng Nai Điện Tử

Đồng Nai

14977 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Di tích chiến thắng La Ngà

Di tích chiến thắng La Ngà

Di tích chiến thắng La Ngà (tại km số 104-112 trên quốc lộ 20 đi Đà Lạt, thuộc xã Phú Ngọc, huyện Định Quán) được Bộ Văn hóa xếp hạng di tích lịch sử cấp quốc gia ngày 12-12-1986. Để cổ vũ cho chiến thắng Việt Bắc thu - đông 1947 và cũng để giáng cho kẻ thù một đòn chí mạng, Ban chỉ huy chi đội 10 đã quyết định phải tổ chức một trận đánh lớn, để quân giặc thấy rằng dân tộc Việt Nam, con người Việt Nam không dễ dàng chịu khuất phục trước bất kì một kẻ thù nào; Bằng tinh thần quả cảm và sự khôn khéo sau gần nửa năm chuẩn bị, nghiên cứu địa hình, chọn địa điểm: vào lúc 15 giờ 12 phút ngày 1/3/1948 trận chiến phục kích La Ngà bắt đầu và kết thúc vào lúc 15 giờ 57 phút cùng ngày, chỉ trong vòng 45 phút. Chiến thắng La Ngà đã làm nức lòng nhân dân Định Quán nói riêng, quân dân Đồng Nai nói chung. Đây là chiến thắng thể hiện sự mưu trí, dũng cảm của quân và dân ta làm cho địch một phen kinh hồn, bạt phía. Từ chiến thắng này lực lượng ta ngày càng thêm lớn mạnh, góp phần đánh bại kế hoạch đánh nhanh, thắng nhanh của địch, buộc chúng phải rơi vào thế bị động. Quần thể danh thắng đá Chồng, Thác Mai, sông La Ngà và Tượng đài chiến thắng La Ngà là một quần thể du lịch kì thú của Định Quán. Vẻ đẹp kỳ thú của Hòn Ba Chồng, Núi Đá Voi, Hòn Dĩa, cùng với ngôi chùa thiên nhiên dưới chân núi đá là những cụm tiêu biểu tạo thành cảnh đẹp hài hòa cho khu danh thắng Đá Chồng. Quần thể Đá Chồng Định Quán còn là nơi lưu lại những dấu tích của cuộc sống người tiền sử. Tại đây dưới các mái đá, ven các khe suối và cả các sườn dốc ven thung lũng đã phát hiện nhiều công cụ sản xuất, sinh hoạt của người xưa bằng đá, đồng, đất nung. Trong suốt cuộc kháng chiến dài 30 năm. Định Quán là một phần quan trọng của Chiến khu Đ. Đá Chồng đã chứng kiến sự hình thành, phát triển, trú quân, triển khai chiến đấu của lực lượng cách mạng. Ngày nay, một phần đất của khu danh thắng Đá Chồng Định Quán đã được sử dụng, xây dựng thành khu Trung tâm văn hóa thể thao huyện Định Quán. Tương lai không xa khu danh thắng Đá Chồng Định Quán sẽ được đầu tư tôn tạo góp phần làm cho cảnh quan thiên nhiên ngày càng tươi đẹp, là địa điểm du lịch sinh thái hấp dẫn. Nguồn: Uỷ Ban Nhân Dân Huyện Định Quán

Đồng Nai

14807 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Tháp cổ Chót Mạt

Tháp cổ Chót Mạt

Di tích Lịch sử-Văn hóa Tháp Chót Mạt, tọa lạc ấp Xóm Tháp, xã Tân Phong, huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh, được Bộ Văn hóa Thông tin (nay là Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch) công nhận là di tích lịch sử - văn hóa ngày 23 tháng 7 năm 1993. Đồng thời là một trong ba công trình tháp cổ cuối cùng còn lại ở miền Nam nước ta. Trải qua nhiều lần trùng tu vào các năm 1938, 2003 và gần đây nhất là vào năm 2013. Mặc dù trải qua các đợt trùng tu tôn tạo, nhưng khu di tích tháp cổ Chót Mạt đã mang cho mình một diện mạo mới nhưng vẫn giữ nguyên được tinh thần kiến trúc cổ. Toàn bộ tòa Tháp được xây dựng bằng gạch và đá phiến với phần đỉnh tháp nhọn dần lên, từ mặt đất lên nơi cao nhất của đỉnh tháp được ước tính là 10m. Ngoài ra, ngọn tháp cổ này nằm trên gò đất cao giữa cánh đồng nên nhìn từ xa nó tựa như ngọn bút đang vươn lên cao dần. Năm 2003 Uỷ ban nhân dân tỉnh Tây Ninh quyết định phê duyệt dự án đầu tư trùng tu tôn tạo bảo tồn di tích tháp Chót Mạt và được tiến hành triển khai trùng tu tôn tạo phục hồi, trưng bày mở hố khai quật năm 2003 đưa vào sử dụng. Ngày 27/11/2019 UBND tỉnh ban hành Quyết định Quy định về phân cấp quản lý, bảo vệ và phát huy giá trị di tích lịch sử văn hóa và danh lam thắng cảnh trên địa bàn tỉnh Tây Ninh. Quyết định giao UBND huyện Tân Biên trực tiếp quản lý 4 di tích, trong đó có di tích cấp Quốc gia di tích Lịch sử- văn Hóa Tháp Chót Mạt. Đặc biệt Di tích Lịch sử-Văn hóa Tháp Chót Mạt trên địa bàn xã Tân Phong, huyện Tân Biên được chọn nằm trong chũi liên kết phát triển du lịch của Tỉnh Tây Ninh. Đây là một địa điểm tham quan rất đáng để khám phá, góp phần phát triển du lịch trên địa bàn xã Tân Phong nói riêng và huyện Tân Biên nói chung. Nguồn: Cổng thông tin điện tử tỉnh Tây Ninh

Tây Ninh

14655 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Dinh Quận Hóc Môn

Dinh Quận Hóc Môn

Dinh Quận Hóc Môn tọa lạc tại số 1, đường Lý Nam Đế, thị trấn Hóc Môn, (cạnh trụ sở UBND huyện) là nơi để lại nhiều sự kiện đấu tranh nổi bật suốt chặng đường dài lịch sử từ 1885 đến ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng của Nhân dân 18 Thôn vườn trầu. Sau khi hạ được Đại đồn Chí Hòa, thực dân Pháp xây dựng tại nơi đây một ngôi nhà gỗ cao 3 tầng dùng làm Đồn binh. Khi tên Trần Tử Ca về nhậm chức Đốc Phủ, dùng Đồn làm Dinh huyện Bình Long. Vốn là một tay say quỷ quyệt của thực dân Pháp, Trần Tử Ca bị nhóm do các ông Phan Văn Hớn (Quản Hớn) và Nguyễn Văn Quá (Chánh Lãnh Binh) cầm đầu gần 1.000 nghĩa quân tiến về đốt Dinh Quận, bắt và cắt đầu bêu giữa chợ. Đó là ngày 8/2/1885 Tết Ất Dậu. Sau đó, Dinh Quận Hóc Môn được xây dựng lại với nền móng đá xanh, tường gạch, có hệ thống phòng thủ từ lầu cao đến tận vòng rào. Lối kiến trúc y như Đồn binh nên người địa phương gọi là Đồn Hóc Môn. Trấn nhậm thay Trần Tử Ca là Đốc phủ Ngôn, đến Quận Trà rồi Quận Thọ. Đây là khoảng thời gian dài người dân vùng Hóc Môn hứng chịu bao cảnh tham tàn, bỉ ổi của thực dân Pháp và bọn tay sai đầu sỏ kể trên. Với truyền thống kiên cường bất khuất của Nhân dân Hóc Môn. Ngày 4/6/1930, khoảng 6 giờ sáng trước Dinh Quận, hàng trăm bà con Hóc Môn kéo biểu tình đòi “bãi bỏ thuế thân, giảm các thuế môn bài và thuế chợ, cấp đất cho dân cày nghèo”. Quận Trà cho mời những người cầm đầu vào Dinh thương lượng, nhưng chúng xảo quyệt bắt giữ họ trong đó có ông Lê Văn Uôi (Bí thư xã Tân Thới Nhì), là người cầm đầu cuộc biểu tình. Mọi người không nao núng, quyết liệt đòi hỏi Quận Trà phải thả những người bị cầm giữ. Đoàn biểu tình càng lúc càng đông, khí thế đấu tranh có phần lan rộng, khiến Quận Trà nhượng bộ. Một mặt chúng thả những người bị giữ, mặc khác chúng gọi điện cho quan thầy ở Sài Gòn cứu viện. 2 giờ sau, cuộc đấu tranh bị 2 tên Blachôlê và Nobbot chỉ huy bắn xối xả vào đoàn biểu tình, gây thương vong nhiều người. Nhưng sự kiện lịch sử gây ấn tượng nhất tại Dinh Quận Hóc Môn là cuộc khởi nghĩa Nam kỳ ngày 23/11/1940. Đồn Hóc Môn rất kiên cố, xây bằng đá xanh như là một pháo đài, cao khoảng 15 thước, có ụ súng và hệ thống phòng thủ lỗ châu mai do một trung đội lính khố xanh trấn giữ. Ngày 22/11/1940, Pháp tăng cường thêm 1 trung đội để đối phó với tình hình. Chiều 22/11/1940, cánh quân của ông Đỗ Văn Cội đột nhập vào thị trấn, giả dạng thường dân, phục kích sau lưng Đồn chờ lệnh cướp Đồn. Một cánh quân khác có nhiệm vụ phá cầu, đốn cây ngăn lộ, đánh chiếm các công sở, nhà việc... Cánh quân từ Phước Vĩnh An, Tân Thông, Tân An Hội, Tân Phú Trung do ông Phạm Văn Sáng và Đặng Công Bỉnh chỉ huy, xuất phát từ ấp Bến Đò, đánh chiếm nhà việc, diệt 1 tên, thu 4 súng, làm chủ tình hình tại đây (Tân Phú trung). Liền đó cánh quân này được lệnh kéo về Hóc Môn. Cánh quân Long Tuy Thượng do ông Bùi Văn Hoạt chỉ huy. Cánh quân thuộc Tổng Long Tuy Trung do ông Đỗ Văn Dậy và Lê Bình Đẳng chỉ huy. Khoảng 24 giờ đêm ngày 22/11/1940, vẫn chưa nghe thấy tiếng pháo lệnh ở Sài Gòn. Sau khi hội ý, các vị chỉ huy những cánh quân thống nhất tấn công Đồn giặc. Lập tức các cánh quân tiến thẳng về Đồn Hóc Môn, nơi trú ngụ của tên Quận trưởng Bùi Ngọc Thọ. 2 nghĩa quân tên Nghé và Kinh xung phong vào cổng trước, hy sinh. Nghĩa quân bốn phía xông vào Đồn như nước vỡ bờ. Trước sức mạnh của nghĩa quân và quần chúng, bọn lính trong Đồn không còn tinh thần kháng cự, bỏ chạy tán loạn. Nghĩa quân chiếm lĩnh hoàn toàn bên trong Đồn nhưng trên lầu, địch vẫn ngoan cố dùng súng bắn tẻ, cùng lúc gọi điện về Sài Gòn, Thủ Dầu Một cấp cứu. Vì nóng lòng bắt cho được tên Quận Thọ nên đồng chí Đỗ Văn Dậy bám ống máng nước để leo lên tầng trên Đồn. Đến lưng chừng bị trúng đạn, đồng chí bị rơi xuống và hy sinh sau đó. Cuộc chiến đấu đang thế giằng co thì viện binh địch đến. Không thể cầm cự, nghĩa quân rút khỏi thị trấn, phân tán về các làng, lực lượng vũ trang rút về ấp Bến Đò (Tân Phú Trung) rồi di chuyển sang ấp Mỹ Hạnh (Đức Hòa). Cuộc tiến công Đồn Hóc Môn (sau gọi là Dinh Quận Hóc Môn) tuy thất bại nhưng đã để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng mọi người dân sự khâm phục lòng dũng cảm của các chiến sĩ cách mạng trong cuộc chiến đấu chống thực dân cướp nước. Trong chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, 7 giờ sáng ngày 30/4/1975, thị trấn Hóc Môn hoàn toàn được giải phóng, lá cờ Tổ quốc phất phới bay trên Dinh Quận, nơi tên Quận trưởng Nguyễn Như Sang và bọn tay sai đã chạy trốn từ tối đêm trước. Ngày nay Dinh Quận Hóc Môn được chọn làm Bảo tàng huyện, nơi đây tập trung nhiều tư liệu trưng bày, minh họa các giai đoạn lịch sử thăng trầm cũng như khí thế đấu tranh cách mạng của quân và dân trong huyện Hóc Môn qua 2 cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ. Một Tượng đài đặt trước di tích Dinh Quận Hóc Môn thể hiện gương hy sinh bất khuất của quân và dân 18 Thôn Vườn trầu, được công nhận là di tích lịch sử văn hóa cấp Quốc gia. Nguồn: Ủy ban nhân dân huyện Hóc Môn

TP Hồ Chí Minh

14014 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Tòa đại sứ quán Mỹ

Tòa đại sứ quán Mỹ

Di tích tòa Đại sứ Mỹ còn được gọi "Nhà trắng phương Đông" là nơi xuất phát các âm mưu thâm độc về quân sự lẫn chính trị nhằm thôn tính lâu dài đất nước Việt Nam, địa điểm di tích là tòa nhà 5 tầng xây dựng theo kiến trúc hiện đại, tọa lạc tại góc đường Mạc Đĩnh Chi - Lê Duẩn, Phường Bến Nghé, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh, trên một mảnh đất rộng gần 5.000m2. Trước đó, tòa đại sứ Mỹ nằm tại số 39 đường Hàm Nghi. Khoảng 10 giờ sáng ngày 30/3/1963, tòa đại sứ Mỹ trên đường Hàm Nghi đã bị đội Biệt động F21 đánh chất nổ làm sập 3 tầng lầu: 1, 2, 3 do đó Mỹ đã quyết định xây lại. Tòa nhà được khởi công xây dựng vào năm 1965, hầu hết vật liệu cũng như máy móc xây dựng đều được chở từ Mỹ sang, dưới sự điều khiển của kỹ sư người Mỹ. Theo thiết kế, tòa nhà bao bọc bởi 7.800 viên đá Taredo có khả năng chống đỡ mìn, đạn pháo. Cửa chính trang bị bằng thép dầy, những cửa khác chắn bởi lớp kín dầy đặc biệt chống đạn. Tất cả cửa sử dụng hệ thống tự động kể cả cửa sắt chắn lối lên các tầng lầu. Bên trong tòa nhà gồm 140 phòng với 200 nhân viên phục vụ ngày đêm ngoài ra bên cạnh tòa nhà còn được xây thêm một dãy nhà phụ gọi là khu "Norodom" dành riêng cho nhân viên C.I.A. Khi khánh thành, tòa nhà chỉ có 3 tầng. Cuối năm 1966 xây thêm 2 tầng và 1 sân thượng dùng làm nơi hạ cánh cho máy bay lên thẳng. Bao quanh tòa nhà là bức tường cao 3m, hai đầu tường sát đường Lê Duẩn xây 2 lô - cốt cao, canh gác ngày đêm. Tòa Đại sứ hoàn thành tháng 9/1967 với một hệ thống phòng thủ như là một pháo đài có 60 lính gác, một hầm tránh bom, một hệ thống màn hình ra-đa nhằm kiểm soát mặt tiền. Ngay sau khi tòa nhà hoàn tất, ngày 24/9/1967, hàng ngàn sinh viên, học sinh kéo đến trước cổng Đại sứ quán Mỹ đấu tranh đòi "Mỹ chấm dứt ném bom miền Bắc", "Mỹ cút về nước" và ra thông báo tố cáo Mỹ "chà đạp và vi phạm nghiêm trọng quyền tự quyết của nhân dân miền Nam". Nhưng sự kiện nổi bật xảy ra tại Tòa Đại sứ Mỹ là trận đánh của Biệt động thành trong Tổng Tiến công và nổi dậy xuân Mậu Thân 1968. Mục tiêu đánh Đại sứ quán Mỹ được bổ sung ngày 24/ 1/1968 do Ngô Thành Vân phụ trách chung. Đội Biệt động 11 nhận lãnh nhiệm vụ quan trọng này gồm đội trưởng Út Nhỏ (đội trưởng trinh sát quân khu) và các chiến sĩ: Bảy Truyền, Tước, Thanh, Chức, Trần Thế Ninh, Chính, Tài, Văn, Đực, Cao Hoài Vinh, Mang, Sáu và 2 lái xe: Trần Sĩ Hùng và Ngô Văn Thuận. Một sự kiện khác cũng không kém phần tủi nhục cho Toà Đại sứ Mỹ là cảnh hỗn loạn tháo chạy xảy ra trong 2 ngày 29 và 30/04/1975 của Mỹ và đồng bọn. Trước sức tấn công thần tốc của quân và dân Việt Nam trong chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, trên 1.000 người Mỹ và hơn 5.000 người Việt thân Mỹ đã chen lấn, xô đẩy, đạp nhau để tranh giành một chỗ trên sân thượng của toà nhà hòng được trực thăng cứu thoát. Di tích này đã được cấp bằng công nhận của Bộ Văn hoá ngày 25/6/1976. Hiện nay, toà nhà Đại Sứ Mỹ đã bị phá bỏ, xây mới thành lãnh sự quán tại Thành phố Hồ Chí Minh, nhưng cạnh đó một bia tưởng niệm ghi nhớ mãi chiến công của các chiến sĩ biệt động đã hy sinh trong trận đánh. Nguồn: Thành Đoàn Thành phố Hồ Chí Minh

TP Hồ Chí Minh

13909 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Lăng Mai Xuân Thưởng

Lăng Mai Xuân Thưởng

Mai Xuân Thưởng là người lãnh đạo phong trào Cần Vương chống Pháp cuối thế kỷ XIX ở Bình Định. Mai Xuân Thưởng sinh năm Canh Thân 1860, mất năm Đinh Hợi 1887 người thôn Phú Lạc, tổng Phú phong, huyện Tuy Viễn, tỉnh Bình Định (nay là thôn Phú Lạc, xã Bình Thành, huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định). Cha là Mai Xuân Tín làm Bố chánh ở Cao Bằng, mẹ là Huỳnh Thị Nguyệt con của một nhà quyền quý trong làng. Mai Xuân Thưởng vốn là người thông minh, ham học. Năm 18 tuổi (1878) ông đỗ Tú tài tại Trường thi Bình Định. năm 25 tuổi (1885) thi đỗ cử nhân. Hưởng ứng chiếu Cần vương của vua Hàm Nghi, Mai Xuân Thưởng về quê Phú Lạc, chiêu mộ nghĩa binh, lập căn cứ ở hòn Sưng dựng cờ cần vương chống Pháp, sau đó Mai Xuân Thưởng đã đem lực lượng của mình gia nhập vào nghĩa quân do Đào Doãn Địch lãnh đạo và được Đào Doãn Địch phong giữ chức Tán lương quân vụ (phụ trách về lương thực của nghĩa quân). Kể từ đó cho đến năm 1887, phong trào cần vương ở Bình Định phát triển mạnh mẽ và lan ra đến Quảng Ngãi, Phú Yên...thu hút hàng chục ngàn người thuộc mọi tầng lớp tham gia. Ngày 20/9/1885 Đào Doãn Địch mất, giao toàn bộ lực lượng cho Mai Xuân Thưởng. Ông chọn vùng núi Lộc Đổng (nay thuộc xã Bình Tường, huyện Tây Sơn) làm đại bản doanh và tổ chức lễ tế cờ , truyền hịch kêu gọi sỹ phu, văn thân, nhân dân tham gia phong trào cần Vương chống Pháp. Trong buổi lễ ấy, nghĩa quân nhiều vùng trong tỉnh Bình Định đã nhất trí suy tôn ông làm Nguyên soái lãnh đạo cuộc khởi nghĩa và nêu cao khẩu hiệu: “Tiền sát tả, hậu đả Tây”. Đầu năm 1887, quân Pháp dưới sự chỉ huy của Trung tá Cherrean và quân triều đình do Trần Bá Lộc chỉ huy cùng với Công sứ Trira đã mở cuộc tấn công lớn lên căn cứ đại bản doanh của phong trào Cần Vương Bình Định, trận giao chiến giữa lực lượng nghĩa quân với giặc Pháp diễn ra vô cùng ác liệt, cuộc chiến đấu không cân sức, cuối cùng lực lượng khởi nghĩa bị đẩy lùi. Tháng 3 năm 1887, sau trận ác chiến ở Bàu Sấu (thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định), Mai Xuân Thưởng bị thương nặng, nghĩa quân rút về Mật khu Linh Ðổng. Ngày 21 tháng 4 năm 1887, Trần Bá Lộc bao vây đánh chiếm căn cứ mật khu Linh Đổng và bắt được một số nghĩa quân, trong đó có thân mẫu Mai Nguyên Soái. Đêm 30 tháng 4 năm 1887, Mai Xuân Thưởng đã cử một đội quân cảm tử đột nhập doanh trại Trần Bá Lộc, giải vây cho những người bị bắt, ông cùng đoàn thuộc hạ gồm 50 người vượt núi vào Phú Yên, tiếp tục kháng chiến, nhưng khi đến đèo Phú Quý (ranh giới giữa Bình Định và Phú Yên) thị bị phục binh Trần Bá Lộc bắt và đưa ra xử trảm tại Gò Chàm (Phía đông Thành Bình Định). Di tích Lăng mộ nhà yêu nước Mai Xuân Thưởng tọa lạc trên ngọn đồi cao của dãy núi Ngang (thuộc thôn Hòa Sơn, xã Bình Tường, huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định) cách thành phố Quy Nhơn khoảng 50km về hướng Tây Bắc; Lăng mộ được xây dựng trên khu đất rộng 1988m2, khánh thành ngày 22 tháng 1 năm 1961.Về tổng thể, Lăng được thiết kế theo kiểu lăng mộ cổ, xung quanh có thành thấp bao bọc. Cổng Lăng (tam quan) là 4 trụ vuông, phía trên thắt lại theo kiểu bầu lọ mang dáng dấp kiến trúc cổng đình, miếu cuối thế kỷ XIX. Giữa nhà Lăng là mộ phần Mai Xuân Thưởng hình khối chữ nhật theo hướng Đông - Tây; Phía đầu mộ dựng tấm Bia đá khắc bài ký ghi tiểu sử và sự nghiệp của Mai Xuân Thưởng: Di tích được Bộ Văn hóa Thông tin quyết định xếp hạng cấp Quốc Gia ngày 20 tháng 4 năm 1995. Nguồn: UBND Huyện Tây Sơn tỉnh Bình Định

Gia Lai

13583 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Thành Nhà Mạc Ở Cao Bằng (Thành Nà Lữ, Thành Bản Phủ, Thành Phục Hòa)

Thành Nhà Mạc Ở Cao Bằng (Thành Nà Lữ, Thành Bản Phủ, Thành Phục Hòa)

Thời kỳ nhà Mạc đóng đô ở Cao Bằng, để phòng bị quân nhà Lê tiến đánh, nhà Mạc đã tu bổ, sửa chữa thành Na Lữ (nay thuộc xã Hoàng Tung, Hòa An) và thành Bản Phủ (nay thuộc xã Hưng Đạo), thành Phục Hòa, ngoài ra còn xây dựng nhiều thành lũy khác ở Cao Bằng, làm cho Cao Bằng trở thành một trung tâm chính trị và quân sự ở vùng biên viễn Đông Bắc thời bấy giờ. Thành Na Lữ và thành Phục Hoà là hai thành được xây dựng từ trước. Theo ghi chép của Bế Hựu Cung trong Cao Bằng thực lục, thành Na Lữ và thành Phục Hòa mở đầu từ đời Đường Ý Tông năm Giáp Thân, niên hiệu Hàm Thông thứ 5 (874). Căn cứ vào sự hiện diện của nhiều ngôi mộ cổ có đá khắc ghi bia mộ tên, địa chỉ, quê quán những người phu dịch xây thành chết ở đây từ thời Hàm Thông có thể khẳng định hai thành này xây từ đời Đường. Thành Na Lữ được xây qua nhiều triều đại khác nhau. Khi nhà Mạc lên Cao Bằng đã cho xây lại bằng gạch. Thành Na Lữ có hình gần chữ nhật, có tổng diện tích khoảng 37,5 ha, chiều dài khoảng 800 m, chiều rộng khoảng 600 m, thành có 4 cửa. Thành Bản Phủ tại kinh đô Nam Bình, nước Nam Cương của Thục Phán khi xưa ở Cao Bình (Cao Bằng), nhà Mạc đã tu bổ thành Vương phủ tại vòng trong của kinh đô cũ Nam Bình và được gọi là thành Bản Phủ hay Vương phủ. Tại kinh đô Nam Bình xưa của nước Nam Cương và của nhà Mạc, thành Bản Phủ vẫn còn dấu tích khá rõ nét. Kinh đô Nam Bình gồm có hai vòng thành, để bảo vệ kinh thành, vòng ngoài có chu vi khoảng 5 km, gồm cả một vùng gò đồi thấp, quanh chân đồi được bạt dựng đứng như một bức tường thành, thuận lợi cho việc xây dựng phòng tuyến bảo vệ. Bờ thành phía Tây chạy song song với bờ sông Bằng đến đầu làng Bó Mạ, nối bờ thành Đông Nam chảy qua trước mặt Bản Phủ theo chân đồi ra gặp quốc lộ 4, phía Đông Bắc chạy theo chân đồi sát phía ngoài quốc lộ 4, lên đến Đầu gò là phía Tây Bắc tiếp tục chạy theo chân đồi, ra đến bờ sông gặp bờ thành phía Tây tạo thành một vòng thành khép kín. Khi nhà Mạc lên đóng đô đã tu sửa lại và xây dựng thêm một số công trình, trong đó thành Bản Phủ (thành nội - nơi của vua làm việc) được xây lên cao hơn trên các tường thành cũ từ thời kỳ Thục Phán, thành nằm trên một khu đất bằng phẳng. Cùng với việc xây dựng lại kinh thành, nhà Mạc còn xây dựng một hệ thống đồn bốt, thành lũy khá dày xung quanh kinh đô và một số điểm biên giới quan trọng, tạo thành một hệ thống bảo vệ kinh thành và bảo vệ biên giới. Thành Phục Hòa (huyện Phục Hoà) được xây theo kiểu hình vuông, mỗi chiều khoảng 400 m, gồm hai vòng thành, khoảng cách giữa hai vòng là 80 m. Hiện nay, tường thành phía Nam đã bị phá huỷ hoàn toàn. Thành Phục Hòa có 2 cổng chính: Cổng phía Bắc được mở thông ra quốc lộ đi Cửa khẩu Tà Lùng ngày nay, nhân dân thường gọi là Pác Cổng, cổng này được xây theo kiểu hình chữ nhật, rộng 8 m, cao 5 m, gồm hai cánh cổng làm bằng gỗ nghiến dày rất chắc chắn; cổng thứ hai ở phía Nam, mở thông ra bờ sông. Cả hai cổng đều bị san phẳng từ lâu, hiện nay không còn vết tích. Gần thành, tại phía Tây Bắc ngoại thành dọc bờ sông còn có nhiều vết tích lò nung gạch, nhân dân cho biết trong quá trình lao động, khai phá đã tìm thấy ở khu vực này nhiều lò gạch còn nguyên vẹn. Qua nghiên cứu, khảo sát cho thấy, tại Cao Bằng, nhà Mạc đã tu bổ, tôn tạo và xây dựng thêm nhiều thành, đồn luỹ, trong đó tu bổ, tôn tạo xây lại thành Bản Phủ, thành Na Lữ, thành Phục Hoà. Các đồn luỹ này đã tạo thành một hệ thống liên hoàn bảo vệ kinh thành khá vững chắc. Đến nay, những thành cổ nhà Mạc xây dựng thời kỳ đóng đô ở Cao Bằng, một số thành xây dựng bằng đất chỉ còn vết tích, nhưng các thành được xây bằng đá vẫn còn rất rõ. Nguồn: Báo Cao Bằng điện tử

Cao Bằng

13295 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

KHU TƯỞNG NIỆM LIỆT SĨ NGÃ BA GIỒNG, DI TÍCH LỊCH SỬ QUỐC GIA

KHU TƯỞNG NIỆM LIỆT SĨ NGÃ BA GIỒNG, DI TÍCH LỊCH SỬ QUỐC GIA

Di tích Ngã Ba Giồng là di tích lịch sử cách mạng thuộc Ấp 5, xã Xuân Thới Thượng, huyện Hóc Môn. Được bao quanh bởi ba con đường: Phan Văn Hớn, Nguyễn Văn Bứa và tỉnh lộ 19. Khu di tích Ngã Ba Giồng là khu tưởng niệm về những sự kiện lịch sử trong hai cuộc khácg chiến chống ngoại xâm. Được công nhận là di tích lịch sử cấp quốc gia vào năm 2002. Ngã ba Giòng (còn có tên gọi đầy đủ là Ngã ba Giòng Bằng Lăng) nằm trên địa phận thôn Xuân Thới Tây thuộc 18 thôn vườn trầu xưa được hình thành từ những năm 1698 đến năm 1731. Từ lâu đời, Ngã ba Giồng là 1 địa danh có tên gọi dân gian đã đi vào lịch sử của quê hương 18 thôn vườn trầu Hóc Môn – Bà Điểm. Tục truyền rằng xưa kia nơi đây là 1 vùng đất giồng tương đối cao ráo và là nơi mọc nhiều cây bằng lăng nên địa danh này có tên gọi từ đó. Sau khi cuộc khởi nghĩa Nam kỳ (23/11/1940) bị thất bại, thực dân Pháp đã tăng cường đàn áp, khủng bố khốc liệt phong trào cách mạng vùng Hóc Môn – Bà Điểm. Chúng đã lập ra ở Hóc Môn 3 trường bắn để giết hại các đồng chí lãnh đạo Đảng, các đồng chí đồng bào yêu nước của quê hương Hóc Môn và các vùng lân cận. Ngã ba Giồng là trường bắn thứ ba ghi lại tội ác tày trời của giặc pháp và bọn tay sai đối với nhân dân Hóc Môn. Rút kinh nghiệm từ 2 trường bắn trước (1 tại rạp hát cũ trung tâm Quận lỵ Hóc Môn, 1 cạnh giếng nước sau Bệnh viện Hóc Môn ngày nay), chúng xử bắn công khai, bắt nhân dân đến xem nhằm mục đích uy hiếp tinh thần cách mạng của nhân dân Hóc Môn. Nhưng cách xử bắn đó đã phản tác dụng, nhân dân Hóc Môn đã tận mắt chứng kiến sự tàn ác của thực dân Pháp, sự hy sinh cao cả của các chiến sĩ cộng sản nên ngọn lửa yêu nước của họ càng bùng lên mãnh liệt. Trường bắn thứ 3 này, chúng không dám xây dựng gần trung tâm Quận lỵ nữa mà đưa ra khu vực Ngã ba Giồng là vùng hoang vắng, thưa dân để tránh sự phản kháng của nhân dân. Tại đây, chúng xây dựng thành 1 trường bắn có mô đất kiên cố dài 12m, cao 2,2m, phía trước có trồng 6 cột bắn, mỗi cột cao 1.7m, hướng bắn quay về phía đồng ruộng (bưng Tràm Lạc). Vào năm 1941, tại đây chúng lén lúc xử bắn rất nhiều lần, không cho nhân dân xem, hàng trăm chiến sĩ cộng sản và đồng bào yêu nước bị chúng giết hại. Với ý nghĩa lịch sử vô cùng thiêng liêng của Ngã ba Giồng, nơi ghi dấu tội ác dã man của giặc Pháp, nơi thể hiện ý chí chiến đấu bất khuất kiên cường và sự hy sinh cao cả của đồng chí và đồng bào ta sau cuộc khởi nghĩa Nam kỳ (23/11/1940); sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng (30/4/1975), huyện Hóc Môn đã nhanh chóng khôi phục và tôn tạo khu di tích lịch sử cách mạng Ngã ba Giồng nhằm giáo dục truyền thống cho các thế hệ thanh thiếu niên. Nơi đây đã trở thành điểm tham quan, nơi tổ chức lễ hội truyền thống trong những ngày lễ lớn hàng năm của huyện Hóc Môn và thành phố đặc biệt là lễ kỷ niệm ngày Nam kỳ Khởi nghĩa (23/11). Hiện nay được sự nhất trí của thành phố, huyện đang tiến hành tôn tạo xây dựng Ngã ba Giồng thành “Khu tưởng niệm liệt sĩ Ngã ba Giồng”. Nguồn: Cổng thông tin điện tử Hóc Môn

TP Hồ Chí Minh

13140 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở