Danh sách điểm di tích (1412)
Giếng cổ Xóm Cấm
Giếng cổ Xóm Cấm – Dấu ấn văn hóa Chăm giữa lòng Cù Lao Chàm Nằm tại thôn Cấm, Hội An, Đà Năng, Giếng cổ Xóm Cấm là một trong những công trình kiến trúc cổ tiêu biểu của Cù Lao Chàm, gắn liền với lịch sử hình thành và phát triển của cư dân trên đảo suốt nhiều thế kỷ. Đây không chỉ là nguồn nước ngọt quý giá mà còn là minh chứng sinh động cho sự giao thoa văn hóa giữa người Chăm và người Việt trên tuyến thương cảng quốc tế Hội An. Các kết quả khảo cổ học cho thấy Cù Lao Chàm đã có cư dân sinh sống từ hơn 3.000 năm trước. Đến các thế kỷ VII – X, nơi đây trở thành địa bàn cư trú của người Chăm, đồng thời là điểm dừng chân quan trọng trên tuyến hàng hải quốc tế, nơi diễn ra hoạt động giao thương sôi động với các thương nhân từ Trung Quốc, Trung Đông và nhiều quốc gia khác. Sau thế kỷ XVII, cộng đồng người Việt đến sinh sống, tiếp tục kế thừa, gìn giữ và sử dụng các công trình do người Chăm xây dựng, trong đó có hệ thống giếng cổ. Giếng Xóm Cấm mang đậm phong cách kiến trúc Chăm với miệng giếng đường kính khoảng 1,18 m, sâu 4,5 m, lòng giếng xây bằng gạch theo dạng "cổ áo" (vành khăn), kết dính bằng vữa vôi truyền thống. Đặc biệt, dưới đáy giếng còn lưu giữ hệ thống bốn thanh gỗ lim ghép thành hình vuông, góp phần gia cố nền móng và bảo đảm độ bền vững của công trình qua hàng trăm năm. Theo nhiều tư liệu cổ, trong thời kỳ hưng thịnh của thương cảng Hội An, các thương thuyền quốc tế thường ghé Cù Lao Chàm để bổ sung lương thực và lấy nước ngọt từ các giếng cổ trên đảo trước khi tiếp tục hành trình. Đến ngày nay, Giếng Xóm Cấm vẫn luôn đầy nước, trong xanh và mát lành quanh năm, tiếp tục phục vụ đời sống sinh hoạt của người dân địa phương, trở thành biểu tượng của sự trường tồn và sức sống bền bỉ giữa biển khơi. Không chỉ mang giá trị lịch sử và kiến trúc, Giếng cổ Xóm Cấm còn phản ánh quá trình kế thừa và hòa quyện văn hóa giữa các cộng đồng cư dân trên đảo, góp phần làm nên bản sắc độc đáo của Khu dự trữ sinh quyển thế giới Cù Lao Chàm – Hội An. Với những giá trị đặc biệt về lịch sử, khảo cổ và văn hóa, Giếng cổ Xóm Cấm được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xếp hạng Di tích lịch sử cấp quốc gia năm 2006. Ngày nay, đây là điểm tham quan hấp dẫn, nơi du khách có thể tìm hiểu về lịch sử lâu đời của Cù Lao Chàm, khám phá dấu ấn văn minh Chăm Pa và cảm nhận nét đẹp bình yên của hòn đảo giữa biển Đông. Theo Đô thị cổ Hội An
Đà Nẵng
1429 lượt xem
Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia
Di tích lịch sử cách mạng Cái Ngang
Di tích lịch sử cách mạng Cái Ngang nằm tại ấp 4, Phú Lộc, Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long, cách trung tâm thành phố Vĩnh Long khoảng 25 km. Được xây dựng trên chính nền căn cứ cách mạng của Tỉnh ủy Vĩnh Long trong giai đoạn 1966 – 1975, nơi đây là một "địa chỉ đỏ" giàu giá trị lịch sử, tái hiện chân thực cuộc sống, chiến đấu của quân và dân Vĩnh Long trong những năm kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Trong thời kỳ chiến tranh, Cái Ngang là nơi đặt cơ quan đầu não của Tỉnh ủy Vĩnh Long, từ đây lãnh đạo phong trào cách mạng trong tỉnh, góp phần làm nên thắng lợi của Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 và Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử mùa Xuân năm 1975, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước. Khu di tích ngày nay tái hiện sinh động hệ thống căn cứ giữa rừng với các hạng mục như hội trường, nhà thường trực, nhà thông tin, nhà ăn, nhà bảo vệ cùng nhiều công sự, hầm bí mật, hầm chông, hầm phòng thủ và những chiếc cầu chông đặc trưng của vùng sông nước Nam Bộ. Mỗi công trình đều phản ánh sự sáng tạo, mưu trí của cán bộ, chiến sĩ trong việc xây dựng căn cứ bí mật, thích ứng với điều kiện chiến đấu gian khổ nhưng vẫn đảm bảo chỉ huy và bảo vệ lực lượng. Đến với Cái Ngang, du khách còn được tìm hiểu nhiều hiện vật, mô hình sinh hoạt và lao động của cán bộ cách mạng, từ những bộ bàn ghế đa năng, bếp Hoàng Cầm giản dị đến những câu chuyện về cuộc sống thiếu thốn nhưng đầy ý chí, nghị lực của thế hệ đi trước. Qua đó, càng thêm trân trọng sự hy sinh, lòng dũng cảm và tinh thần đoàn kết của quân và dân Vĩnh Long trong sự nghiệp đấu tranh giành độc lập dân tộc. Trong khuôn viên di tích còn có Tượng đài Mẹ Việt Nam Anh hùng Nguyễn Thị Ngọt – người mẹ tiêu biểu của tỉnh Vĩnh Long có chồng và sáu người con anh dũng hy sinh trong hai cuộc kháng chiến. Công trình là biểu tượng của lòng biết ơn, sự tri ân đối với những người mẹ đã cống hiến, hy sinh to lớn cho Tổ quốc. Không chỉ mang giá trị lịch sử, Di tích lịch sử cách mạng Cái Ngang còn gây ấn tượng bởi không gian sinh thái xanh mát với hệ thực vật đặc trưng của vùng Đồng bằng sông Cửu Long. Những hàng trâm bầu, gõ nước, đủng đỉnh, dây leo cùng các ao, rạch tự nhiên tạo nên khung cảnh yên bình, giúp du khách vừa tìm hiểu lịch sử vừa hòa mình vào thiên nhiên miệt vườn. Với những giá trị đặc biệt về lịch sử, văn hóa và giáo dục truyền thống, năm 2016, Di tích lịch sử cách mạng Cái Ngang được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xếp hạng Di tích lịch sử cấp quốc gia. Ngày nay, nơi đây là điểm đến ý nghĩa dành cho du khách, học sinh, sinh viên và các thế hệ trẻ đến tham quan, tìm hiểu lịch sử, bồi đắp lòng yêu nước và niềm tự hào dân tộc. Theo tour Vĩnh Long
Vĩnh Long
632 lượt xem
Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia
Di tích hang Hỏa Tiễn
Hang Hỏa Tiễn là di tích lịch sử quốc gia nằm tại phường Hoàng Mai, tỉnh Nghệ An, ghi dấu sự hy sinh anh dũng của 33 thanh niên xung phong Tổ 4, đơn vị C271, Đội 27 trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Đây là một "địa chỉ đỏ" thiêng liêng, nhắc nhớ về tinh thần quả cảm và sự cống hiến của những người trẻ đã ngã xuống vì độc lập, tự do của Tổ quốc. Ngày 28/4/1966, khi đang làm nhiệm vụ khai thác đá, san lấp và bảo vệ tuyến đường sắt Bắc – Nam tại khu vực ga Hoàng Mai, các chiến sĩ bất ngờ gặp trận không kích ác liệt của máy bay Mỹ. Trong lúc trú ẩn tại một hang đá, hai quả tên lửa (rocket) bắn trúng cửa hang, khiến khối lượng lớn đất đá sụp xuống, chôn vùi các chiến sĩ bên trong. Sau nhiều giờ cứu hộ, 33 thanh niên xung phong đã anh dũng hy sinh, phần lớn khi tuổi đời mới mười sáu, mười bảy, đôi mươi. Từ sự kiện bi tráng ấy, hang đá được nhân dân gọi bằng cái tên đầy xúc động Hang Hỏa Tiễn. Trong những năm tháng chiến tranh, khu vực Hoàng Mai là cửa ngõ giao thông chiến lược của miền Bắc với hệ thống đường bộ, đường sắt và đường thủy quan trọng phục vụ chi viện cho chiến trường miền Nam. Các địa danh như ga Hoàng Mai, cầu Hoàng Mai, cầu Rí hay mỏ đá Hoàng Mai thường xuyên trở thành mục tiêu đánh phá ác liệt của không quân Mỹ. Dù phải đối mặt với bom đạn, thiếu thốn và hiểm nguy, những thanh niên xung phong vẫn kiên cường bám trụ với tinh thần "Sống bám cầu, bám đường; chết kiên cường dũng cảm", quyết tâm giữ vững huyết mạch giao thông. Sự hy sinh của 33 thanh niên xung phong đã trở thành biểu tượng sáng ngời của chủ nghĩa anh hùng cách mạng và tinh thần cống hiến của tuổi trẻ Việt Nam. Năm 2003, các anh, chị được Nhà nước truy tặng danh hiệu Liệt sĩ và cấp Bằng Tổ quốc ghi công. Đến năm 2011, Cụm di tích Hang Hỏa Tiễn và Nghĩa trang Liệt sĩ Đường sắt được xếp hạng Di tích lịch sử quốc gia, trở thành nơi tri ân các anh hùng liệt sĩ và giáo dục truyền thống yêu nước cho các thế hệ hôm nay. Ngày nay, Hang Hỏa Tiễn là điểm đến mang ý nghĩa lịch sử và nhân văn sâu sắc. Đến đây, du khách không chỉ được tìm hiểu về một giai đoạn hào hùng của dân tộc mà còn cảm nhận rõ hơn giá trị của hòa bình, độc lập và sự hy sinh to lớn của những thế hệ đi trước vì tương lai của đất nước. Theo báo nhân dân điện tử
Nghệ An
1444 lượt xem
Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia
Di tích Chiến thắng Đèo Nhông – Dương Liễu
Di tích Chiến thắng Đèo Nhông – Dương Liễu là địa chỉ đỏ tiêu biểu của tỉnh Gia Lai, ghi dấu một trong những chiến công vang dội của quân và dân Khu 5 trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Trận đánh diễn ra vào đêm 6 rạng sáng 7/2/1965 (mùng 5 tháng Giêng năm Ất Tỵ) trên địa bàn nay thuộc xã Bình Dương, tỉnh Gia Lai, trở thành mốc son chói lọi trong lịch sử đấu tranh cách mạng của quân và dân miền Trung. Thời điểm đó, quân đội Mỹ và chính quyền Sài Gòn xây dựng hệ thống phòng thủ kiên cố tại Dương Liễu và Đèo Nhông, với nhiều đồn bốt, xe bọc thép M-113, pháo binh và máy bay yểm trợ nhằm kiểm soát tuyến giao thông chiến lược, ngăn chặn phong trào cách mạng. Trước tình hình đó, dưới sự chỉ đạo của Khu ủy Khu 5, Bộ Tư lệnh Quân khu 5 và Tỉnh ủy, Trung đoàn 2, Sư đoàn 3 Sao Vàng đã phối hợp chặt chẽ với lực lượng vũ trang địa phương và nhân dân tổ chức tiến công bất ngờ vào đồn Dương Liễu, sau đó phục kích trên tuyến Đèo Nhông, đánh tan lực lượng địch đến ứng cứu. Chiến thắng đã giành được kết quả to lớn khi loại khỏi vòng chiến đấu hơn 700 tên địch, bắn rơi và phá hủy 4 máy bay, tiêu diệt 10 xe bọc thép M-113, thu giữ 2 xe M-113 cùng nhiều vũ khí, trang bị quân sự. Đây là một trong những trận đánh tiêu biểu thể hiện nghệ thuật tác chiến hiệp đồng, khả năng phục kích và tiêu diệt lực lượng cơ giới hiện đại của quân giải phóng. Chiến thắng Đèo Nhông – Dương Liễu đã giáng đòn nặng nề vào chiến lược "Chiến tranh đặc biệt" của Mỹ trên chiến trường Khu 5, góp phần tạo khí thế mới cho phong trào đấu tranh cách mạng ở miền Trung. Đồng thời, chiến thắng khẳng định sự trưởng thành vượt bậc của bộ đội chủ lực và sức mạnh đoàn kết giữa quân với dân trong cuộc kháng chiến giành độc lập dân tộc. Ngày nay, di tích Chiến thắng Đèo Nhông – Dương Liễu không chỉ là nơi tưởng niệm các anh hùng liệt sĩ đã hy sinh vì Tổ quốc mà còn là điểm đến giáo dục truyền thống cách mạng, góp phần bồi đắp lòng yêu nước, niềm tự hào dân tộc và ý chí bảo vệ quê hương cho các thế hệ hôm nay và mai sau. Theo báo Gia Lai điện tử
Gia Lai
536 lượt xem
Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia
Di tích tưởng niệm Ông Ích Đường
Di tích tưởng niệm Ông Ích Đường gắn với cuộc đời và sự hy sinh của Ông Ích Đường (1890–1908), người con của làng Phong Lệ, nay thuộc phường Hòa Thọ Tây, thành phố Đà Nẵng. Ông là cháu nội của Ông Ích Khiêm và sinh ra trong một gia đình có truyền thống yêu nước, sớm nổi tiếng là người nghĩa hiệp, giỏi văn võ và luôn đứng về phía người dân nghèo. Năm 1908, hưởng ứng phong trào chống sưu thuế Trung Kỳ, Ông Ích Đường đã lãnh đạo nhân dân Hòa Vang tham gia đấu tranh chống áp bức. Sau khi cuộc khởi nghĩa thất bại, ông bị thực dân Pháp bắt và xử chém tại chợ Túy Loan khi mới 18 tuổi. Trước khi hy sinh, khí phách hiên ngang và tinh thần bất khuất của ông đã trở thành biểu tượng của lòng yêu nước và ý chí đấu tranh vì độc lập dân tộc. Sự hy sinh của Ông Ích Đường đã gây xúc động sâu sắc trong nhân dân địa phương. Người dân đã lập miếu thờ ngay tại nơi ông tuẫn nạn để tưởng nhớ công lao và khí tiết của người chí sĩ yêu nước. Trải qua thời gian, khu vực di tích tiếp tục được gìn giữ, tôn tạo với nhà bia tưởng niệm bên cạnh cây đa lịch sử – chứng nhân gắn liền với sự kiện năm 1908. Ngày nay, Di tích tưởng niệm Ông Ích Đường là địa chỉ đỏ giáo dục truyền thống yêu nước và tinh thần đấu tranh cách mạng cho các thế hệ, đồng thời là điểm đến giúp du khách tìm hiểu về phong trào chống sưu thuế Trung Kỳ và lịch sử đấu tranh của nhân dân Đà Nẵng đầu thế kỷ XX. Theo: Báo Đà Nẵng
Đà Nẵng
1248 lượt xem
Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia
Khu căn cứ cách mạng Huyện ủy Hòa Vang
Khu căn cứ cách mạng Huyện ủy Hòa Vang nằm tại khu vực tam giác núi Phú Túc – Ô Rây – Tống Cói, thuộc phường Hòa Vang. Với địa hình rừng núi hiểm trở, nơi đây từng là căn cứ địa quan trọng của lực lượng cách mạng trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ. Từ những năm 1947–1949, khu vực Đồng Xanh – Đồng Nghệ được lựa chọn làm nơi đặt cơ quan lãnh đạo của Huyện ủy Hòa Vang. Đến năm 1955, Tỉnh ủy Quảng Đà xây dựng căn cứ cách mạng cánh Tây Hòa Vang (mật danh B1), biến nơi đây thành trung tâm chỉ đạo phong trào cách mạng của khu vực phía tây và tây bắc. Trong thời gian này, Hòn đá Đà Nẵng và Hòn đá Non Nước trở thành những biểu tượng thiêng liêng của tinh thần yêu nước và ý chí đấu tranh kiên cường. Từ năm 1960, khu vực tam giác Phú Túc – Ô Rây – Tống Cói tiếp tục được chọn làm căn cứ địa kháng chiến của Huyện ủy Hòa Vang. Đây là nơi làm việc, chỉ đạo và hoạt động của nhiều cán bộ lãnh đạo huyện, đồng thời là địa điểm tổ chức các hội nghị, đại hội Đảng bộ, huấn luyện quân sự và chính trị cho lực lượng cách mạng trong những năm kháng chiến chống Mỹ. Địa hình rừng núi hiểm trở đã góp phần che chở, bảo vệ các cơ quan đầu não trước nhiều cuộc càn quét của đối phương. Trong suốt hai cuộc kháng chiến, Khu căn cứ cách mạng Huyện ủy Hòa Vang giữ vai trò là trung tâm lãnh đạo, chỉ huy và hậu cứ quan trọng của phong trào cách mạng địa phương, gắn liền với nhiều sự kiện lịch sử và hoạt động của các cán bộ lãnh đạo cấp tỉnh, khu và huyện. Để gìn giữ những giá trị lịch sử đó, khu di tích đã được đầu tư xây dựng nhà trưng bày, bia tưởng niệm cùng các hạng mục phục vụ tham quan. Ngày nay, nơi đây trở thành địa chỉ đỏ giáo dục truyền thống yêu nước, tưởng nhớ các thế hệ cách mạng đi trước và là điểm đến giúp du khách tìm hiểu về lịch sử đấu tranh anh dũng của quân và dân Hòa Vang trong sự nghiệp giải phóng dân tộc. Theo: Báo Đà Nẵng
Đà Nẵng
547 lượt xem
Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia
Hải Vân Quan
Hải Vân Quan là công trình quân sự phòng thủ được xây dựng vào năm 1826, dưới triều vua Minh Mạng. Di tích nằm trên đỉnh Đèo Hải Vân ở độ cao khoảng 496 m so với mực nước biển, tại ranh giới giữa thành phố Huế và thành phố Đà Nẵng. Đây là vị trí chiến lược trên tuyến giao thông Bắc – Nam, đồng thời là cửa ngõ bảo vệ kinh đô Huế từ phía nam. Từ thời các chúa Nguyễn, đèo Hải Vân đã được xem là vùng đất hiểm yếu, giữ vai trò quan trọng về quân sự và phòng thủ. Khi nhà Nguyễn chọn Huế làm kinh đô, nơi đây càng được coi là "yết hầu" của đất nước. Chính vì vậy, vua Minh Mạng đã cho xây dựng Hải Vân Quan nhằm kiểm soát con đường thiên lý và tăng cường bảo vệ kinh thành. Công trình gồm hai cổng thành lớn xây bằng gạch đá theo kiến trúc vòm cuốn. Cổng quay về phía Đà Nẵng khắc ba chữ "Hải Vân Quan", còn cổng hướng về Huế khắc sáu chữ "Thiên hạ đệ nhất hùng quan" – lời ca ngợi vẻ đẹp hùng vĩ và vị thế hiểm yếu của đèo Hải Vân. Bao quanh cửa quan là hệ thống tường thành kiên cố cùng các hạng mục quân sự như đồn trú, kho vũ khí và vị trí quan sát. Trải qua nhiều biến động lịch sử, đặc biệt trong thời kỳ Pháp thuộc và chiến tranh, Hải Vân Quan bị cải tạo thành cứ điểm quân sự, nhiều hạng mục kiến trúc gốc bị phá hủy hoặc xuống cấp. Đến năm 2017, di tích được xếp hạng Di tích quốc gia, và từ năm 2021, Huế và Đà Nẵng đã phối hợp triển khai dự án trùng tu, phục hồi các hạng mục quan trọng, góp phần khôi phục diện mạo vốn có của công trình. Ngày nay, Hải Vân Quan không chỉ là di tích lịch sử có giá trị đặc biệt mà còn là điểm dừng chân nổi tiếng trên cung đường đèo Hải Vân. Từ đây, du khách có thể phóng tầm mắt ngắm toàn cảnh núi non, biển cả và một trong những cung đường ven biển đẹp nhất Việt Nam. Với giá trị lịch sử, kiến trúc và cảnh quan độc đáo, Hải Vân Quan là điểm đến không thể bỏ qua trong hành trình khám phá miền Trung. Theo: Thông tấn xã Việt Nam
Đà Nẵng
1466 lượt xem
Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia
Mộ ông Banjiro - thương nhân Nhật Bản
Mộ ông Banjiro - thương nhân Nhật Bản - Khối Trường Lệ - Xã Cẩm Hà Ông Banjiro là một thương gia Nhật Bản mất tại Hội An. Mộ ở gần đường từ phố cổ đi xuống biển An Bàng và còn giữ được những dấu vết nguyên thuỷ xây dựng từ thế kỷ XVII. Bia mộ có niên đại 1665. Phía sau mộ có một tấm bia bằng xi măng khắc chìm chữ Nhật, nội dung như sau: “Năm Chiêu Hoà thứ 3 (1928) theo đề xuất của giáo sư văn học Kuroita Katsumi, tập thể người Nhật cư trú tại Đông Dương (nay là Việt Nam, Campuchia, Lào) đề nghị ông Nakayama phụ trách giám sát việc tu sửa ngôi mộ này”. Gần đây Hội An tiếp tục tu bổ giữ gìn chu đáo ngôi mộ này. Di tích được xếp hạng di tích quốc gia năm 1991. Mộ ông Banjiro xây bằng hợp chất vôi, cát, nước vỏ cây, mật mía... Nấm mộ hình yên ngựa, quay hướng Đông Bắc, kích thước 190cm x 85cm. Trước mặt mộ có một tấm bia làm bằng đá muối, hai bên có 2 hàng chữ. Trước đây ngôi mộ này không có người trông nom, tu sửa. Sau khi Bộ Văn hóa ra quyết định công nhận Khu phố cổ Hội An, khu mộ này thường xuyên được Ban Quản lý Di tích Hội An quan tâm bảo quản và tu sửa. Hiện tại ngôi mộ được gia đình ông Nguyễn Nước thường xuyên trông nom, thắp hương. Di tích góp phần làm sáng tỏ quá trình hình thành Khu phố cổ Hội An, nhất là thời kỳ thương nhân Nhật Bản đến Hội An trao đổi buôn bán. Nguồn: Đô thị cổ Hội An
Đà Nẵng
522 lượt xem
Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia
Khu di tích Đặc Khu ủy Quảng Đà
Khu di tích Đặc Khu ủy Quảng Đà Hòn Tàu là dãy núi giáp ranh giữa Duy Xuyên, Nông Sơn và Quế Sơn. Với vị trí chiến lược, nơi đây đã được Đặc Khu ủy Quảng Đà chọn làm căn cứ cách mạng trong 8 năm cuối cuộc chiến chống Mỹ (1967-1975). Với quyết tâm “Tất cả cho tổng công kích, tất cả cho tổng khởi nghĩa Xuân Mậu Thân 1968”, Đặc Khu ủy Quảng Đà chủ trương chỉ đạo tập trung huy động mọi lực lượng chuẩn bị nổi dậy. Căn cứ Hòn Tàu là nơi quan và dân ta chịu nhiều hy sinh, mất mát. Nhiều đồng chí là lãnh đạo Đặc Khu ủy và hàng trăm cán bộ, chiến sĩ đã anh dũng hy sinh. Đặc biệt, có 10 cán bộ, nhân viên của Ban Tuyên huấn hy sinh do bị bom B52 của Mỹ đánh sập nơi ở và làm việc vào sáng 22/5/1972. Mặc dù chịu nhiều hy sinh, mất mát, cán bộ, chiến sĩ Đặc Khu ủy Quảng Đà vẫn vững vàng tiếp tục thực hiện việc chỉ đạo các cuộc tiến công chiến lược, quyết định nhiều chủ trương quan trọng, hợp đồng chặt chẽ với các cánh quân chủ lực giải phóng các huyện phía Tây của tỉnh Quảng Nam, tạo thế gọng kìm, góp phần hoàn thành chiến dịch giải phóng Đà Nẵng năm 1975. Năm 2012, di tích Hòn Tàu được Bộ VHTT&DL xếp hạng Di tích Lịch sử cấp quốc gia. Sau khi có quyết định xếp hạng di tích, Sở VHTT&DL tỉnh Quảng Nam đã lập hồ sơ trình Bộ VHTT&DL phê duyệt và triển khai lập dự án phục dựng di tích. Qua hơn 2 năm triển khai thực hiện, đến nay Khu di tích Đặc Khu ủy Quảng Đà cơ bản đã hoàn thành đúng dịp kỷ niệm 50 năm thành lập Đặc Khu ủy (tháng 10/1967 - tháng 10/2017). Nguồn: Báo Chính Phủ
Đà Nẵng
718 lượt xem
Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia
Di tích lịch sử Đồn Cao
Đồn Cao Đồng Văn nằm trên ngọn núi cao giữa thung lũng thuộc thị trấn Đồng Văn, trong vùng Công viên địa chất toàn cầu UNESCO Cao nguyên đá Đồng Văn. Không chỉ là một di tích lịch sử, Đồn Cao còn là điểm ngắm cảnh lý tưởng để chiêm ngưỡng toàn bộ thị trấn Đồng Văn và khung cảnh hùng vĩ của cao nguyên đá. Đồn Cao, còn gọi là đồn Chang Poung, được thực dân Pháp xây dựng khoảng năm 1925 trên đỉnh núi cao khoảng 1.200 m so với mực nước biển. Công trình được xây chủ yếu bằng đá với hệ thống tường thành kiên cố, lô cốt, lỗ châu mai và các bậc đá dẫn lên đỉnh, từng là vị trí quân sự quan trọng trong thời kỳ Pháp thuộc. Trải qua thời gian, nhiều hạng mục đã xuống cấp và được trùng tu một phần vào năm 2013 nhằm bảo tồn giá trị của di tích. Từ Đồn Cao, du khách có thể phóng tầm mắt ngắm nhìn toàn cảnh thị trấn Đồng Văn với những ngôi nhà mái ngói nép mình giữa núi đá, cánh đồng làng Nghiến, núi Tù Sán, đèo Sì Phai cùng những dãy núi đá tai mèo trùng điệp – nét đặc trưng của vùng cực Bắc Việt Nam. Vào sáng sớm hoặc chiều muộn, khung cảnh mây núi hòa quyện tạo nên một bức tranh thiên nhiên vừa hùng vĩ vừa thơ mộng. Ngày nay, Đồn Cao là điểm dừng chân không thể bỏ qua trong hành trình khám phá Đồng Văn. Bên cạnh giá trị lịch sử, nơi đây còn mang đến cho du khách cơ hội cảm nhận vẻ đẹp của phố cổ, thiên nhiên và cuộc sống bình yên của đồng bào vùng cao, góp phần làm phong phú thêm trải nghiệm khi đến với Cao nguyên đá Đồng Văn. Theo Báo Tuyên Quang
Tuyên Quang
1476 lượt xem
Xếp hạng : Di tích cấp tỉnh
Đường đá cổ Pavie
Đường đá cổ Pavie là tuyến đường cổ được người Pháp khảo sát, thiết kế và xây dựng vào đầu thế kỷ XX, từng là tuyến giao thông huyết mạch nối huyện Phong Thổ với huyện Bát Xát. Con đường ẩn mình giữa núi rừng Tây Bắc, được lát hoàn toàn bằng những phiến đá tự nhiên, rộng khoảng 3 m, thuận tiện cho người đi bộ và ngựa thồ. Đến nay, khoảng 17 km đường đá vẫn còn được bảo tồn gần như nguyên vẹn, trở thành một di sản quý giá, phản ánh kỹ thuật xây dựng và lịch sử giao thương của vùng biên giới Tây Bắc. Men theo con đường cổ, du khách sẽ được chiêm ngưỡng những cánh rừng nguyên sinh, núi non hùng vĩ, suối thác và những thửa ruộng bậc thang đặc trưng của vùng cao. Không chỉ có giá trị lịch sử, đường đá cổ Pavie còn là nơi giao thoa văn hóa của đồng bào Dao, Mông và nhiều dân tộc sinh sống dọc tuyến đường. Hành trình khám phá con đường đưa du khách đến với những bản làng vùng cao, nơi vẫn lưu giữ nhiều nét văn hóa truyền thống, nghề thủ công, phong tục tập quán và ẩm thực đặc sắc. Tuyến đường kết nối nhiều điểm đến hấp dẫn như Sin Suối Hồ – bản du lịch cộng đồng nổi tiếng của Lai Châu và Dền Sáng, tạo điều kiện thuận lợi để phát triển các loại hình du lịch trekking, khám phá thiên nhiên, trải nghiệm văn hóa bản địa và du lịch sinh thái. Với cảnh quan thiên nhiên nguyên sơ, dấu ấn lịch sử độc đáo cùng bản sắc văn hóa đặc sắc của đồng bào các dân tộc vùng cao, Đường đá cổ Pavie được đánh giá là một trong những tuyến du lịch khám phá giàu tiềm năng của khu vực Tây Bắc, góp phần bảo tồn di sản và phát triển du lịch bền vững gắn với cộng đồng địa phương. Theo Báo Lao Động
Lai Châu
1341 lượt xem
Xếp hạng : Di tích cấp tỉnh
Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam
Thành lập ngày 17/7/1956 với tên gọi ban đầu là Bảo tàng Quân đội, có địa điểm bên cạnh Cột cờ Hà Nội, mở cửa đón khách tham quan từ ngày 22/12/1959. Trải qua quá trình xây dựng, phát triển và không ngừng lớn mạnh, Bảo tàng được đổi tên thành Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam vào năm 2002 và chính thức đón khách tham quan tại vị trí Đại lộ Thăng Long, Phường Đại Mỗ, Tây Mỗ, Quận Nam Từ Liêm, Thành phố Hà Nội (nay là Phường Xuân Phương, Thành phố Hà Nội) vào tháng 11/2024 . Bảo tàng có chức năng nghiên cứu, sưu tầm, kiểm kê, bảo quản, trưng bày, tuyên truyền giá trị các di sản văn hóa quân sự Việt Nam. Hệ thống trưng bày giới thiệu hàng nghìn hiện vật, được tổ chức, sắp xếp hiện đại, khoa học, phong phú, ứng dụng công nghệ hiện đại và trang thiết bị tiên tiến, phản ánh toàn diện lịch sử đấu tranh chống giặc ngoại xâm, giành độc lập của dân tộc Việt Nam; sự hình thành và phát triển của lực lượng vũ trang nhân dân, nòng cốt là Quân đội nhân dân Việt Nam trong các thời kỳ cách mạng. Thông qua hệ thống trưng bày cũng như các hoạt động giáo dục, Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam góp phần giúp quý khách tham quan hiểu thêm về kho tàng di sản văn hóa quân sự Việt Nam, cảm nhận sự kết nối mạnh mẽ với quá khứ, hiểu thêm về lịch sử hào hùng của dân tộc Việt Nam, trân trọng những giá trị đang có và hướng tới tương lai tươi sáng tốt đẹp hơn.
Hà Nội
1651 lượt xem
Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia
Hang Mường Tỉnh (thường được biết đến là hang động Chua Ta)
Hang Mường Tỉnh (thường được biết đến là hang động Chua Ta) tại Điện Biên là một tuyệt tác thiên nhiên kỳ vĩ, nổi bật với hệ thống nhũ đá, măng đá đa dạng, lấp lánh hình thù độc đáo như ruộng bậc thang, mâm xôi, tạo nét quyến rũ riêng. Hang có cửa nhỏ hẹp nhưng lòng hang rộng, có suối chảy trong hang, mang lại không gian bí ẩn và âm thanh róc rách, là điểm du lịch khám phá hấp dẫn. Hang được xếp hạng di tích lịch sử cấp quốc gia theo quyết định số 1256/QĐ-BVHTTDL ngày 14/04/2011 Thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp hang Mường Tỉnh là căn cứ kháng chiến quan trọng, nơi trú chân của các cơ quan tỉnh, bộ đội,... đặc biệt là trong giải phóng Điện Biên lần thứ nhất năm 1953. Hang Mường Tỉnh gồm có 3 ngăn chính. Ngăn ngoài cùng có cửa hang hẹp, với diện tích khoảng 600 m², chiều cao 20 m, có không gian thoáng đãng, và một bãi đất bằng phẳng. Đây là điều kiện lý tưởng để tổ chức các cuộc họp có sức chứa hàng trăm người mà vẫn giữ được bí mật. Ngăn giữa phải trườn mình qua một đường hầm xuyên đá tự nhiên. Vào bên trong là một không gian với diện tích khoảng 20 m², xung quanh là các bức tường bằng đá, với những hốc đá nhỏ, sâu vào bên trong. Đây là nơi cất giấu tài liệu của cách mạng, với hệ thống bàn làm việc, giường ngủ hoàn toàn bằng đá được sắp xếp tự nhiên nhưng rất hợp lý. Đây là nơi vừa bí mật, nhưng cũng rất đảm bảo an toàn khi có biến cố xảy ra, có một đường nhỏ xuyên lên đỉnh núi, các chiến sĩ có thể chui ra ngoài rừng mà địch vẫn không thể phát hiện. Bên trong là ngăn thứ 3, rộng khoảng 30 m². Hang động Chua Ta là một điểm đến lý tưởng cho những người đam mê khám phá thiên nhiên và tìm kiếm sự trải nghiệm độc đáo khi đến Điện Biên
Điện Biên
1836 lượt xem
Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia
Thành Bản Phủ
Thành Bản Phủ (hay còn có tên là thành Chiềng Lề) thuộc địa phận xã Noọng Hẹt, tỉnh Điện Biên, cách trung tâm thành phố Điện Biên Phủ 8 km về phía nam. Thành Bản Phủ là một di tích lịch sử quốc gia do anh hùng Hoàng Công Chất xây dựng (1758-1762) để chống giặc Phẻ, để làm căn cứ vững chắc, thủ phủ nghĩa quân trong cuộc chiến đấu giải phóng Mường Thanh. Tại thành nội Bản Phủ, sau khi tướng Hoàng Công Chất qua đời (ngày 25/2/1767 âm lịch), để tỏ lòng biết ơn người anh hùng đã có công dẹp giặc ngoại xâm đem lại cuộc sống yên bình cho nhân dân, nhân dân Mường Thanh đã lập đền thờ linh chúa Hoàng Công Chất và 06 vị thần quận công: Lò Ngải, Bạc Cầm Khanh, Hoàng Công Toản, Bun Phanh, Vũ Tả, Nguyễn Hữu, được dân gian gọi chung là đền Hoàng Công Chất. Đây là công trình kiến trúc quân sự cổ độc đáo với hào sâu, thành cao, đền thờ Hoàng Công Chất.Thành Bản Phủ là biểu tượng của tinh thần đoàn kết, kiên cường của quân và dân ta trong việc bảo vệ biên cương tổ quốc, là điểm tham quan lịch sử văn hóa quan trọng.
Điện Biên
2710 lượt xem
Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia
Tượng đài Chiến thắng Điện Biên Phủ
Tượng đài Chiến thắng Điện Biên Phủ, tọa lạc trên đồi D1, thành phố Điện Biên Phủ, là tượng đài bằng đồng lớn nhất Việt Nam, biểu tượng cho chiến thắng lừng lẫy năm 1954.Công trình Tượng đài Chiến thắng Điện Biên Phủ cao 16,6m, gồm 3 bộ đội nâng em bé Thái và lá cờ quyết thắng, thể hiện tinh thần đoàn kết, ý chí kiên cường của dân tộc. Lối lên tượng đài gồm 320 bậc thang, chia thành 3 chiếu nghỉ tương ứng 3 đợt tấn công, hai bên là 56 cột mốc đá xanh tượng trưng 56 ngày đêm chiến đấu. Tượng đài Chiến thắng Điện Biên Phủ được khánh thành năm 2004 (kỷ niệm 50 năm chiến thắng), đây là điểm tham quan lịch sử quan trọng, ghi dấu chiến công "lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu"
Điện Biên
2215 lượt xem
Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia
Bảo tàng chiến thắng lich sử Điện Biên Phủ
Bảo tàng Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ tọa lạc tại quốc lộ 279, phố 3, phường Mường Thanh, thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên. Được khởi công xây dựng từ tháng 10/2012 trên diện tích 22.000m2 và chính thức mở cửa đón khách vào ngày 5/5/2014 sau 19 tháng thi công, Bảo tàng chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ là công trình quy mô, hoành tráng và hiện đại nhất tỉnh Điện Biên hiện nay. Nhà bảo tàng được thiết kế dạng hình nón cụt, phần trang trí xung quanh được tạo hình quả trám tượng trưng như tấm lưới ngụy trang của chiếc mũ anh bộ đội, gồm 1 tầng hầm và 1 tầng nổi. Trong đó, tầng hầm là nơi đón tiếp khách tham quan, không gian học tập, tương tác và các dịch vụ vui chơi giải trí. Tầng nổi là không gian trưng bày cố định chuyên đề chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ, không gian panorama (toàn cảnh) và bộ phận làm việc. Với diện tích 1.250m² bảo tàng trưng bày gần 1.000 hiện vật, tài liệu, hình ảnh, bản đồ, kết hợp cùng các mô hình cảnh quan giả, ánh sáng hiện đại để tái hiện lại "chảo lửa" Điện Biên năm xưa. Bảo tàng Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ không chỉ là nơi tham quan, tìm hiểu lịch sử mà còn là niềm tự hào của người dân cả nước về một thời kỳ oanh liệt "lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu"
Điện Biên
1798 lượt xem
Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia
Hầm chỉ huy tướng De Castries
Hầm chỉ huy tướng De Castries là di tích lịch sử đặc biệt nằm tại trung tâm tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, TP. Điện Biên Phủ. Đây là nơi làm việc của tướng Christian De Castries vào năm 1954, được xây dựng kiên cố với cấu trúc 20m dài, 8m rộng, là biểu tượng cho thất bại của Pháp. Nơi đây nổi tiếng với sự kiện lá cờ "Quyết chiến - Quyết thắng" tung bay ngày 7/5/1954. Vào hồi 17h30 ngày 7/5/1954, đại đội trưởng Tạ Quốc Luật (Sư đoàn 312) đã bắt sống tướng De Castries tại bàn làm việc của ông ta trong căn hầm này, đánh dấu sự toàn thắng của Chiến dịch Điện Biên Phủ. Hiện nay, hầm vẫn được bảo tồn nguyên vẹn và là một trong 23 di tích quốc gia đặc biệt, thu hút đông đảo du khách tham quan, tìm hiểu lịch sử. Hầm De Castries không chỉ là một di tích quân sự mà còn là nhân chứng sống cho ý chí chiến đấu oai hùng của dân tộc Việt Nam.
Điện Biên
1986 lượt xem
Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia
Đình Vĩnh Phong
Đình Vĩnh Phong là ngôi đình cổ của làng Vĩnh Phong, nay thuộc thị trấn Thủ Thừa có từ đầu thế kỷ thứ XIX. Đình Vĩnh Phong, nơi lưu niệm ông Mai Tự Thừa, người đã có công khai cơ lập làng, lập chợ tạo nên sự phồn thịnh của Thị trấn Thủ Thừa ngày nay. Khoảng cuối thế kỷ XVIII, ông Mai Tự Thừa đến làng Bình Lương Tây khai khẩn một dây đất 4 mẩu dọc theo kinh Trà Cú (kinh Thủ Thừa) và cất một ngôi quán nhỏ ở bờ kinh để buôn bán. Do quán của ông ở ngay giáp nước kinh Trà Cú nên ghe thương hồ tụ hội mua bán, trao đổi rất đông, dân cư tìm đến sinh sống ngày một nhiều. Vì thế ông Mai Tự Thừa đã đắp đường, làm bến ghe và lập một cái chợ bằng lá để có nơi mua bán, đó chính là chợ Thủ Thừa ngày nay. Dần dần, dân số xung quanh khu vực chợ phát triển, ông Mai Tự Thừa liền làm đơn xin tách khỏi làng Bình Lương Tây, lập làng mới lấy tên là làng Bình Thạnh. Ông còn hiến một khoảnh đất để cất đình làng - đó chính là tiền thân của đình Vĩnh Phong ngày nay. Tương truyền, ông Mai Tự Thừa đã đóng góp nhiều công của trong việc nạo vét kinh Trà Cú vào năm 1829 và tham gia vào cuộc khởi nghĩa của Lê Văn Khôi rồi mất tích. Vì thế, tài sản của ông gồm cái chợ và ruộng đất bị triều đình sung công và phát mãi, vợ con ông cũng bị lưu đày. Làng Bình Thạnh do ông lập cũng bị đổi tên thành làng Vĩnh Phong, đình làng cũng bị dời đi nơi khác. Mãi sau này khi Thực dân Pháp chiếm Nam Bộ, Triều Nguyễn không còn thế lực ở phương Nam nên đồng bào quanh chợ Thủ Thừa mới quyên tiền xây cất lại đình Vĩnh Phong năm 1886 và đưa bài vị ông Mai Tự Thừa vào thờ với 7 chử hán: ''Tiền hiền Mai Tự Thừa – Chủ thị''. Qua nhiều lần trùng tu, gần nhất vào năm 1998, đình Vĩnh Phong vẫn còn giữ được phong cách kiến trúc cuối thời Nguyễn. Hiện tại đình Vĩnh Phong nằm trong khuôn viên 1132m2 với 3 lớp nhà: võ ca, võ quy, chánh điện trông ra kinh Thủ Thừa. Chánh điện đình Vĩnh Phong được xây dựng theo lối cổ với kết cấu cột tứ trụ, mái lợp ngói âm dương, trên nóc có đôi rồng bằng sành trong tư thế lưỡng long tranh châu. Bên trong chánh điện được bài trí rất trang nghiêm với 2 lớp bao lam, 3 bàn thờ, Long Đình và Lỗ Bộ. Bao lam bên ngoài là tuyệt tác của cánh thợ Thủ Dầu Một có niên đại Mậu Ngọ (1918). Các nghệ nhân đã thể hiện trên bao lam này các đề tài truyền thống như Tứ linh (Long, Lân, Quy, Phụng), Tứ hữu (Mai, Lan, Cúc, Trúc), Bá điểu quy sào. Bên trên bao lam có những khung gỗ kết cấu theo kiểu ô hộc chạm long hình tượng Long Mã, Mai Lộc, Cuốn thư, Cá hóa Long, Dơi, hết sức tinh xảo. Trước bàn thờ chính là bộ bao lam cổ có niên đại Bính Tuất (1886). Vẫn là đề tài tứ hữu, nhưng các chi tiết trên bộ bao lam này được tạo dáng to khỏe mang phong cách cuối thế kỷ XIX. Nét đặc biệt ở bao lam này là nghệ thuật sơn son thếp vàng hết sức tinh xảo. Trải qua thời gian hơn 100 năm mà bộ bao lam này vẫn còn nguyên vẻ rực rở như buổi ban đầu. Chánh điện đình Vĩnh Phong hiện còn 2 bức hoành phi cổ cùng 8 cặp liễn đối có giá trị niên đại Bính Tuất (1886) và Bính Thìn (1916). Đa số các câu đối đều viết theo lối quán thủ (2 chữ đầu của 2 câu đối ghép lại thành tên Đình hoặc tên Thủ Thừa). Đặc biệt cặp liển ở bàn thờ ông Mai Tự Thừa đã nêu bật được công lao to lớn của ông và tấm lòng tri ân sâu sắc của nhân dân Thủ Thừa đối với ông. Chính vì lẽ đó mà ngày nay hàng loạt địa danh ở Long An được đặt là Thủ Thừa như kinh Thủ Thừa (kinh Trà Cú), chợ Thủ Thừa, quận Thủ Thừa (có từ năm 1922). Trên mảnh đất ngày xưa ông Mai Tự Thừa đã quy dân, lập chợ, lập làng, vét kinh, đắp lộ, ngày nay là một thị trấn dân cư đông đúc, kinh tế thịnh vượng, đình Vĩnh Phong vẫn còn đó như nhắc nhở cho chúng ta về một thời đã qua. Đến với đình Vĩnh Phong, chúng ta được chiêm ngưỡng nghệ thuật chạm trổ tài hoa của những nghệ nhân thời trước, hiểu thêm về những đóng góp lớn lao của ông Mai Tự Thừa trong quá trình khai phá đất đai của cha ông chúng ta. Với ý nghĩa ấy, đình Vĩnh Phong đã được Bộ Văn Hóa Thông Tinh ra quyết định xếp hạng là di tích Quốc gia vào ngày 31/8/1998. Nguồn Cổng thông tin điện tử tỉnh Long An
Tây Ninh
6646 lượt xem
Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia.








































































