Di tích lịch sử

Xem dạng bản đồViệt nam

Danh sách điểm di tích (1412)

Giếng cổ Xóm Cấm

Giếng cổ Xóm Cấm

Giếng cổ Xóm Cấm – Dấu ấn văn hóa Chăm giữa lòng Cù Lao Chàm Nằm tại thôn Cấm, Hội An, Đà Năng, Giếng cổ Xóm Cấm là một trong những công trình kiến trúc cổ tiêu biểu của Cù Lao Chàm, gắn liền với lịch sử hình thành và phát triển của cư dân trên đảo suốt nhiều thế kỷ. Đây không chỉ là nguồn nước ngọt quý giá mà còn là minh chứng sinh động cho sự giao thoa văn hóa giữa người Chăm và người Việt trên tuyến thương cảng quốc tế Hội An. Các kết quả khảo cổ học cho thấy Cù Lao Chàm đã có cư dân sinh sống từ hơn 3.000 năm trước. Đến các thế kỷ VII – X, nơi đây trở thành địa bàn cư trú của người Chăm, đồng thời là điểm dừng chân quan trọng trên tuyến hàng hải quốc tế, nơi diễn ra hoạt động giao thương sôi động với các thương nhân từ Trung Quốc, Trung Đông và nhiều quốc gia khác. Sau thế kỷ XVII, cộng đồng người Việt đến sinh sống, tiếp tục kế thừa, gìn giữ và sử dụng các công trình do người Chăm xây dựng, trong đó có hệ thống giếng cổ. Giếng Xóm Cấm mang đậm phong cách kiến trúc Chăm với miệng giếng đường kính khoảng 1,18 m, sâu 4,5 m, lòng giếng xây bằng gạch theo dạng "cổ áo" (vành khăn), kết dính bằng vữa vôi truyền thống. Đặc biệt, dưới đáy giếng còn lưu giữ hệ thống bốn thanh gỗ lim ghép thành hình vuông, góp phần gia cố nền móng và bảo đảm độ bền vững của công trình qua hàng trăm năm. Theo nhiều tư liệu cổ, trong thời kỳ hưng thịnh của thương cảng Hội An, các thương thuyền quốc tế thường ghé Cù Lao Chàm để bổ sung lương thực và lấy nước ngọt từ các giếng cổ trên đảo trước khi tiếp tục hành trình. Đến ngày nay, Giếng Xóm Cấm vẫn luôn đầy nước, trong xanh và mát lành quanh năm, tiếp tục phục vụ đời sống sinh hoạt của người dân địa phương, trở thành biểu tượng của sự trường tồn và sức sống bền bỉ giữa biển khơi. Không chỉ mang giá trị lịch sử và kiến trúc, Giếng cổ Xóm Cấm còn phản ánh quá trình kế thừa và hòa quyện văn hóa giữa các cộng đồng cư dân trên đảo, góp phần làm nên bản sắc độc đáo của Khu dự trữ sinh quyển thế giới Cù Lao Chàm – Hội An. Với những giá trị đặc biệt về lịch sử, khảo cổ và văn hóa, Giếng cổ Xóm Cấm được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xếp hạng Di tích lịch sử cấp quốc gia năm 2006. Ngày nay, đây là điểm tham quan hấp dẫn, nơi du khách có thể tìm hiểu về lịch sử lâu đời của Cù Lao Chàm, khám phá dấu ấn văn minh Chăm Pa và cảm nhận nét đẹp bình yên của hòn đảo giữa biển Đông. Theo Đô thị cổ Hội An

Đà Nẵng

1429 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Di tích lịch sử cách mạng Cái Ngang

Di tích lịch sử cách mạng Cái Ngang

Di tích lịch sử cách mạng Cái Ngang nằm tại ấp 4, Phú Lộc, Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long, cách trung tâm thành phố Vĩnh Long khoảng 25 km. Được xây dựng trên chính nền căn cứ cách mạng của Tỉnh ủy Vĩnh Long trong giai đoạn 1966 – 1975, nơi đây là một "địa chỉ đỏ" giàu giá trị lịch sử, tái hiện chân thực cuộc sống, chiến đấu của quân và dân Vĩnh Long trong những năm kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Trong thời kỳ chiến tranh, Cái Ngang là nơi đặt cơ quan đầu não của Tỉnh ủy Vĩnh Long, từ đây lãnh đạo phong trào cách mạng trong tỉnh, góp phần làm nên thắng lợi của Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 và Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử mùa Xuân năm 1975, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước. Khu di tích ngày nay tái hiện sinh động hệ thống căn cứ giữa rừng với các hạng mục như hội trường, nhà thường trực, nhà thông tin, nhà ăn, nhà bảo vệ cùng nhiều công sự, hầm bí mật, hầm chông, hầm phòng thủ và những chiếc cầu chông đặc trưng của vùng sông nước Nam Bộ. Mỗi công trình đều phản ánh sự sáng tạo, mưu trí của cán bộ, chiến sĩ trong việc xây dựng căn cứ bí mật, thích ứng với điều kiện chiến đấu gian khổ nhưng vẫn đảm bảo chỉ huy và bảo vệ lực lượng. Đến với Cái Ngang, du khách còn được tìm hiểu nhiều hiện vật, mô hình sinh hoạt và lao động của cán bộ cách mạng, từ những bộ bàn ghế đa năng, bếp Hoàng Cầm giản dị đến những câu chuyện về cuộc sống thiếu thốn nhưng đầy ý chí, nghị lực của thế hệ đi trước. Qua đó, càng thêm trân trọng sự hy sinh, lòng dũng cảm và tinh thần đoàn kết của quân và dân Vĩnh Long trong sự nghiệp đấu tranh giành độc lập dân tộc. Trong khuôn viên di tích còn có Tượng đài Mẹ Việt Nam Anh hùng Nguyễn Thị Ngọt – người mẹ tiêu biểu của tỉnh Vĩnh Long có chồng và sáu người con anh dũng hy sinh trong hai cuộc kháng chiến. Công trình là biểu tượng của lòng biết ơn, sự tri ân đối với những người mẹ đã cống hiến, hy sinh to lớn cho Tổ quốc. Không chỉ mang giá trị lịch sử, Di tích lịch sử cách mạng Cái Ngang còn gây ấn tượng bởi không gian sinh thái xanh mát với hệ thực vật đặc trưng của vùng Đồng bằng sông Cửu Long. Những hàng trâm bầu, gõ nước, đủng đỉnh, dây leo cùng các ao, rạch tự nhiên tạo nên khung cảnh yên bình, giúp du khách vừa tìm hiểu lịch sử vừa hòa mình vào thiên nhiên miệt vườn. Với những giá trị đặc biệt về lịch sử, văn hóa và giáo dục truyền thống, năm 2016, Di tích lịch sử cách mạng Cái Ngang được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xếp hạng Di tích lịch sử cấp quốc gia. Ngày nay, nơi đây là điểm đến ý nghĩa dành cho du khách, học sinh, sinh viên và các thế hệ trẻ đến tham quan, tìm hiểu lịch sử, bồi đắp lòng yêu nước và niềm tự hào dân tộc. Theo tour Vĩnh Long

Vĩnh Long

632 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Di tích hang Hỏa Tiễn

Di tích hang Hỏa Tiễn

Hang Hỏa Tiễn là di tích lịch sử quốc gia nằm tại phường Hoàng Mai, tỉnh Nghệ An, ghi dấu sự hy sinh anh dũng của 33 thanh niên xung phong Tổ 4, đơn vị C271, Đội 27 trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Đây là một "địa chỉ đỏ" thiêng liêng, nhắc nhớ về tinh thần quả cảm và sự cống hiến của những người trẻ đã ngã xuống vì độc lập, tự do của Tổ quốc. Ngày 28/4/1966, khi đang làm nhiệm vụ khai thác đá, san lấp và bảo vệ tuyến đường sắt Bắc – Nam tại khu vực ga Hoàng Mai, các chiến sĩ bất ngờ gặp trận không kích ác liệt của máy bay Mỹ. Trong lúc trú ẩn tại một hang đá, hai quả tên lửa (rocket) bắn trúng cửa hang, khiến khối lượng lớn đất đá sụp xuống, chôn vùi các chiến sĩ bên trong. Sau nhiều giờ cứu hộ, 33 thanh niên xung phong đã anh dũng hy sinh, phần lớn khi tuổi đời mới mười sáu, mười bảy, đôi mươi. Từ sự kiện bi tráng ấy, hang đá được nhân dân gọi bằng cái tên đầy xúc động Hang Hỏa Tiễn. Trong những năm tháng chiến tranh, khu vực Hoàng Mai là cửa ngõ giao thông chiến lược của miền Bắc với hệ thống đường bộ, đường sắt và đường thủy quan trọng phục vụ chi viện cho chiến trường miền Nam. Các địa danh như ga Hoàng Mai, cầu Hoàng Mai, cầu Rí hay mỏ đá Hoàng Mai thường xuyên trở thành mục tiêu đánh phá ác liệt của không quân Mỹ. Dù phải đối mặt với bom đạn, thiếu thốn và hiểm nguy, những thanh niên xung phong vẫn kiên cường bám trụ với tinh thần "Sống bám cầu, bám đường; chết kiên cường dũng cảm", quyết tâm giữ vững huyết mạch giao thông. Sự hy sinh của 33 thanh niên xung phong đã trở thành biểu tượng sáng ngời của chủ nghĩa anh hùng cách mạng và tinh thần cống hiến của tuổi trẻ Việt Nam. Năm 2003, các anh, chị được Nhà nước truy tặng danh hiệu Liệt sĩ và cấp Bằng Tổ quốc ghi công. Đến năm 2011, Cụm di tích Hang Hỏa Tiễn và Nghĩa trang Liệt sĩ Đường sắt được xếp hạng Di tích lịch sử quốc gia, trở thành nơi tri ân các anh hùng liệt sĩ và giáo dục truyền thống yêu nước cho các thế hệ hôm nay. Ngày nay, Hang Hỏa Tiễn là điểm đến mang ý nghĩa lịch sử và nhân văn sâu sắc. Đến đây, du khách không chỉ được tìm hiểu về một giai đoạn hào hùng của dân tộc mà còn cảm nhận rõ hơn giá trị của hòa bình, độc lập và sự hy sinh to lớn của những thế hệ đi trước vì tương lai của đất nước. Theo báo nhân dân điện tử

Nghệ An

1444 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Di tích Chiến thắng Đèo Nhông – Dương Liễu

Di tích Chiến thắng Đèo Nhông – Dương Liễu

Di tích Chiến thắng Đèo Nhông – Dương Liễu là địa chỉ đỏ tiêu biểu của tỉnh Gia Lai, ghi dấu một trong những chiến công vang dội của quân và dân Khu 5 trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Trận đánh diễn ra vào đêm 6 rạng sáng 7/2/1965 (mùng 5 tháng Giêng năm Ất Tỵ) trên địa bàn nay thuộc xã Bình Dương, tỉnh Gia Lai, trở thành mốc son chói lọi trong lịch sử đấu tranh cách mạng của quân và dân miền Trung. Thời điểm đó, quân đội Mỹ và chính quyền Sài Gòn xây dựng hệ thống phòng thủ kiên cố tại Dương Liễu và Đèo Nhông, với nhiều đồn bốt, xe bọc thép M-113, pháo binh và máy bay yểm trợ nhằm kiểm soát tuyến giao thông chiến lược, ngăn chặn phong trào cách mạng. Trước tình hình đó, dưới sự chỉ đạo của Khu ủy Khu 5, Bộ Tư lệnh Quân khu 5 và Tỉnh ủy, Trung đoàn 2, Sư đoàn 3 Sao Vàng đã phối hợp chặt chẽ với lực lượng vũ trang địa phương và nhân dân tổ chức tiến công bất ngờ vào đồn Dương Liễu, sau đó phục kích trên tuyến Đèo Nhông, đánh tan lực lượng địch đến ứng cứu. Chiến thắng đã giành được kết quả to lớn khi loại khỏi vòng chiến đấu hơn 700 tên địch, bắn rơi và phá hủy 4 máy bay, tiêu diệt 10 xe bọc thép M-113, thu giữ 2 xe M-113 cùng nhiều vũ khí, trang bị quân sự. Đây là một trong những trận đánh tiêu biểu thể hiện nghệ thuật tác chiến hiệp đồng, khả năng phục kích và tiêu diệt lực lượng cơ giới hiện đại của quân giải phóng. Chiến thắng Đèo Nhông – Dương Liễu đã giáng đòn nặng nề vào chiến lược "Chiến tranh đặc biệt" của Mỹ trên chiến trường Khu 5, góp phần tạo khí thế mới cho phong trào đấu tranh cách mạng ở miền Trung. Đồng thời, chiến thắng khẳng định sự trưởng thành vượt bậc của bộ đội chủ lực và sức mạnh đoàn kết giữa quân với dân trong cuộc kháng chiến giành độc lập dân tộc. Ngày nay, di tích Chiến thắng Đèo Nhông – Dương Liễu không chỉ là nơi tưởng niệm các anh hùng liệt sĩ đã hy sinh vì Tổ quốc mà còn là điểm đến giáo dục truyền thống cách mạng, góp phần bồi đắp lòng yêu nước, niềm tự hào dân tộc và ý chí bảo vệ quê hương cho các thế hệ hôm nay và mai sau. Theo báo Gia Lai điện tử

Gia Lai

536 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Di tích tưởng niệm Ông Ích Đường

Di tích tưởng niệm Ông Ích Đường

Di tích tưởng niệm Ông Ích Đường gắn với cuộc đời và sự hy sinh của Ông Ích Đường (1890–1908), người con của làng Phong Lệ, nay thuộc phường Hòa Thọ Tây, thành phố Đà Nẵng. Ông là cháu nội của Ông Ích Khiêm và sinh ra trong một gia đình có truyền thống yêu nước, sớm nổi tiếng là người nghĩa hiệp, giỏi văn võ và luôn đứng về phía người dân nghèo. Năm 1908, hưởng ứng phong trào chống sưu thuế Trung Kỳ, Ông Ích Đường đã lãnh đạo nhân dân Hòa Vang tham gia đấu tranh chống áp bức. Sau khi cuộc khởi nghĩa thất bại, ông bị thực dân Pháp bắt và xử chém tại chợ Túy Loan khi mới 18 tuổi. Trước khi hy sinh, khí phách hiên ngang và tinh thần bất khuất của ông đã trở thành biểu tượng của lòng yêu nước và ý chí đấu tranh vì độc lập dân tộc. Sự hy sinh của Ông Ích Đường đã gây xúc động sâu sắc trong nhân dân địa phương. Người dân đã lập miếu thờ ngay tại nơi ông tuẫn nạn để tưởng nhớ công lao và khí tiết của người chí sĩ yêu nước. Trải qua thời gian, khu vực di tích tiếp tục được gìn giữ, tôn tạo với nhà bia tưởng niệm bên cạnh cây đa lịch sử – chứng nhân gắn liền với sự kiện năm 1908. Ngày nay, Di tích tưởng niệm Ông Ích Đường là địa chỉ đỏ giáo dục truyền thống yêu nước và tinh thần đấu tranh cách mạng cho các thế hệ, đồng thời là điểm đến giúp du khách tìm hiểu về phong trào chống sưu thuế Trung Kỳ và lịch sử đấu tranh của nhân dân Đà Nẵng đầu thế kỷ XX. Theo: Báo Đà Nẵng

Đà Nẵng

1248 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Khu căn cứ cách mạng Huyện ủy Hòa Vang

Khu căn cứ cách mạng Huyện ủy Hòa Vang

Khu căn cứ cách mạng Huyện ủy Hòa Vang nằm tại khu vực tam giác núi Phú Túc – Ô Rây – Tống Cói, thuộc phường Hòa Vang. Với địa hình rừng núi hiểm trở, nơi đây từng là căn cứ địa quan trọng của lực lượng cách mạng trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ. Từ những năm 1947–1949, khu vực Đồng Xanh – Đồng Nghệ được lựa chọn làm nơi đặt cơ quan lãnh đạo của Huyện ủy Hòa Vang. Đến năm 1955, Tỉnh ủy Quảng Đà xây dựng căn cứ cách mạng cánh Tây Hòa Vang (mật danh B1), biến nơi đây thành trung tâm chỉ đạo phong trào cách mạng của khu vực phía tây và tây bắc. Trong thời gian này, Hòn đá Đà Nẵng và Hòn đá Non Nước trở thành những biểu tượng thiêng liêng của tinh thần yêu nước và ý chí đấu tranh kiên cường. Từ năm 1960, khu vực tam giác Phú Túc – Ô Rây – Tống Cói tiếp tục được chọn làm căn cứ địa kháng chiến của Huyện ủy Hòa Vang. Đây là nơi làm việc, chỉ đạo và hoạt động của nhiều cán bộ lãnh đạo huyện, đồng thời là địa điểm tổ chức các hội nghị, đại hội Đảng bộ, huấn luyện quân sự và chính trị cho lực lượng cách mạng trong những năm kháng chiến chống Mỹ. Địa hình rừng núi hiểm trở đã góp phần che chở, bảo vệ các cơ quan đầu não trước nhiều cuộc càn quét của đối phương. Trong suốt hai cuộc kháng chiến, Khu căn cứ cách mạng Huyện ủy Hòa Vang giữ vai trò là trung tâm lãnh đạo, chỉ huy và hậu cứ quan trọng của phong trào cách mạng địa phương, gắn liền với nhiều sự kiện lịch sử và hoạt động của các cán bộ lãnh đạo cấp tỉnh, khu và huyện. Để gìn giữ những giá trị lịch sử đó, khu di tích đã được đầu tư xây dựng nhà trưng bày, bia tưởng niệm cùng các hạng mục phục vụ tham quan. Ngày nay, nơi đây trở thành địa chỉ đỏ giáo dục truyền thống yêu nước, tưởng nhớ các thế hệ cách mạng đi trước và là điểm đến giúp du khách tìm hiểu về lịch sử đấu tranh anh dũng của quân và dân Hòa Vang trong sự nghiệp giải phóng dân tộc. Theo: Báo Đà Nẵng

Đà Nẵng

547 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Hải Vân Quan

Hải Vân Quan

Hải Vân Quan là công trình quân sự phòng thủ được xây dựng vào năm 1826, dưới triều vua Minh Mạng. Di tích nằm trên đỉnh Đèo Hải Vân ở độ cao khoảng 496 m so với mực nước biển, tại ranh giới giữa thành phố Huế và thành phố Đà Nẵng. Đây là vị trí chiến lược trên tuyến giao thông Bắc – Nam, đồng thời là cửa ngõ bảo vệ kinh đô Huế từ phía nam. Từ thời các chúa Nguyễn, đèo Hải Vân đã được xem là vùng đất hiểm yếu, giữ vai trò quan trọng về quân sự và phòng thủ. Khi nhà Nguyễn chọn Huế làm kinh đô, nơi đây càng được coi là "yết hầu" của đất nước. Chính vì vậy, vua Minh Mạng đã cho xây dựng Hải Vân Quan nhằm kiểm soát con đường thiên lý và tăng cường bảo vệ kinh thành. Công trình gồm hai cổng thành lớn xây bằng gạch đá theo kiến trúc vòm cuốn. Cổng quay về phía Đà Nẵng khắc ba chữ "Hải Vân Quan", còn cổng hướng về Huế khắc sáu chữ "Thiên hạ đệ nhất hùng quan" – lời ca ngợi vẻ đẹp hùng vĩ và vị thế hiểm yếu của đèo Hải Vân. Bao quanh cửa quan là hệ thống tường thành kiên cố cùng các hạng mục quân sự như đồn trú, kho vũ khí và vị trí quan sát. Trải qua nhiều biến động lịch sử, đặc biệt trong thời kỳ Pháp thuộc và chiến tranh, Hải Vân Quan bị cải tạo thành cứ điểm quân sự, nhiều hạng mục kiến trúc gốc bị phá hủy hoặc xuống cấp. Đến năm 2017, di tích được xếp hạng Di tích quốc gia, và từ năm 2021, Huế và Đà Nẵng đã phối hợp triển khai dự án trùng tu, phục hồi các hạng mục quan trọng, góp phần khôi phục diện mạo vốn có của công trình. Ngày nay, Hải Vân Quan không chỉ là di tích lịch sử có giá trị đặc biệt mà còn là điểm dừng chân nổi tiếng trên cung đường đèo Hải Vân. Từ đây, du khách có thể phóng tầm mắt ngắm toàn cảnh núi non, biển cả và một trong những cung đường ven biển đẹp nhất Việt Nam. Với giá trị lịch sử, kiến trúc và cảnh quan độc đáo, Hải Vân Quan là điểm đến không thể bỏ qua trong hành trình khám phá miền Trung. Theo: Thông tấn xã Việt Nam

Đà Nẵng

1466 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Mộ ông Banjiro - thương nhân Nhật Bản

Mộ ông Banjiro - thương nhân Nhật Bản

Mộ ông Banjiro - thương nhân Nhật Bản - Khối Trường Lệ - Xã Cẩm Hà Ông Banjiro là một thương gia Nhật Bản mất tại Hội An. Mộ ở gần đường từ phố cổ đi xuống biển An Bàng và còn giữ được những dấu vết nguyên thuỷ xây dựng từ thế kỷ XVII. Bia mộ có niên đại 1665. Phía sau mộ có một tấm bia bằng xi măng khắc chìm chữ Nhật, nội dung như sau: “Năm Chiêu Hoà thứ 3 (1928) theo đề xuất của giáo sư văn học Kuroita Katsumi, tập thể người Nhật cư trú tại Đông Dương (nay là Việt Nam, Campuchia, Lào) đề nghị ông Nakayama phụ trách giám sát việc tu sửa ngôi mộ này”. Gần đây Hội An tiếp tục tu bổ giữ gìn chu đáo ngôi mộ này. Di tích được xếp hạng di tích quốc gia năm 1991. Mộ ông Banjiro xây bằng hợp chất vôi, cát, nước vỏ cây, mật mía... Nấm mộ hình yên ngựa, quay hướng Đông Bắc, kích thước 190cm x 85cm. Trước mặt mộ có một tấm bia làm bằng đá muối, hai bên có 2 hàng chữ. Trước đây ngôi mộ này không có người trông nom, tu sửa. Sau khi Bộ Văn hóa ra quyết định công nhận Khu phố cổ Hội An, khu mộ này thường xuyên được Ban Quản lý Di tích Hội An quan tâm bảo quản và tu sửa. Hiện tại ngôi mộ được gia đình ông Nguyễn Nước thường xuyên trông nom, thắp hương. Di tích góp phần làm sáng tỏ quá trình hình thành Khu phố cổ Hội An, nhất là thời kỳ thương nhân Nhật Bản đến Hội An trao đổi buôn bán. Nguồn: Đô thị cổ Hội An

Đà Nẵng

522 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Khu di tích Đặc Khu ủy Quảng Đà

Khu di tích Đặc Khu ủy Quảng Đà

Khu di tích Đặc Khu ủy Quảng Đà Hòn Tàu là dãy núi giáp ranh giữa Duy Xuyên, Nông Sơn và Quế Sơn. Với vị trí chiến lược, nơi đây đã được Đặc Khu ủy Quảng Đà chọn làm căn cứ cách mạng trong 8 năm cuối cuộc chiến chống Mỹ (1967-1975). Với quyết tâm “Tất cả cho tổng công kích, tất cả cho tổng khởi nghĩa Xuân Mậu Thân 1968”, Đặc Khu ủy Quảng Đà chủ trương chỉ đạo tập trung huy động mọi lực lượng chuẩn bị nổi dậy. Căn cứ Hòn Tàu là nơi quan và dân ta chịu nhiều hy sinh, mất mát. Nhiều đồng chí là lãnh đạo Đặc Khu ủy và hàng trăm cán bộ, chiến sĩ đã anh dũng hy sinh. Đặc biệt, có 10 cán bộ, nhân viên của Ban Tuyên huấn hy sinh do bị bom B52 của Mỹ đánh sập nơi ở và làm việc vào sáng 22/5/1972. Mặc dù chịu nhiều hy sinh, mất mát, cán bộ, chiến sĩ Đặc Khu ủy Quảng Đà vẫn vững vàng tiếp tục thực hiện việc chỉ đạo các cuộc tiến công chiến lược, quyết định nhiều chủ trương quan trọng, hợp đồng chặt chẽ với các cánh quân chủ lực giải phóng các huyện phía Tây của tỉnh Quảng Nam, tạo thế gọng kìm, góp phần hoàn thành chiến dịch giải phóng Đà Nẵng năm 1975. Năm 2012, di tích Hòn Tàu được Bộ VHTT&DL xếp hạng Di tích Lịch sử cấp quốc gia. Sau khi có quyết định xếp hạng di tích, Sở VHTT&DL tỉnh Quảng Nam đã lập hồ sơ trình Bộ VHTT&DL phê duyệt và triển khai lập dự án phục dựng di tích. Qua hơn 2 năm triển khai thực hiện, đến nay Khu di tích Đặc Khu ủy Quảng Đà cơ bản đã hoàn thành đúng dịp kỷ niệm 50 năm thành lập Đặc Khu ủy (tháng 10/1967 - tháng 10/2017). Nguồn: Báo Chính Phủ

Đà Nẵng

718 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Di tích lịch sử Đồn Cao

Di tích lịch sử Đồn Cao

Đồn Cao Đồng Văn nằm trên ngọn núi cao giữa thung lũng thuộc thị trấn Đồng Văn, trong vùng Công viên địa chất toàn cầu UNESCO Cao nguyên đá Đồng Văn. Không chỉ là một di tích lịch sử, Đồn Cao còn là điểm ngắm cảnh lý tưởng để chiêm ngưỡng toàn bộ thị trấn Đồng Văn và khung cảnh hùng vĩ của cao nguyên đá. Đồn Cao, còn gọi là đồn Chang Poung, được thực dân Pháp xây dựng khoảng năm 1925 trên đỉnh núi cao khoảng 1.200 m so với mực nước biển. Công trình được xây chủ yếu bằng đá với hệ thống tường thành kiên cố, lô cốt, lỗ châu mai và các bậc đá dẫn lên đỉnh, từng là vị trí quân sự quan trọng trong thời kỳ Pháp thuộc. Trải qua thời gian, nhiều hạng mục đã xuống cấp và được trùng tu một phần vào năm 2013 nhằm bảo tồn giá trị của di tích. Từ Đồn Cao, du khách có thể phóng tầm mắt ngắm nhìn toàn cảnh thị trấn Đồng Văn với những ngôi nhà mái ngói nép mình giữa núi đá, cánh đồng làng Nghiến, núi Tù Sán, đèo Sì Phai cùng những dãy núi đá tai mèo trùng điệp – nét đặc trưng của vùng cực Bắc Việt Nam. Vào sáng sớm hoặc chiều muộn, khung cảnh mây núi hòa quyện tạo nên một bức tranh thiên nhiên vừa hùng vĩ vừa thơ mộng. Ngày nay, Đồn Cao là điểm dừng chân không thể bỏ qua trong hành trình khám phá Đồng Văn. Bên cạnh giá trị lịch sử, nơi đây còn mang đến cho du khách cơ hội cảm nhận vẻ đẹp của phố cổ, thiên nhiên và cuộc sống bình yên của đồng bào vùng cao, góp phần làm phong phú thêm trải nghiệm khi đến với Cao nguyên đá Đồng Văn. Theo Báo Tuyên Quang

Tuyên Quang

1476 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp tỉnh

Mở

Đường đá cổ Pavie

Đường đá cổ Pavie

Đường đá cổ Pavie là tuyến đường cổ được người Pháp khảo sát, thiết kế và xây dựng vào đầu thế kỷ XX, từng là tuyến giao thông huyết mạch nối huyện Phong Thổ với huyện Bát Xát. Con đường ẩn mình giữa núi rừng Tây Bắc, được lát hoàn toàn bằng những phiến đá tự nhiên, rộng khoảng 3 m, thuận tiện cho người đi bộ và ngựa thồ. Đến nay, khoảng 17 km đường đá vẫn còn được bảo tồn gần như nguyên vẹn, trở thành một di sản quý giá, phản ánh kỹ thuật xây dựng và lịch sử giao thương của vùng biên giới Tây Bắc. Men theo con đường cổ, du khách sẽ được chiêm ngưỡng những cánh rừng nguyên sinh, núi non hùng vĩ, suối thác và những thửa ruộng bậc thang đặc trưng của vùng cao. Không chỉ có giá trị lịch sử, đường đá cổ Pavie còn là nơi giao thoa văn hóa của đồng bào Dao, Mông và nhiều dân tộc sinh sống dọc tuyến đường. Hành trình khám phá con đường đưa du khách đến với những bản làng vùng cao, nơi vẫn lưu giữ nhiều nét văn hóa truyền thống, nghề thủ công, phong tục tập quán và ẩm thực đặc sắc. Tuyến đường kết nối nhiều điểm đến hấp dẫn như Sin Suối Hồ – bản du lịch cộng đồng nổi tiếng của Lai Châu và Dền Sáng, tạo điều kiện thuận lợi để phát triển các loại hình du lịch trekking, khám phá thiên nhiên, trải nghiệm văn hóa bản địa và du lịch sinh thái. Với cảnh quan thiên nhiên nguyên sơ, dấu ấn lịch sử độc đáo cùng bản sắc văn hóa đặc sắc của đồng bào các dân tộc vùng cao, Đường đá cổ Pavie được đánh giá là một trong những tuyến du lịch khám phá giàu tiềm năng của khu vực Tây Bắc, góp phần bảo tồn di sản và phát triển du lịch bền vững gắn với cộng đồng địa phương. Theo Báo Lao Động

Lai Châu

1341 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp tỉnh

Mở

Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam

Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam

Thành lập ngày 17/7/1956 với tên gọi ban đầu là Bảo tàng Quân đội, có địa điểm bên cạnh Cột cờ Hà Nội, mở cửa đón khách tham quan từ ngày 22/12/1959. Trải qua quá trình xây dựng, phát triển và không ngừng lớn mạnh, Bảo tàng được đổi tên thành Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam vào năm 2002 và chính thức đón khách tham quan tại vị trí Đại lộ Thăng Long, Phường Đại Mỗ, Tây Mỗ, Quận Nam Từ Liêm, Thành phố Hà Nội (nay là Phường Xuân Phương, Thành phố Hà Nội) vào tháng 11/2024 . Bảo tàng có chức năng nghiên cứu, sưu tầm, kiểm kê, bảo quản, trưng bày, tuyên truyền giá trị các di sản văn hóa quân sự Việt Nam. Hệ thống trưng bày giới thiệu hàng nghìn hiện vật, được tổ chức, sắp xếp hiện đại, khoa học, phong phú, ứng dụng công nghệ hiện đại và trang thiết bị tiên tiến, phản ánh toàn diện lịch sử đấu tranh chống giặc ngoại xâm, giành độc lập của dân tộc Việt Nam; sự hình thành và phát triển của lực lượng vũ trang nhân dân, nòng cốt là Quân đội nhân dân Việt Nam trong các thời kỳ cách mạng. Thông qua hệ thống trưng bày cũng như các hoạt động giáo dục, Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam góp phần giúp quý khách tham quan hiểu thêm về kho tàng di sản văn hóa quân sự Việt Nam, cảm nhận sự kết nối mạnh mẽ với quá khứ, hiểu thêm về lịch sử hào hùng của dân tộc Việt Nam, trân trọng những giá trị đang có và hướng tới tương lai tươi sáng tốt đẹp hơn.

Hà Nội

1651 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Hang Mường Tỉnh (thường được biết đến là hang động Chua Ta)

Hang Mường Tỉnh (thường được biết đến là hang động Chua Ta)

Hang Mường Tỉnh (thường được biết đến là hang động Chua Ta) tại Điện Biên là một tuyệt tác thiên nhiên kỳ vĩ, nổi bật với hệ thống nhũ đá, măng đá đa dạng, lấp lánh hình thù độc đáo như ruộng bậc thang, mâm xôi, tạo nét quyến rũ riêng. Hang có cửa nhỏ hẹp nhưng lòng hang rộng, có suối chảy trong hang, mang lại không gian bí ẩn và âm thanh róc rách, là điểm du lịch khám phá hấp dẫn. Hang được xếp hạng di tích lịch sử cấp quốc gia theo quyết định số 1256/QĐ-BVHTTDL ngày 14/04/2011 Thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp hang Mường Tỉnh là căn cứ kháng chiến quan trọng, nơi trú chân của các cơ quan tỉnh, bộ đội,... đặc biệt là trong giải phóng Điện Biên lần thứ nhất năm 1953. Hang Mường Tỉnh gồm có 3 ngăn chính. Ngăn ngoài cùng có cửa hang hẹp, với diện tích khoảng 600 m², chiều cao 20 m, có không gian thoáng đãng, và một bãi đất bằng phẳng. Đây là điều kiện lý tưởng để tổ chức các cuộc họp có sức chứa hàng trăm người mà vẫn giữ được bí mật. Ngăn giữa phải trườn mình qua một đường hầm xuyên đá tự nhiên. Vào bên trong là một không gian với diện tích khoảng 20 m², xung quanh là các bức tường bằng đá, với những hốc đá nhỏ, sâu vào bên trong. Đây là nơi cất giấu tài liệu của cách mạng, với hệ thống bàn làm việc, giường ngủ hoàn toàn bằng đá được sắp xếp tự nhiên nhưng rất hợp lý. Đây là nơi vừa bí mật, nhưng cũng rất đảm bảo an toàn khi có biến cố xảy ra, có một đường nhỏ xuyên lên đỉnh núi, các chiến sĩ có thể chui ra ngoài rừng mà địch vẫn không thể phát hiện. Bên trong là ngăn thứ 3, rộng khoảng 30 m². Hang động Chua Ta là một điểm đến lý tưởng cho những người đam mê khám phá thiên nhiên và tìm kiếm sự trải nghiệm độc đáo khi đến Điện Biên

Điện Biên

1836 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Thành Bản Phủ

Thành Bản Phủ

Thành Bản Phủ (hay còn có tên là thành Chiềng Lề) thuộc địa phận xã Noọng Hẹt, tỉnh Điện Biên, cách trung tâm thành phố Điện Biên Phủ 8 km về phía nam. Thành Bản Phủ là một di tích lịch sử quốc gia do anh hùng Hoàng Công Chất xây dựng (1758-1762) để chống giặc Phẻ, để làm căn cứ vững chắc, thủ phủ nghĩa quân trong cuộc chiến đấu giải phóng Mường Thanh. Tại thành nội Bản Phủ, sau khi tướng Hoàng Công Chất qua đời (ngày 25/2/1767 âm lịch), để tỏ lòng biết ơn người anh hùng đã có công dẹp giặc ngoại xâm đem lại cuộc sống yên bình cho nhân dân, nhân dân Mường Thanh đã lập đền thờ linh chúa Hoàng Công Chất và 06 vị thần quận công: Lò Ngải, Bạc Cầm Khanh, Hoàng Công Toản, Bun Phanh, Vũ Tả, Nguyễn Hữu, được dân gian gọi chung là đền Hoàng Công Chất. Đây là công trình kiến trúc quân sự cổ độc đáo với hào sâu, thành cao, đền thờ Hoàng Công Chất.Thành Bản Phủ là biểu tượng của tinh thần đoàn kết, kiên cường của quân và dân ta trong việc bảo vệ biên cương tổ quốc, là điểm tham quan lịch sử văn hóa quan trọng.

Điện Biên

2710 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Tượng đài Chiến thắng Điện Biên Phủ

Tượng đài Chiến thắng Điện Biên Phủ

Tượng đài Chiến thắng Điện Biên Phủ, tọa lạc trên đồi D1, thành phố Điện Biên Phủ, là tượng đài bằng đồng lớn nhất Việt Nam, biểu tượng cho chiến thắng lừng lẫy năm 1954.Công trình Tượng đài Chiến thắng Điện Biên Phủ cao 16,6m, gồm 3 bộ đội nâng em bé Thái và lá cờ quyết thắng, thể hiện tinh thần đoàn kết, ý chí kiên cường của dân tộc. Lối lên tượng đài gồm 320 bậc thang, chia thành 3 chiếu nghỉ tương ứng 3 đợt tấn công, hai bên là 56 cột mốc đá xanh tượng trưng 56 ngày đêm chiến đấu. Tượng đài Chiến thắng Điện Biên Phủ được khánh thành năm 2004 (kỷ niệm 50 năm chiến thắng), đây là điểm tham quan lịch sử quan trọng, ghi dấu chiến công "lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu"

Điện Biên

2215 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Bảo tàng chiến thắng lich sử Điện Biên Phủ

Bảo tàng chiến thắng lich sử Điện Biên Phủ

Bảo tàng Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ tọa lạc tại quốc lộ 279, phố 3, phường Mường Thanh, thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên. Được khởi công xây dựng từ tháng 10/2012 trên diện tích 22.000m2 và chính thức mở cửa đón khách vào ngày 5/5/2014 sau 19 tháng thi công, Bảo tàng chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ là công trình quy mô, hoành tráng và hiện đại nhất tỉnh Điện Biên hiện nay. Nhà bảo tàng được thiết kế dạng hình nón cụt, phần trang trí xung quanh được tạo hình quả trám tượng trưng như tấm lưới ngụy trang của chiếc mũ anh bộ đội, gồm 1 tầng hầm và 1 tầng nổi. Trong đó, tầng hầm là nơi đón tiếp khách tham quan, không gian học tập, tương tác và các dịch vụ vui chơi giải trí. Tầng nổi là không gian trưng bày cố định chuyên đề chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ, không gian panorama (toàn cảnh) và bộ phận làm việc. Với diện tích 1.250m² bảo tàng trưng bày gần 1.000 hiện vật, tài liệu, hình ảnh, bản đồ, kết hợp cùng các mô hình cảnh quan giả, ánh sáng hiện đại để tái hiện lại "chảo lửa" Điện Biên năm xưa. Bảo tàng Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ không chỉ là nơi tham quan, tìm hiểu lịch sử mà còn là niềm tự hào của người dân cả nước về một thời kỳ oanh liệt "lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu"

Điện Biên

1798 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Hầm chỉ huy tướng De Castries

Hầm chỉ huy tướng De Castries

Hầm chỉ huy tướng De Castries là di tích lịch sử đặc biệt nằm tại trung tâm tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, TP. Điện Biên Phủ. Đây là nơi làm việc của tướng Christian De Castries vào năm 1954, được xây dựng kiên cố với cấu trúc 20m dài, 8m rộng, là biểu tượng cho thất bại của Pháp. Nơi đây nổi tiếng với sự kiện lá cờ "Quyết chiến - Quyết thắng" tung bay ngày 7/5/1954. Vào hồi 17h30 ngày 7/5/1954, đại đội trưởng Tạ Quốc Luật (Sư đoàn 312) đã bắt sống tướng De Castries tại bàn làm việc của ông ta trong căn hầm này, đánh dấu sự toàn thắng của Chiến dịch Điện Biên Phủ. Hiện nay, hầm vẫn được bảo tồn nguyên vẹn và là một trong 23 di tích quốc gia đặc biệt, thu hút đông đảo du khách tham quan, tìm hiểu lịch sử. Hầm De Castries không chỉ là một di tích quân sự mà còn là nhân chứng sống cho ý chí chiến đấu oai hùng của dân tộc Việt Nam.

Điện Biên

1986 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Đình Vĩnh Phong

Đình Vĩnh Phong

Đình Vĩnh Phong là ngôi đình cổ của làng Vĩnh Phong, nay thuộc thị trấn Thủ Thừa có từ đầu thế kỷ thứ XIX. Đình Vĩnh Phong, nơi lưu niệm ông Mai Tự Thừa, người đã có công khai cơ lập làng, lập chợ tạo nên sự phồn thịnh của Thị trấn Thủ Thừa ngày nay. Khoảng cuối thế kỷ XVIII, ông Mai Tự Thừa đến làng Bình Lương Tây khai khẩn một dây đất 4 mẩu dọc theo kinh Trà Cú (kinh Thủ Thừa) và cất một ngôi quán nhỏ ở bờ kinh để buôn bán. Do quán của ông ở ngay giáp nước kinh Trà Cú nên ghe thương hồ tụ hội mua bán, trao đổi rất đông, dân cư tìm đến sinh sống ngày một nhiều. Vì thế ông Mai Tự Thừa đã đắp đường, làm bến ghe và lập một cái chợ bằng lá để có nơi mua bán, đó chính là chợ Thủ Thừa ngày nay. Dần dần, dân số xung quanh khu vực chợ phát triển, ông Mai Tự Thừa liền làm đơn xin tách khỏi làng Bình Lương Tây, lập làng mới lấy tên là làng Bình Thạnh. Ông còn hiến một khoảnh đất để cất đình làng - đó chính là tiền thân của đình Vĩnh Phong ngày nay. Tương truyền, ông Mai Tự Thừa đã đóng góp nhiều công của trong việc nạo vét kinh Trà Cú vào năm 1829 và tham gia vào cuộc khởi nghĩa của Lê Văn Khôi rồi mất tích. Vì thế, tài sản của ông gồm cái chợ và ruộng đất bị triều đình sung công và phát mãi, vợ con ông cũng bị lưu đày. Làng Bình Thạnh do ông lập cũng bị đổi tên thành làng Vĩnh Phong, đình làng cũng bị dời đi nơi khác. Mãi sau này khi Thực dân Pháp chiếm Nam Bộ, Triều Nguyễn không còn thế lực ở phương Nam nên đồng bào quanh chợ Thủ Thừa mới quyên tiền xây cất lại đình Vĩnh Phong năm 1886 và đưa bài vị ông Mai Tự Thừa vào thờ với 7 chử hán: ''Tiền hiền Mai Tự Thừa – Chủ thị''. Qua nhiều lần trùng tu, gần nhất vào năm 1998, đình Vĩnh Phong vẫn còn giữ được phong cách kiến trúc cuối thời Nguyễn. Hiện tại đình Vĩnh Phong nằm trong khuôn viên 1132m2 với 3 lớp nhà: võ ca, võ quy, chánh điện trông ra kinh Thủ Thừa. Chánh điện đình Vĩnh Phong được xây dựng theo lối cổ với kết cấu cột tứ trụ, mái lợp ngói âm dương, trên nóc có đôi rồng bằng sành trong tư thế lưỡng long tranh châu. Bên trong chánh điện được bài trí rất trang nghiêm với 2 lớp bao lam, 3 bàn thờ, Long Đình và Lỗ Bộ. Bao lam bên ngoài là tuyệt tác của cánh thợ Thủ Dầu Một có niên đại Mậu Ngọ (1918). Các nghệ nhân đã thể hiện trên bao lam này các đề tài truyền thống như Tứ linh (Long, Lân, Quy, Phụng), Tứ hữu (Mai, Lan, Cúc, Trúc), Bá điểu quy sào. Bên trên bao lam có những khung gỗ kết cấu theo kiểu ô hộc chạm long hình tượng Long Mã, Mai Lộc, Cuốn thư, Cá hóa Long, Dơi, hết sức tinh xảo. Trước bàn thờ chính là bộ bao lam cổ có niên đại Bính Tuất (1886). Vẫn là đề tài tứ hữu, nhưng các chi tiết trên bộ bao lam này được tạo dáng to khỏe mang phong cách cuối thế kỷ XIX. Nét đặc biệt ở bao lam này là nghệ thuật sơn son thếp vàng hết sức tinh xảo. Trải qua thời gian hơn 100 năm mà bộ bao lam này vẫn còn nguyên vẻ rực rở như buổi ban đầu. Chánh điện đình Vĩnh Phong hiện còn 2 bức hoành phi cổ cùng 8 cặp liễn đối có giá trị niên đại Bính Tuất (1886) và Bính Thìn (1916). Đa số các câu đối đều viết theo lối quán thủ (2 chữ đầu của 2 câu đối ghép lại thành tên Đình hoặc tên Thủ Thừa). Đặc biệt cặp liển ở bàn thờ ông Mai Tự Thừa đã nêu bật được công lao to lớn của ông và tấm lòng tri ân sâu sắc của nhân dân Thủ Thừa đối với ông. Chính vì lẽ đó mà ngày nay hàng loạt địa danh ở Long An được đặt là Thủ Thừa như kinh Thủ Thừa (kinh Trà Cú), chợ Thủ Thừa, quận Thủ Thừa (có từ năm 1922). Trên mảnh đất ngày xưa ông Mai Tự Thừa đã quy dân, lập chợ, lập làng, vét kinh, đắp lộ, ngày nay là một thị trấn dân cư đông đúc, kinh tế thịnh vượng, đình Vĩnh Phong vẫn còn đó như nhắc nhở cho chúng ta về một thời đã qua. Đến với đình Vĩnh Phong, chúng ta được chiêm ngưỡng nghệ thuật chạm trổ tài hoa của những nghệ nhân thời trước, hiểu thêm về những đóng góp lớn lao của ông Mai Tự Thừa trong quá trình khai phá đất đai của cha ông chúng ta. Với ý nghĩa ấy, đình Vĩnh Phong đã được Bộ Văn Hóa Thông Tinh ra quyết định xếp hạng là di tích Quốc gia vào ngày 31/8/1998. Nguồn Cổng thông tin điện tử tỉnh Long An ​

Tây Ninh

6646 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia.

Mở

Di tích nổi bật

Xem tất cả
Khu di tích Láng Le Bàu Cò

Khu di tích Láng Le Bàu Cò

Khu di tích Láng Le Bàu Cò tọa lạc tại xã Tân Nhựt, huyện Bình Chánh, Tp HCM. Láng Le Bàu Cò gắn liền với cuộc kháng chiến chống Pháp xâm lược vào năm 1948 với những trận đánh lớn đi vào lịch sử. Di tích Láng Le Bàu Cò được công nhận là di tích lịch sử cấp thành phố vào năm 2003. Sở dĩ được gọi tên là khu di tích Láng Le Bàu Cò vì Tên gọi của khu di tích Láng Le Bàu Cò là do người dân địa phương đặt ra. Xóm làng được thành lập cạnh những con kênh rạch chằng chịt và dòng sông. Láng Le Bàu Cò có vị trí nằm ở bên trong cánh đồng có diện tích rộng lớn và có rất nhiều tôm, cua, cá. Cùng với nhiều loài chim như vịt trời, cò, con le le, cúm núm, cồng cộc, đa đa, diệc, đỏ nách tới kiếm ăn tại đây. Vì vậy, người dân Tân Nhựt gọi với cái tên thân thuộc và mộc mạc đó là Láng Le Bàu Cò. Di tích Láng Le Bàu Cò được xem là cửa ngõ để di chuyển tới trung tâm căn cứ Vườn Thơm và tấn công cơ quan đầu não của quân địch tại Sài Gòn. Trước đây khu di tích Láng Le Bàu Cò vốn là cánh đồng lau sậy mọc um tùm. Vào ngày 15/4/1948 thực dân Pháp đưa 3 nghìn quân lính cùng nhiều vũ khí hiện đại đồng loạt tấn công khu vực Láng Le Bàu Cò nhằm tiêu diệt căn cứ Vườn Thơm. Khi đó lực lượng vũ trang cách mạng ở Láng Le - Bàu vì lực lượng nhỏ và vũ khí thô sơ tuy nhiên được sự giúp đỡ của người dân địa phương cùng với lợi thế về địa hình. Chỉ sau hơn nửa ngày đấu tranh đã chuyển sang tấn công khiến quân Pháp bị thương vong với số lượng lớn. Chiến thắng Láng Le Bàu Cò đã tiêu diệt 300 tên địch và bắt sống 30 lính đánh thuê cùng phá hủy nhiều máy móc, xe nhà binh, súng các loại của quân giặc. Tuy nhiên, về phía ta có nhiều cán bộ chiến sĩ đã anh dũng hy sinh với tuổi đời còn rất trẻ. Ngày 14/10/1966 tại Láng Le tiểu đoàn biệt động quân Việt Nam Cộng Hòa bị dân quân du khách tiêu diệt. Khu di tích Láng Le Bàu Cò có ý nghĩa lịch sử to lớn đối với người dân Sài Gòn nói riêng và cả nước nói chung. Trước lòng căm thù thực dân Pháp, quân dân Láng Le Bàu Cò đã có cuộc chiến vang lừng lịch sử và có ý nghĩa to lớn mở đầu cho phía ta và phía địch. Đối với phía ta trận đánh mở đầu cho sự anh dũng trong tư thế kháng chiến vững mạnh. Còn với quân địch đã phải lùi vào thế bỏ chiến lược và bị tiêu diệt. Thực dân Pháp không còn định hình được chiến lược đánh bại Việt Minh. Hơn thế, tại căn cứ Vườn Thơm, Láng Le Bàu Cò còn diễn ra trận chiến quyết tâm bảo vệ căn cứ của ta và đập tan mọi kế hoạch phá hoại của quân giặc. Khu di tích Láng Le Bàu Cò sau phong trào Đồng Khởi vào năm 1960 còn là hậu cần, bàn đạp của lực lượng vũ trang để giải phóng Long An - Sài Gòn - Gia Định. Để tưởng nhớ sự hy sinh của đồng bào và các chiến sĩ của ta, vào năm 1988 huyện Bình Chánh đã xây dựng công trình lịch sử tại vùng đất Láng Le Bàu Cò với diện tích rộng 1000m2. Nguồn: Báo thông tin điện tử TP Hồ Chí Minh

TP Hồ Chí Minh

17906 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp thành phố

Mở

Di Tích Lịch Sử Nhà Lao Tân Hiệp

Di Tích Lịch Sử Nhà Lao Tân Hiệp

Nhà lao Tân Hiệp còn có tên là "Trung tâm cải huấn Tân Hiệp" tọa lạc ở khu phố 6, phường Tân Tiến, TP Biên Hòa. Di tích Nhà lao Tân Hiệp đã được Bộ Văn Hoá Thể Thao xếp hạng là di tích cấp quốc gia ngày 15-1-1994. Nhà lao Tân Hiệp là một trong sáu nhà tù lớn nhất miền Nam Việt Nam và là nhà tù lớn nhất vùng Đông Nam bộ, được xây dựng ở vị trí quân sự quan trọng, án ngữ phía đông bắc thị xã Biên Hòa. Phía trước là quốc lộ 1; phía sau là đường xe lửa Bắc - Nam. Đây là vị trí biệt lập, thuận tiện trong giao thông, dễ dàng cho việc bảo vệ, canh gác, nhận tù từ nơi khác đến và chuyển tù đi Côn Đảo, Phú Quốc... Nhà lao Tân Hiệp có diện tích 46.520m2 với 8 trại giam, trong đó có 5 trại giam những người tù cộng sản, người yêu nước. Xung quanh nhà tù được bao bọc bởi 4 lớp kẽm gai bùng nhùng với 9 lô cốt, 3 tháp canh cùng đội lính bảo vệ và hệ thống báo động tối tân. Mang tên "Trung tâm cải huấn" nhưng thực chất bên trong là kho súng, phòng xét hỏi, tra tấn với những dụng cụ hiện đại bậc nhất. Mỗi trại giam chỉ có diện tích gần 200m2 nhưng giam giữ từ 300-400 người, có lúc lên đến cả ngàn người. Đặc biệt ở đây có các phòng "cải hối", "chuồng cọp" rất nhỏ hẹp và điều kiện sinh hoạt cực kỳ khắc nghiệt, tù nhân sống chẳng khác gì trong lò thiêu xác. Chế độ ăn uống cực kỳ mất vệ sinh, bọn cai ngục mua gạo mục, cá thối dùng để bón ruộng, chiên bằng dầu luyn cho tù nhân ăn dẫn đến nhiều người bị ngộ độc. Với quyết tâm thoát khỏi nhà tù đế quốc, trở về với Đảng, với nhân dân để tiếp tục chiến đấu, giải phóng dân tộc, ngày 2-12-1956, được sự nhất trí của Liên Tỉnh ủy miền Đông, những chiến sĩ cộng sản bị "câu lưu" trong nhà lao Tân Hiệp dưới sự chỉ đạo trực tiếp của đồng chí Nguyễn Trọng Tâm (Bảy Tâm) - phụ trách Đảng ủy nhà tù và một số đồng chí khác đã bất thần làm một cuộc phá xiềng tập thể giải thoát gần 500 đồng chí, đồng bào yêu nước. Sự kiện này đã làm xôn xao cả Lầu Năm Góc. Mỹ - Diệm vội vã huy động cả quân chủ lực lẫn bảo an, dân vệ đang trấn thủ 3 tỉnh Biên Hòa, Bà Rịa, Thủ Dầu Một và hai biệt đoàn biệt động quân đến bủa lưới bao vây, truy bắt đoàn tù nhưng đều thất bại. Các đồng chí, đồng bào của ta thoát khỏi nhà lao Tân Hiệp đã được sự giúp đỡ, che chở của các cơ sở địa phương, trở về căn cứ an toàn. Trong số tù nhân vượt ngục có các đồng chí: Bảy Tâm, Hai Thông, Lý Văn Sâm... đã trở thành những hạt nhân nòng cốt cho phong trào Đồng Khởi sau này. Năm 2001, để tái hiện phần nào tội ác của Mỹ - Diệm đối với các đồng chí, đồng bào ta bị giam cầm tại nhà lao Tân Hiệp và diễn tả lại toàn bộ cuộc nổi dậy phá khám Tân Hiệp ngày 2-12-1956, Bảo tàng Đồng Nai đã tiến hành sưu tầm hình ảnh, tài liệu, hiện vật trưng bày tại di tích và làm một sa bàn để phục vụ nhu cầu nghiên cứu, tham quan của mọi tầng lớp nhân dân. Hàng ngày, di tích luôn mở cửa đón khách tham quan. Nguồn: Báo Đồng Nai Điện Tử

Đồng Nai

16418 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Đền thờ Nguyễn Hữu Cảnh

Đền thờ Nguyễn Hữu Cảnh

Đền thờ Nguyễn Hữu Cảnh còn gọi là đình Bình Kính tọa lạc bên tả ngạn sông Đồng Nai, xưa kia thuộc ấp Bình Kính, thôn Bình Hoành, tổng Trấn Biên, nay là ấp Nhị Hòa, xã Hiệp Hòa, TP Biên Hòa, đã được Bộ Văn Hoá – Thông Tin – Thể Thao & Du Lịch xếp hạng là di tích lịch sử cấp quốc gia ngày 25-3-1991. Đền thờ Nguyễn Hữu Cảnh được xây dựng vào khoảng cuối thế kỷ 18, ban đầu ngôi đền có qui mô nhỏ, vách làm bằng ván, mái ngói âm dương, cách ngôi đền hiện tại khoảng 400m về hướng Nam. Các tư liệu cho biết: ngôi đền được xây dựng lại lần đầu tiên vào năm Tự Đức thứ tư (1851); đến năm 1923, đền được tái thiết lại ở địa điểm hiện nay. Nguyễn Hữu Cảnh sinh vào năm 1650 tại Gia Miêu, huyện Tống Sơn, tỉnh Thanh Hóa trong một gia đình có nhiều bậc danh tướng đương triều. Ông là người văn võ song toàn, lập được nhiều chiến công lớn và được chúa Nguyễn tin yêu, trọng vọng. Mùa Xuân năm Mậu Dần (1698), ông vâng lệnh chúa Nguyễn vào kinh lược xứ Đàng Trong khi ấy còn rất hoang vu. Đến đất Đồng Nai, ông đặt Đại bản doanh ở Cù lao Phố (nay là xã Hiệp Hòa); lấy đất Đồng Nai làm huyện Phước Long, dựng dinh Trấn Biên, lấy xứ Sài Gòn làm huyện Tân Bình, dựng dinh Phiên Trấn, đất đai mở mang ngàn dặm. Ông chiêu mộ lưu dân đến lập nghiệp, tổ chức bộ máy hành chính từng bước có qui củ, khuyến khích khai hoang, thúc đẩy Cù lao Phố phát triển thành một trong những cảng thị sầm uất, năng động nhất đàng Trong suốt thế kỷ 18 và chính thức sáp nhập vùng đất mới phương Nam vào bản đồ Đại Việt. Sau khi kinh lược phương Nam trở về, năm sau ông lại phụng mệnh chúa Nguyễn Phúc Chu thống lĩnh đại binh dẹp vua Chân Lạp giữ vững miền biên ải phương Nam. Tháng 4 năm Canh Thìn (1700), sau khi hoàn thành sứ mệnh, trên đường trở về đến Rạch Gầm (Tiền Giang) thì ông thọ bệnh qua đời nhằm ngày 16 tháng 5 âm lịch, thọ 51 tuổi. Trên đường di quan ông về quê an táng, quan tài của ông được đình lại khu đất khi xưa ông đặt Đại bản doanh ở Cù lao Phố để cho nhân dân địa phương có dịp bái biệt ông lần cuối. Nơi đình quan đã được nhân dân địa phương xây một ngôi mộ vọng để ghi nhớ sự kiện này. Khi hay tin Nguyễn Hữu Cảnh mất, Chúa Nguyễn vô cùng thương tiếc đã phong tặng ông là Thượng đẳng công thần đặc Trấn phủ Chưởng cơ với tước: Lễ Thành Hầu và đưa bài vị của ông vào thờ tại Thái miếu. Nguồn: Báo Đồng Nai Điện Tử

Đồng Nai

14975 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Di tích chiến thắng La Ngà

Di tích chiến thắng La Ngà

Di tích chiến thắng La Ngà (tại km số 104-112 trên quốc lộ 20 đi Đà Lạt, thuộc xã Phú Ngọc, huyện Định Quán) được Bộ Văn hóa xếp hạng di tích lịch sử cấp quốc gia ngày 12-12-1986. Để cổ vũ cho chiến thắng Việt Bắc thu - đông 1947 và cũng để giáng cho kẻ thù một đòn chí mạng, Ban chỉ huy chi đội 10 đã quyết định phải tổ chức một trận đánh lớn, để quân giặc thấy rằng dân tộc Việt Nam, con người Việt Nam không dễ dàng chịu khuất phục trước bất kì một kẻ thù nào; Bằng tinh thần quả cảm và sự khôn khéo sau gần nửa năm chuẩn bị, nghiên cứu địa hình, chọn địa điểm: vào lúc 15 giờ 12 phút ngày 1/3/1948 trận chiến phục kích La Ngà bắt đầu và kết thúc vào lúc 15 giờ 57 phút cùng ngày, chỉ trong vòng 45 phút. Chiến thắng La Ngà đã làm nức lòng nhân dân Định Quán nói riêng, quân dân Đồng Nai nói chung. Đây là chiến thắng thể hiện sự mưu trí, dũng cảm của quân và dân ta làm cho địch một phen kinh hồn, bạt phía. Từ chiến thắng này lực lượng ta ngày càng thêm lớn mạnh, góp phần đánh bại kế hoạch đánh nhanh, thắng nhanh của địch, buộc chúng phải rơi vào thế bị động. Quần thể danh thắng đá Chồng, Thác Mai, sông La Ngà và Tượng đài chiến thắng La Ngà là một quần thể du lịch kì thú của Định Quán. Vẻ đẹp kỳ thú của Hòn Ba Chồng, Núi Đá Voi, Hòn Dĩa, cùng với ngôi chùa thiên nhiên dưới chân núi đá là những cụm tiêu biểu tạo thành cảnh đẹp hài hòa cho khu danh thắng Đá Chồng. Quần thể Đá Chồng Định Quán còn là nơi lưu lại những dấu tích của cuộc sống người tiền sử. Tại đây dưới các mái đá, ven các khe suối và cả các sườn dốc ven thung lũng đã phát hiện nhiều công cụ sản xuất, sinh hoạt của người xưa bằng đá, đồng, đất nung. Trong suốt cuộc kháng chiến dài 30 năm. Định Quán là một phần quan trọng của Chiến khu Đ. Đá Chồng đã chứng kiến sự hình thành, phát triển, trú quân, triển khai chiến đấu của lực lượng cách mạng. Ngày nay, một phần đất của khu danh thắng Đá Chồng Định Quán đã được sử dụng, xây dựng thành khu Trung tâm văn hóa thể thao huyện Định Quán. Tương lai không xa khu danh thắng Đá Chồng Định Quán sẽ được đầu tư tôn tạo góp phần làm cho cảnh quan thiên nhiên ngày càng tươi đẹp, là địa điểm du lịch sinh thái hấp dẫn. Nguồn: Uỷ Ban Nhân Dân Huyện Định Quán

Đồng Nai

14802 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Tháp cổ Chót Mạt

Tháp cổ Chót Mạt

Di tích Lịch sử-Văn hóa Tháp Chót Mạt, tọa lạc ấp Xóm Tháp, xã Tân Phong, huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh, được Bộ Văn hóa Thông tin (nay là Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch) công nhận là di tích lịch sử - văn hóa ngày 23 tháng 7 năm 1993. Đồng thời là một trong ba công trình tháp cổ cuối cùng còn lại ở miền Nam nước ta. Trải qua nhiều lần trùng tu vào các năm 1938, 2003 và gần đây nhất là vào năm 2013. Mặc dù trải qua các đợt trùng tu tôn tạo, nhưng khu di tích tháp cổ Chót Mạt đã mang cho mình một diện mạo mới nhưng vẫn giữ nguyên được tinh thần kiến trúc cổ. Toàn bộ tòa Tháp được xây dựng bằng gạch và đá phiến với phần đỉnh tháp nhọn dần lên, từ mặt đất lên nơi cao nhất của đỉnh tháp được ước tính là 10m. Ngoài ra, ngọn tháp cổ này nằm trên gò đất cao giữa cánh đồng nên nhìn từ xa nó tựa như ngọn bút đang vươn lên cao dần. Năm 2003 Uỷ ban nhân dân tỉnh Tây Ninh quyết định phê duyệt dự án đầu tư trùng tu tôn tạo bảo tồn di tích tháp Chót Mạt và được tiến hành triển khai trùng tu tôn tạo phục hồi, trưng bày mở hố khai quật năm 2003 đưa vào sử dụng. Ngày 27/11/2019 UBND tỉnh ban hành Quyết định Quy định về phân cấp quản lý, bảo vệ và phát huy giá trị di tích lịch sử văn hóa và danh lam thắng cảnh trên địa bàn tỉnh Tây Ninh. Quyết định giao UBND huyện Tân Biên trực tiếp quản lý 4 di tích, trong đó có di tích cấp Quốc gia di tích Lịch sử- văn Hóa Tháp Chót Mạt. Đặc biệt Di tích Lịch sử-Văn hóa Tháp Chót Mạt trên địa bàn xã Tân Phong, huyện Tân Biên được chọn nằm trong chũi liên kết phát triển du lịch của Tỉnh Tây Ninh. Đây là một địa điểm tham quan rất đáng để khám phá, góp phần phát triển du lịch trên địa bàn xã Tân Phong nói riêng và huyện Tân Biên nói chung. Nguồn: Cổng thông tin điện tử tỉnh Tây Ninh

Tây Ninh

14652 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Dinh Quận Hóc Môn

Dinh Quận Hóc Môn

Dinh Quận Hóc Môn tọa lạc tại số 1, đường Lý Nam Đế, thị trấn Hóc Môn, (cạnh trụ sở UBND huyện) là nơi để lại nhiều sự kiện đấu tranh nổi bật suốt chặng đường dài lịch sử từ 1885 đến ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng của Nhân dân 18 Thôn vườn trầu. Sau khi hạ được Đại đồn Chí Hòa, thực dân Pháp xây dựng tại nơi đây một ngôi nhà gỗ cao 3 tầng dùng làm Đồn binh. Khi tên Trần Tử Ca về nhậm chức Đốc Phủ, dùng Đồn làm Dinh huyện Bình Long. Vốn là một tay say quỷ quyệt của thực dân Pháp, Trần Tử Ca bị nhóm do các ông Phan Văn Hớn (Quản Hớn) và Nguyễn Văn Quá (Chánh Lãnh Binh) cầm đầu gần 1.000 nghĩa quân tiến về đốt Dinh Quận, bắt và cắt đầu bêu giữa chợ. Đó là ngày 8/2/1885 Tết Ất Dậu. Sau đó, Dinh Quận Hóc Môn được xây dựng lại với nền móng đá xanh, tường gạch, có hệ thống phòng thủ từ lầu cao đến tận vòng rào. Lối kiến trúc y như Đồn binh nên người địa phương gọi là Đồn Hóc Môn. Trấn nhậm thay Trần Tử Ca là Đốc phủ Ngôn, đến Quận Trà rồi Quận Thọ. Đây là khoảng thời gian dài người dân vùng Hóc Môn hứng chịu bao cảnh tham tàn, bỉ ổi của thực dân Pháp và bọn tay sai đầu sỏ kể trên. Với truyền thống kiên cường bất khuất của Nhân dân Hóc Môn. Ngày 4/6/1930, khoảng 6 giờ sáng trước Dinh Quận, hàng trăm bà con Hóc Môn kéo biểu tình đòi “bãi bỏ thuế thân, giảm các thuế môn bài và thuế chợ, cấp đất cho dân cày nghèo”. Quận Trà cho mời những người cầm đầu vào Dinh thương lượng, nhưng chúng xảo quyệt bắt giữ họ trong đó có ông Lê Văn Uôi (Bí thư xã Tân Thới Nhì), là người cầm đầu cuộc biểu tình. Mọi người không nao núng, quyết liệt đòi hỏi Quận Trà phải thả những người bị cầm giữ. Đoàn biểu tình càng lúc càng đông, khí thế đấu tranh có phần lan rộng, khiến Quận Trà nhượng bộ. Một mặt chúng thả những người bị giữ, mặc khác chúng gọi điện cho quan thầy ở Sài Gòn cứu viện. 2 giờ sau, cuộc đấu tranh bị 2 tên Blachôlê và Nobbot chỉ huy bắn xối xả vào đoàn biểu tình, gây thương vong nhiều người. Nhưng sự kiện lịch sử gây ấn tượng nhất tại Dinh Quận Hóc Môn là cuộc khởi nghĩa Nam kỳ ngày 23/11/1940. Đồn Hóc Môn rất kiên cố, xây bằng đá xanh như là một pháo đài, cao khoảng 15 thước, có ụ súng và hệ thống phòng thủ lỗ châu mai do một trung đội lính khố xanh trấn giữ. Ngày 22/11/1940, Pháp tăng cường thêm 1 trung đội để đối phó với tình hình. Chiều 22/11/1940, cánh quân của ông Đỗ Văn Cội đột nhập vào thị trấn, giả dạng thường dân, phục kích sau lưng Đồn chờ lệnh cướp Đồn. Một cánh quân khác có nhiệm vụ phá cầu, đốn cây ngăn lộ, đánh chiếm các công sở, nhà việc... Cánh quân từ Phước Vĩnh An, Tân Thông, Tân An Hội, Tân Phú Trung do ông Phạm Văn Sáng và Đặng Công Bỉnh chỉ huy, xuất phát từ ấp Bến Đò, đánh chiếm nhà việc, diệt 1 tên, thu 4 súng, làm chủ tình hình tại đây (Tân Phú trung). Liền đó cánh quân này được lệnh kéo về Hóc Môn. Cánh quân Long Tuy Thượng do ông Bùi Văn Hoạt chỉ huy. Cánh quân thuộc Tổng Long Tuy Trung do ông Đỗ Văn Dậy và Lê Bình Đẳng chỉ huy. Khoảng 24 giờ đêm ngày 22/11/1940, vẫn chưa nghe thấy tiếng pháo lệnh ở Sài Gòn. Sau khi hội ý, các vị chỉ huy những cánh quân thống nhất tấn công Đồn giặc. Lập tức các cánh quân tiến thẳng về Đồn Hóc Môn, nơi trú ngụ của tên Quận trưởng Bùi Ngọc Thọ. 2 nghĩa quân tên Nghé và Kinh xung phong vào cổng trước, hy sinh. Nghĩa quân bốn phía xông vào Đồn như nước vỡ bờ. Trước sức mạnh của nghĩa quân và quần chúng, bọn lính trong Đồn không còn tinh thần kháng cự, bỏ chạy tán loạn. Nghĩa quân chiếm lĩnh hoàn toàn bên trong Đồn nhưng trên lầu, địch vẫn ngoan cố dùng súng bắn tẻ, cùng lúc gọi điện về Sài Gòn, Thủ Dầu Một cấp cứu. Vì nóng lòng bắt cho được tên Quận Thọ nên đồng chí Đỗ Văn Dậy bám ống máng nước để leo lên tầng trên Đồn. Đến lưng chừng bị trúng đạn, đồng chí bị rơi xuống và hy sinh sau đó. Cuộc chiến đấu đang thế giằng co thì viện binh địch đến. Không thể cầm cự, nghĩa quân rút khỏi thị trấn, phân tán về các làng, lực lượng vũ trang rút về ấp Bến Đò (Tân Phú Trung) rồi di chuyển sang ấp Mỹ Hạnh (Đức Hòa). Cuộc tiến công Đồn Hóc Môn (sau gọi là Dinh Quận Hóc Môn) tuy thất bại nhưng đã để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng mọi người dân sự khâm phục lòng dũng cảm của các chiến sĩ cách mạng trong cuộc chiến đấu chống thực dân cướp nước. Trong chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, 7 giờ sáng ngày 30/4/1975, thị trấn Hóc Môn hoàn toàn được giải phóng, lá cờ Tổ quốc phất phới bay trên Dinh Quận, nơi tên Quận trưởng Nguyễn Như Sang và bọn tay sai đã chạy trốn từ tối đêm trước. Ngày nay Dinh Quận Hóc Môn được chọn làm Bảo tàng huyện, nơi đây tập trung nhiều tư liệu trưng bày, minh họa các giai đoạn lịch sử thăng trầm cũng như khí thế đấu tranh cách mạng của quân và dân trong huyện Hóc Môn qua 2 cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ. Một Tượng đài đặt trước di tích Dinh Quận Hóc Môn thể hiện gương hy sinh bất khuất của quân và dân 18 Thôn Vườn trầu, được công nhận là di tích lịch sử văn hóa cấp Quốc gia. Nguồn: Ủy ban nhân dân huyện Hóc Môn

TP Hồ Chí Minh

14011 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Tòa đại sứ quán Mỹ

Tòa đại sứ quán Mỹ

Di tích tòa Đại sứ Mỹ còn được gọi "Nhà trắng phương Đông" là nơi xuất phát các âm mưu thâm độc về quân sự lẫn chính trị nhằm thôn tính lâu dài đất nước Việt Nam, địa điểm di tích là tòa nhà 5 tầng xây dựng theo kiến trúc hiện đại, tọa lạc tại góc đường Mạc Đĩnh Chi - Lê Duẩn, Phường Bến Nghé, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh, trên một mảnh đất rộng gần 5.000m2. Trước đó, tòa đại sứ Mỹ nằm tại số 39 đường Hàm Nghi. Khoảng 10 giờ sáng ngày 30/3/1963, tòa đại sứ Mỹ trên đường Hàm Nghi đã bị đội Biệt động F21 đánh chất nổ làm sập 3 tầng lầu: 1, 2, 3 do đó Mỹ đã quyết định xây lại. Tòa nhà được khởi công xây dựng vào năm 1965, hầu hết vật liệu cũng như máy móc xây dựng đều được chở từ Mỹ sang, dưới sự điều khiển của kỹ sư người Mỹ. Theo thiết kế, tòa nhà bao bọc bởi 7.800 viên đá Taredo có khả năng chống đỡ mìn, đạn pháo. Cửa chính trang bị bằng thép dầy, những cửa khác chắn bởi lớp kín dầy đặc biệt chống đạn. Tất cả cửa sử dụng hệ thống tự động kể cả cửa sắt chắn lối lên các tầng lầu. Bên trong tòa nhà gồm 140 phòng với 200 nhân viên phục vụ ngày đêm ngoài ra bên cạnh tòa nhà còn được xây thêm một dãy nhà phụ gọi là khu "Norodom" dành riêng cho nhân viên C.I.A. Khi khánh thành, tòa nhà chỉ có 3 tầng. Cuối năm 1966 xây thêm 2 tầng và 1 sân thượng dùng làm nơi hạ cánh cho máy bay lên thẳng. Bao quanh tòa nhà là bức tường cao 3m, hai đầu tường sát đường Lê Duẩn xây 2 lô - cốt cao, canh gác ngày đêm. Tòa Đại sứ hoàn thành tháng 9/1967 với một hệ thống phòng thủ như là một pháo đài có 60 lính gác, một hầm tránh bom, một hệ thống màn hình ra-đa nhằm kiểm soát mặt tiền. Ngay sau khi tòa nhà hoàn tất, ngày 24/9/1967, hàng ngàn sinh viên, học sinh kéo đến trước cổng Đại sứ quán Mỹ đấu tranh đòi "Mỹ chấm dứt ném bom miền Bắc", "Mỹ cút về nước" và ra thông báo tố cáo Mỹ "chà đạp và vi phạm nghiêm trọng quyền tự quyết của nhân dân miền Nam". Nhưng sự kiện nổi bật xảy ra tại Tòa Đại sứ Mỹ là trận đánh của Biệt động thành trong Tổng Tiến công và nổi dậy xuân Mậu Thân 1968. Mục tiêu đánh Đại sứ quán Mỹ được bổ sung ngày 24/ 1/1968 do Ngô Thành Vân phụ trách chung. Đội Biệt động 11 nhận lãnh nhiệm vụ quan trọng này gồm đội trưởng Út Nhỏ (đội trưởng trinh sát quân khu) và các chiến sĩ: Bảy Truyền, Tước, Thanh, Chức, Trần Thế Ninh, Chính, Tài, Văn, Đực, Cao Hoài Vinh, Mang, Sáu và 2 lái xe: Trần Sĩ Hùng và Ngô Văn Thuận. Một sự kiện khác cũng không kém phần tủi nhục cho Toà Đại sứ Mỹ là cảnh hỗn loạn tháo chạy xảy ra trong 2 ngày 29 và 30/04/1975 của Mỹ và đồng bọn. Trước sức tấn công thần tốc của quân và dân Việt Nam trong chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, trên 1.000 người Mỹ và hơn 5.000 người Việt thân Mỹ đã chen lấn, xô đẩy, đạp nhau để tranh giành một chỗ trên sân thượng của toà nhà hòng được trực thăng cứu thoát. Di tích này đã được cấp bằng công nhận của Bộ Văn hoá ngày 25/6/1976. Hiện nay, toà nhà Đại Sứ Mỹ đã bị phá bỏ, xây mới thành lãnh sự quán tại Thành phố Hồ Chí Minh, nhưng cạnh đó một bia tưởng niệm ghi nhớ mãi chiến công của các chiến sĩ biệt động đã hy sinh trong trận đánh. Nguồn: Thành Đoàn Thành phố Hồ Chí Minh

TP Hồ Chí Minh

13905 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Lăng Mai Xuân Thưởng

Lăng Mai Xuân Thưởng

Mai Xuân Thưởng là người lãnh đạo phong trào Cần Vương chống Pháp cuối thế kỷ XIX ở Bình Định. Mai Xuân Thưởng sinh năm Canh Thân 1860, mất năm Đinh Hợi 1887 người thôn Phú Lạc, tổng Phú phong, huyện Tuy Viễn, tỉnh Bình Định (nay là thôn Phú Lạc, xã Bình Thành, huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định). Cha là Mai Xuân Tín làm Bố chánh ở Cao Bằng, mẹ là Huỳnh Thị Nguyệt con của một nhà quyền quý trong làng. Mai Xuân Thưởng vốn là người thông minh, ham học. Năm 18 tuổi (1878) ông đỗ Tú tài tại Trường thi Bình Định. năm 25 tuổi (1885) thi đỗ cử nhân. Hưởng ứng chiếu Cần vương của vua Hàm Nghi, Mai Xuân Thưởng về quê Phú Lạc, chiêu mộ nghĩa binh, lập căn cứ ở hòn Sưng dựng cờ cần vương chống Pháp, sau đó Mai Xuân Thưởng đã đem lực lượng của mình gia nhập vào nghĩa quân do Đào Doãn Địch lãnh đạo và được Đào Doãn Địch phong giữ chức Tán lương quân vụ (phụ trách về lương thực của nghĩa quân). Kể từ đó cho đến năm 1887, phong trào cần vương ở Bình Định phát triển mạnh mẽ và lan ra đến Quảng Ngãi, Phú Yên...thu hút hàng chục ngàn người thuộc mọi tầng lớp tham gia. Ngày 20/9/1885 Đào Doãn Địch mất, giao toàn bộ lực lượng cho Mai Xuân Thưởng. Ông chọn vùng núi Lộc Đổng (nay thuộc xã Bình Tường, huyện Tây Sơn) làm đại bản doanh và tổ chức lễ tế cờ , truyền hịch kêu gọi sỹ phu, văn thân, nhân dân tham gia phong trào cần Vương chống Pháp. Trong buổi lễ ấy, nghĩa quân nhiều vùng trong tỉnh Bình Định đã nhất trí suy tôn ông làm Nguyên soái lãnh đạo cuộc khởi nghĩa và nêu cao khẩu hiệu: “Tiền sát tả, hậu đả Tây”. Đầu năm 1887, quân Pháp dưới sự chỉ huy của Trung tá Cherrean và quân triều đình do Trần Bá Lộc chỉ huy cùng với Công sứ Trira đã mở cuộc tấn công lớn lên căn cứ đại bản doanh của phong trào Cần Vương Bình Định, trận giao chiến giữa lực lượng nghĩa quân với giặc Pháp diễn ra vô cùng ác liệt, cuộc chiến đấu không cân sức, cuối cùng lực lượng khởi nghĩa bị đẩy lùi. Tháng 3 năm 1887, sau trận ác chiến ở Bàu Sấu (thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định), Mai Xuân Thưởng bị thương nặng, nghĩa quân rút về Mật khu Linh Ðổng. Ngày 21 tháng 4 năm 1887, Trần Bá Lộc bao vây đánh chiếm căn cứ mật khu Linh Đổng và bắt được một số nghĩa quân, trong đó có thân mẫu Mai Nguyên Soái. Đêm 30 tháng 4 năm 1887, Mai Xuân Thưởng đã cử một đội quân cảm tử đột nhập doanh trại Trần Bá Lộc, giải vây cho những người bị bắt, ông cùng đoàn thuộc hạ gồm 50 người vượt núi vào Phú Yên, tiếp tục kháng chiến, nhưng khi đến đèo Phú Quý (ranh giới giữa Bình Định và Phú Yên) thị bị phục binh Trần Bá Lộc bắt và đưa ra xử trảm tại Gò Chàm (Phía đông Thành Bình Định). Di tích Lăng mộ nhà yêu nước Mai Xuân Thưởng tọa lạc trên ngọn đồi cao của dãy núi Ngang (thuộc thôn Hòa Sơn, xã Bình Tường, huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định) cách thành phố Quy Nhơn khoảng 50km về hướng Tây Bắc; Lăng mộ được xây dựng trên khu đất rộng 1988m2, khánh thành ngày 22 tháng 1 năm 1961.Về tổng thể, Lăng được thiết kế theo kiểu lăng mộ cổ, xung quanh có thành thấp bao bọc. Cổng Lăng (tam quan) là 4 trụ vuông, phía trên thắt lại theo kiểu bầu lọ mang dáng dấp kiến trúc cổng đình, miếu cuối thế kỷ XIX. Giữa nhà Lăng là mộ phần Mai Xuân Thưởng hình khối chữ nhật theo hướng Đông - Tây; Phía đầu mộ dựng tấm Bia đá khắc bài ký ghi tiểu sử và sự nghiệp của Mai Xuân Thưởng: Di tích được Bộ Văn hóa Thông tin quyết định xếp hạng cấp Quốc Gia ngày 20 tháng 4 năm 1995. Nguồn: UBND Huyện Tây Sơn tỉnh Bình Định

Gia Lai

13580 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Thành Nhà Mạc Ở Cao Bằng (Thành Nà Lữ, Thành Bản Phủ, Thành Phục Hòa)

Thành Nhà Mạc Ở Cao Bằng (Thành Nà Lữ, Thành Bản Phủ, Thành Phục Hòa)

Thời kỳ nhà Mạc đóng đô ở Cao Bằng, để phòng bị quân nhà Lê tiến đánh, nhà Mạc đã tu bổ, sửa chữa thành Na Lữ (nay thuộc xã Hoàng Tung, Hòa An) và thành Bản Phủ (nay thuộc xã Hưng Đạo), thành Phục Hòa, ngoài ra còn xây dựng nhiều thành lũy khác ở Cao Bằng, làm cho Cao Bằng trở thành một trung tâm chính trị và quân sự ở vùng biên viễn Đông Bắc thời bấy giờ. Thành Na Lữ và thành Phục Hoà là hai thành được xây dựng từ trước. Theo ghi chép của Bế Hựu Cung trong Cao Bằng thực lục, thành Na Lữ và thành Phục Hòa mở đầu từ đời Đường Ý Tông năm Giáp Thân, niên hiệu Hàm Thông thứ 5 (874). Căn cứ vào sự hiện diện của nhiều ngôi mộ cổ có đá khắc ghi bia mộ tên, địa chỉ, quê quán những người phu dịch xây thành chết ở đây từ thời Hàm Thông có thể khẳng định hai thành này xây từ đời Đường. Thành Na Lữ được xây qua nhiều triều đại khác nhau. Khi nhà Mạc lên Cao Bằng đã cho xây lại bằng gạch. Thành Na Lữ có hình gần chữ nhật, có tổng diện tích khoảng 37,5 ha, chiều dài khoảng 800 m, chiều rộng khoảng 600 m, thành có 4 cửa. Thành Bản Phủ tại kinh đô Nam Bình, nước Nam Cương của Thục Phán khi xưa ở Cao Bình (Cao Bằng), nhà Mạc đã tu bổ thành Vương phủ tại vòng trong của kinh đô cũ Nam Bình và được gọi là thành Bản Phủ hay Vương phủ. Tại kinh đô Nam Bình xưa của nước Nam Cương và của nhà Mạc, thành Bản Phủ vẫn còn dấu tích khá rõ nét. Kinh đô Nam Bình gồm có hai vòng thành, để bảo vệ kinh thành, vòng ngoài có chu vi khoảng 5 km, gồm cả một vùng gò đồi thấp, quanh chân đồi được bạt dựng đứng như một bức tường thành, thuận lợi cho việc xây dựng phòng tuyến bảo vệ. Bờ thành phía Tây chạy song song với bờ sông Bằng đến đầu làng Bó Mạ, nối bờ thành Đông Nam chảy qua trước mặt Bản Phủ theo chân đồi ra gặp quốc lộ 4, phía Đông Bắc chạy theo chân đồi sát phía ngoài quốc lộ 4, lên đến Đầu gò là phía Tây Bắc tiếp tục chạy theo chân đồi, ra đến bờ sông gặp bờ thành phía Tây tạo thành một vòng thành khép kín. Khi nhà Mạc lên đóng đô đã tu sửa lại và xây dựng thêm một số công trình, trong đó thành Bản Phủ (thành nội - nơi của vua làm việc) được xây lên cao hơn trên các tường thành cũ từ thời kỳ Thục Phán, thành nằm trên một khu đất bằng phẳng. Cùng với việc xây dựng lại kinh thành, nhà Mạc còn xây dựng một hệ thống đồn bốt, thành lũy khá dày xung quanh kinh đô và một số điểm biên giới quan trọng, tạo thành một hệ thống bảo vệ kinh thành và bảo vệ biên giới. Thành Phục Hòa (huyện Phục Hoà) được xây theo kiểu hình vuông, mỗi chiều khoảng 400 m, gồm hai vòng thành, khoảng cách giữa hai vòng là 80 m. Hiện nay, tường thành phía Nam đã bị phá huỷ hoàn toàn. Thành Phục Hòa có 2 cổng chính: Cổng phía Bắc được mở thông ra quốc lộ đi Cửa khẩu Tà Lùng ngày nay, nhân dân thường gọi là Pác Cổng, cổng này được xây theo kiểu hình chữ nhật, rộng 8 m, cao 5 m, gồm hai cánh cổng làm bằng gỗ nghiến dày rất chắc chắn; cổng thứ hai ở phía Nam, mở thông ra bờ sông. Cả hai cổng đều bị san phẳng từ lâu, hiện nay không còn vết tích. Gần thành, tại phía Tây Bắc ngoại thành dọc bờ sông còn có nhiều vết tích lò nung gạch, nhân dân cho biết trong quá trình lao động, khai phá đã tìm thấy ở khu vực này nhiều lò gạch còn nguyên vẹn. Qua nghiên cứu, khảo sát cho thấy, tại Cao Bằng, nhà Mạc đã tu bổ, tôn tạo và xây dựng thêm nhiều thành, đồn luỹ, trong đó tu bổ, tôn tạo xây lại thành Bản Phủ, thành Na Lữ, thành Phục Hoà. Các đồn luỹ này đã tạo thành một hệ thống liên hoàn bảo vệ kinh thành khá vững chắc. Đến nay, những thành cổ nhà Mạc xây dựng thời kỳ đóng đô ở Cao Bằng, một số thành xây dựng bằng đất chỉ còn vết tích, nhưng các thành được xây bằng đá vẫn còn rất rõ. Nguồn: Báo Cao Bằng điện tử

Cao Bằng

13291 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

KHU TƯỞNG NIỆM LIỆT SĨ NGÃ BA GIỒNG, DI TÍCH LỊCH SỬ QUỐC GIA

KHU TƯỞNG NIỆM LIỆT SĨ NGÃ BA GIỒNG, DI TÍCH LỊCH SỬ QUỐC GIA

Di tích Ngã Ba Giồng là di tích lịch sử cách mạng thuộc Ấp 5, xã Xuân Thới Thượng, huyện Hóc Môn. Được bao quanh bởi ba con đường: Phan Văn Hớn, Nguyễn Văn Bứa và tỉnh lộ 19. Khu di tích Ngã Ba Giồng là khu tưởng niệm về những sự kiện lịch sử trong hai cuộc khácg chiến chống ngoại xâm. Được công nhận là di tích lịch sử cấp quốc gia vào năm 2002. Ngã ba Giòng (còn có tên gọi đầy đủ là Ngã ba Giòng Bằng Lăng) nằm trên địa phận thôn Xuân Thới Tây thuộc 18 thôn vườn trầu xưa được hình thành từ những năm 1698 đến năm 1731. Từ lâu đời, Ngã ba Giồng là 1 địa danh có tên gọi dân gian đã đi vào lịch sử của quê hương 18 thôn vườn trầu Hóc Môn – Bà Điểm. Tục truyền rằng xưa kia nơi đây là 1 vùng đất giồng tương đối cao ráo và là nơi mọc nhiều cây bằng lăng nên địa danh này có tên gọi từ đó. Sau khi cuộc khởi nghĩa Nam kỳ (23/11/1940) bị thất bại, thực dân Pháp đã tăng cường đàn áp, khủng bố khốc liệt phong trào cách mạng vùng Hóc Môn – Bà Điểm. Chúng đã lập ra ở Hóc Môn 3 trường bắn để giết hại các đồng chí lãnh đạo Đảng, các đồng chí đồng bào yêu nước của quê hương Hóc Môn và các vùng lân cận. Ngã ba Giồng là trường bắn thứ ba ghi lại tội ác tày trời của giặc pháp và bọn tay sai đối với nhân dân Hóc Môn. Rút kinh nghiệm từ 2 trường bắn trước (1 tại rạp hát cũ trung tâm Quận lỵ Hóc Môn, 1 cạnh giếng nước sau Bệnh viện Hóc Môn ngày nay), chúng xử bắn công khai, bắt nhân dân đến xem nhằm mục đích uy hiếp tinh thần cách mạng của nhân dân Hóc Môn. Nhưng cách xử bắn đó đã phản tác dụng, nhân dân Hóc Môn đã tận mắt chứng kiến sự tàn ác của thực dân Pháp, sự hy sinh cao cả của các chiến sĩ cộng sản nên ngọn lửa yêu nước của họ càng bùng lên mãnh liệt. Trường bắn thứ 3 này, chúng không dám xây dựng gần trung tâm Quận lỵ nữa mà đưa ra khu vực Ngã ba Giồng là vùng hoang vắng, thưa dân để tránh sự phản kháng của nhân dân. Tại đây, chúng xây dựng thành 1 trường bắn có mô đất kiên cố dài 12m, cao 2,2m, phía trước có trồng 6 cột bắn, mỗi cột cao 1.7m, hướng bắn quay về phía đồng ruộng (bưng Tràm Lạc). Vào năm 1941, tại đây chúng lén lúc xử bắn rất nhiều lần, không cho nhân dân xem, hàng trăm chiến sĩ cộng sản và đồng bào yêu nước bị chúng giết hại. Với ý nghĩa lịch sử vô cùng thiêng liêng của Ngã ba Giồng, nơi ghi dấu tội ác dã man của giặc Pháp, nơi thể hiện ý chí chiến đấu bất khuất kiên cường và sự hy sinh cao cả của đồng chí và đồng bào ta sau cuộc khởi nghĩa Nam kỳ (23/11/1940); sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng (30/4/1975), huyện Hóc Môn đã nhanh chóng khôi phục và tôn tạo khu di tích lịch sử cách mạng Ngã ba Giồng nhằm giáo dục truyền thống cho các thế hệ thanh thiếu niên. Nơi đây đã trở thành điểm tham quan, nơi tổ chức lễ hội truyền thống trong những ngày lễ lớn hàng năm của huyện Hóc Môn và thành phố đặc biệt là lễ kỷ niệm ngày Nam kỳ Khởi nghĩa (23/11). Hiện nay được sự nhất trí của thành phố, huyện đang tiến hành tôn tạo xây dựng Ngã ba Giồng thành “Khu tưởng niệm liệt sĩ Ngã ba Giồng”. Nguồn: Cổng thông tin điện tử Hóc Môn

TP Hồ Chí Minh

13134 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở