Di tích lịch sử

Xem dạng bản đồViệt nam

Danh sách điểm di tích (1412)

Đền Bia Bà La Khê

Đền Bia Bà La Khê

Đền Bia Bà La Khê – Di tích lịch sử, văn hóa tâm linh của Hà Nội Đền Bia Bà là một di tích lịch sử – văn hóa nằm trong quần thể Đình – Chùa – Đền Bia Bà ở phường La Khê, quận Hà Đông, thành phố Hà Nội. Đây là công trình có giá trị về lịch sử, kiến trúc và tín ngưỡng dân gian, đồng thời là điểm đến tâm linh nổi tiếng của người dân Thủ đô. Theo thần tích địa phương, đền thờ Đức Thánh Bà Trần Thị Hiền (1511–1538), người quê làng La Ninh (nay là La Khê). Tương truyền, bà là cung phi của vua Mạc Thái Tông, nổi tiếng bởi tài đức và lòng nhân hậu. Sau khi qua đời, nhân dân lập đền thờ để tưởng nhớ công lao và tôn bà làm vị thần bảo hộ cho quê hương. Trải qua nhiều thế kỷ, Đền Bia Bà trở thành nơi sinh hoạt tín ngưỡng quan trọng, gắn bó với đời sống văn hóa của người dân địa phương. Di tích mang đậm kiến trúc truyền thống của vùng đồng bằng Bắc Bộ với cổng Tam quan, sân đền, tòa Đại bái và Hậu cung được bố trí hài hòa trong không gian cổ kính. Hậu cung là nơi đặt tấm bia đá cổ ghi công Đức Thánh Bà, cũng là nguồn gốc tên gọi "Bia Bà". Cùng với đình và chùa La Khê, quần thể di tích tạo nên một không gian văn hóa đặc sắc, phản ánh lịch sử hình thành và phát triển của vùng đất Hà Đông. Không chỉ có giá trị về mặt lịch sử và kiến trúc, Đền Bia Bà còn lưu giữ nhiều phong tục, nghi lễ truyền thống của địa phương. Hằng năm, đặc biệt vào dịp đầu xuân, ngày rằm và mùng Một âm lịch, đông đảo người dân và du khách đến dâng hương, cầu bình an, tài lộc và bày tỏ lòng thành kính. Với những giá trị tiêu biểu về lịch sử, văn hóa và tín ngưỡng, Đền Bia Bà là một trong những di tích tiêu biểu góp phần gìn giữ bản sắc văn hóa của Hà Nội và là điểm đến ý nghĩa đối với du khách trong và ngoài nước. Theo Bachlien.vn tổng hợp

Hà Nội

868 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Đền Ghềnh

Đền Ghềnh

Đền Ghềnh - Ngôi đền linh thiêng thờ Bắc Cung Hoàng hậu Lê Ngọc Hân Đền Ghềnh, tên chữ Thiên Quang Linh Từ, tọa lạc bên bờ sông Hồng, thuộc Bồ Đề, Long Biên, Hà Nội. Đây là một trong những ngôi đền nổi tiếng của Thủ đô, không chỉ bởi kiến trúc và tín ngưỡng thờ Mẫu mà còn gắn với cuộc đời của Bắc Cung Hoàng hậu Lê Ngọc Hân – người vợ tài sắc của Hoàng đế Quang Trung. Theo truyền thuyết dân gian, sau khi Hoàng hậu Lê Ngọc Hân và hai người con qua đời, hài cốt của mẹ con bà bị triều Nguyễn quật lên và thả xuống sông Hồng. Người dân làng Ái Mộ đã âm thầm vớt, đắp mộ và lập miếu thờ để tưởng nhớ. Trải qua thời gian, miếu được mở rộng thành Đền Ghềnh như ngày nay. Trong tâm thức nhân dân, Hoàng hậu Lê Ngọc Hân được tôn kính như hóa thân của Mẫu Thoải, vị Thánh Mẫu cai quản sông nước trong tín ngưỡng thờ Mẫu Việt Nam. Ngôi đền được xây dựng vào năm 1858 trên khu đất rộng bên sông Hồng. Hệ thống thờ tự của Đền Ghềnh mang nhiều nét riêng so với các đền Mẫu khác. Chính điện đặt tượng Hoàng hậu Lê Ngọc Hân ở vị trí trung tâm, cùng nhiều ban thờ được bài trí theo truyền thống tín ngưỡng dân gian, tạo nên không gian linh thiêng và giàu giá trị văn hóa. Hằng năm, lễ hội Đền Ghềnh được tổ chức từ mùng 6 đến 12 tháng Tám âm lịch, nổi bật với nghi lễ rước nước trên sông Hồng nhằm cầu mưa thuận gió hòa và tưởng nhớ Hoàng hậu Lê Ngọc Hân. Bên cạnh đó, tục dâng bánh đa và khế – một nét văn hóa đặc sắc của ngôi đền – vẫn được người dân gìn giữ qua nhiều thế hệ. Không chỉ là điểm sinh hoạt tín ngưỡng của người dân địa phương, Đền Ghềnh còn lưu giữ nhiều hiện vật có giá trị như chuông đồng thời Tự Đức, kiệu Long đình, kiệu Mẫu, cùng hệ thống hoành phi, câu đối ca ngợi công đức của Hoàng hậu Lê Ngọc Hân và vẻ đẹp của vùng đất bên sông Hồng. Ngày nay, Đền Ghềnh là điểm đến văn hóa – tâm linh tiêu biểu của Hà Nội, thu hút đông đảo du khách và người hành hương đến tham quan, chiêm bái. Nguồn: Hà Nội Danh thắng và Di tích

Hà Nội

871 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Di tích cách mạng nhà số 5D Hàm Long

Di tích cách mạng nhà số 5D Hàm Long

Di tích cách mạng nhà số 5D Hàm Long tọa lạc tại phường Phan Chu Trinh, quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội. Đây là địa điểm ghi dấu sự kiện thành lập Chi bộ Cộng sản đầu tiên ở Việt Nam vào cuối tháng 3 năm 1929, một mốc son quan trọng trong lịch sử cách mạng nước ta, mở đường cho sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam. Theo Bảo tàng Lịch sử Quốc gia, từ cuối năm 1928, phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân và xu hướng cộng sản ở Việt Nam phát triển mạnh mẽ. Trước yêu cầu của thực tiễn cách mạng, những hội viên tiên tiến của Hội Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí hội đã bí mật họp tại nhà số 5D Hàm Long để thành lập Chi bộ Cộng sản đầu tiên. Cuộc họp diễn ra vào một đêm cuối tháng 3 năm 1929 với sự tham gia của các đồng chí Ngô Gia Tự, Nguyễn Đức Cảnh, Trần Văn Cung, Trịnh Đình Cửu, Đỗ Ngọc Du, Dương Hạc Đính và Nguyễn Tuân. Đồng chí Nguyễn Phong Sắc do bận công tác đột xuất nên vắng mặt nhưng đã gửi ý kiến tán thành nghị quyết và được công nhận là thành viên chính thức của chi bộ. Đồng chí Trần Văn Cung (bí danh Quốc Anh) được bầu làm Bí thư Chi bộ. Tại cuộc họp, Chi bộ đã xác định những nhiệm vụ trọng tâm như xúc tiến thành lập Đảng Cộng sản, phát triển các tổ chức công hội, nông hội và đẩy mạnh truyền bá chủ nghĩa Mác – Lênin. Sự ra đời của Chi bộ Cộng sản đầu tiên tại 5D Hàm Long đã tạo tiền đề trực tiếp cho việc thành lập Đông Dương Cộng sản Đảng ngày 17/6/1929 và tiến tới thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam đầu năm 1930. Ngôi nhà số 5D Hàm Long vốn là một căn nhà một tầng trong dãy nhà 5A, 5B, 5C, 5D của một gia đình tư sản cho thuê. Nhà có diện tích khoảng 24m², phía sau có sân nhỏ, bếp và khu vệ sinh. Đặc biệt, căn nhà nằm sát một ngõ nhỏ thông ra phố Lê Văn Hưu, tạo điều kiện thuận lợi cho các cán bộ cách mạng bí mật rút lui khi cần thiết. Cuối năm 1928, Kỳ bộ Bắc Kỳ của Hội Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí hội đã thuê căn nhà này làm cơ sở hoạt động bí mật và giao cho đồng chí Trần Văn Cung cùng vợ là Nguyễn Thị Liên trực tiếp quản lý. Trong ngôi nhà đơn sơ, bộ tràng kỷ, chiếc hòm hai đáy dùng để cất giấu tài liệu, chiếc đèn dầu cùng nhiều vật dụng sinh hoạt giản dị đã trở thành những chứng tích lịch sử gắn với quá trình chuẩn bị thành lập Đảng. Ngày 25/11/1959, ngôi nhà được khôi phục thành nhà lưu niệm, trưng bày nhiều tài liệu và hiện vật gắn với sự ra đời của Chi bộ Cộng sản đầu tiên. Năm 1964, di tích được công nhận là Di tích cách mạng Hà Nội. Đến năm 2000, công trình tiếp tục được tu bổ nhằm khôi phục diện mạo như thời điểm diễn ra cuộc họp lịch sử tháng 3 năm 1929. Ngày nay, di tích 5D Hàm Long do Bảo tàng Hà Nội quản lý, là địa chỉ đỏ có ý nghĩa đặc biệt trong giáo dục truyền thống cách mạng, góp phần giúp các thế hệ hôm nay hiểu rõ hơn về quá trình hình thành tổ chức cộng sản đầu tiên và sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam. Nguồn: Bảo tàng Lịch sử Quốc gia.

Hà Nội

301 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Đền thờ Chu Văn An

Đền thờ Chu Văn An

Đền thờ Chu Văn An tọa lạc bên dòng sông Tô Lịch, thuộc xã Thanh Liệt, huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội. Đây là nơi thờ Chu Văn An (1292–1370) – nhà giáo, nhà nho nổi tiếng thời Trần, người được các thế hệ suy tôn là "Vạn thế sư biểu" (người thầy của muôn đời). Theo các tư liệu lịch sử, sau khi Chu Văn An qua đời, nhân dân quê hương Thanh Liệt đã lập đền thờ và tôn ông làm Thành hoàng làng. Đến thời Lê Trung Hưng (1533–1789), đền được phối thờ thêm các vị đỗ đại khoa của địa phương nên còn mang ý nghĩa là Văn chỉ – nơi tôn vinh những người có học vấn và công lao đối với quê hương. Đền được xây dựng theo kiến trúc truyền thống kiểu chữ "Công", gồm ba hạng mục chính là nhà tiền tế, phương đình và hậu cung. Hậu cung là không gian linh thiêng nhất của di tích, nơi đặt khám thờ sơn son thếp vàng cùng bài vị thờ Chu Văn An. Trải qua nhiều lần trùng tu, đặc biệt vào dịp Đại lễ kỷ niệm 1000 năm Thăng Long – Hà Nội, ngôi đền được tu bổ khang trang nhưng vẫn giữ được nét kiến trúc cổ kính và không gian trang nghiêm. Đền hiện còn lưu giữ nhiều hiện vật có giá trị lịch sử và văn hóa như hai bức y môn, cửa võng, các hoành phi, câu đối, khám thờ, đỉnh đồng, lọ độc bình, sáu bia đá, thần phả cùng năm đạo sắc phong thời Lê và Nguyễn, phản ánh truyền thống tôn sư trọng đạo của dân tộc Việt Nam. Không chỉ là nơi tưởng niệm nhà giáo Chu Văn An, đền còn là địa điểm sinh hoạt tín ngưỡng của nhân dân địa phương và là điểm đến của nhiều học sinh, sinh viên, nhà giáo cùng du khách thập phương đến dâng hương, bày tỏ lòng biết ơn đối với người thầy mẫu mực của nền giáo dục Việt Nam. Với những giá trị nổi bật về lịch sử, văn hóa và giáo dục, năm 1989, Đền thờ Chu Văn An được xếp hạng Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia. Ngày nay, di tích không chỉ góp phần bảo tồn di sản Thăng Long – Hà Nội mà còn là biểu tượng của truyền thống hiếu học và tôn sư trọng đạo của dân tộc. Nguồn: Thông tấn xã Việt Nam

Hà Nội

911 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

DI TÍCH LỊCH SỬ MIẾU TRUNG LIỆT

DI TÍCH LỊCH SỬ MIẾU TRUNG LIỆT

DI TÍCH LỊCH SỬ MIẾU TRUNG LIỆT Miếu Trung Liệt tọa lạc trang nghiêm trên đỉnh Gò Đống Đa, là công trình cổ kính được lập ra để tưởng nhớ các vị trung thần, nghĩa sĩ đã có công oanh liệt và tuẫn tiết để bảo vệ kinh thành. Qua cổng Nghi môn bằng gạch vồ rêu phong và sân gạch nhỏ là tới tòa Đại bái vững chãi, nổi bật với ba chữ "Trung Liệt Miếu" cùng hệ thống hoành phi, câu đối sơn son thếp vàng. Miếu được xây dựng theo lối kiến trúc chữ Đinh (\text{丁}), đầu hồi bít đốc, trên lợp ngói di cổ kính mang đậm dáng dấp nghệ thuật kiến trúc thời Nguyễn từ thế kỷ XIX (năm 1856). Dù nằm trong cùng một khuôn viên, nhưng Miếu Trung Liệt có tính chất thờ tự hoàn toàn độc lập với Gò Đống Đa. Nếu như Gò Đống Đa là chứng tích chiến trường năm 1789 gắn liền với tôn vinh Hoàng đế Quang Trung và chiến thắng quân Thanh, thì Miếu Trung Liệt lại là nơi đặc biệt lập ra để thờ phụng các vị quan yêu nước thời Nguyễn đã anh dũng hy sinh khi thực dân Pháp tấn công thành Hà Nội. Chính vì vậy, trung tâm thờ tự tại Hậu cung của miếu đặt bài vị và tượng thờ của Tổng đốc Nguyễn Tri Phương, người đã tuyệt thực đến chết sau khi thành thất thủ lần thứ nhất năm 1873, và Tổng đốc Hoàng Diệu, người đã tự vẫn dưới gốc đa cổ thụ khi thành thất thủ lần thứ hai năm 1882. Bên cạnh đó, miếu cũng phối thờ Kinh lược sứ Nguyễn Lâm cùng bài vị của vua Quang Trung để quy tụ hồn thiêng sông núi. Công trình đã được xếp hạng di tích lịch sử quốc gia, được đầu tư kinh phí trùng tu nhằm bảo tồn nguyên vẹn các giá trị kiến trúc và khí tiết kiên trung của các bậc tiền nhân. Nguồn: Hà Nội – Danh thắng và Di tích

Hà Nội

518 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Đền thờ Phùng Hưng

Đền thờ Phùng Hưng

Đền thờ Phùng Hưng (Bố Cái Đại Vương) được lập ở nhiều nơi trên đất nước Việt Nam, nhưng ngôi đền ở Đường Lâm (thị xã Sơn Tây, TP Hà Nội) có quy mô lớn nhất, kiến trúc độc đáo và chứa đựng nhiều giá trị lịch sử, văn hóa. Phùng Hưng là người ấp Đường Lâm. Ông là người nhân đức, có lòng yêu thương nhân dân. Phùng Hưng có hai người em là Phùng Hải và Phùng Dĩnh. Ba anh em đều có sức khỏe phi thường: Phùng Hưng đánh được hổ, vật được trâu; hai người em cõng đá nặng ngàn cân. Do vậy mà nhân dân gần xa đều kính phục, tôn Phùng Hưng là Đô Quán, Phùng Hải là Đô Bảo. Sinh vào thời đất nước bị giặc ngoại xâm, họ đã sớm hình thành ý chí đánh đuổi giặc, giành độc lập, tự chủ. Họ chiêu mộ nghĩa quân hào kiệt, dấy binh nổi dậy ở Đường Lâm chống lại ách thống trị của nhà Đường. Khi nghĩa quân đánh thành Tống Bình, tướng địch là Cao Chính Bình thất bại, lo lắng mà chết. Phùng Hưng nắm giữ phủ thành, tổ chức việc chính trị, xây dựng nền độc lập tự chủ cho đất nước trong 7 năm. Sau khi ông mất, nhân dân nhớ ơn và suy tôn ông là Bố Cái Đại Vương. Tại quê hương Phùng Hưng là thôn Cam Lâm, xã Đường Lâm, thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội, nhân dân đã lập đền để tôn thờ ông. Quy mô hiện nay của ngôi đền được hình thành sau đợt sửa chữa, trùng tu lớn vào thế kỷ XIX, gồm các hạng mục: cổng nghi môn, tả hữu mạc, đại bái và hậu cung. Cổng nghi môn được xây dựng đơn giản, có chức năng ngăn cách thế giới tâm linh với cuộc sống trần tục. Qua cổng là hai dãy tả hữu mạc, mỗi dãy ba gian, các bộ vì kèo được thiết kế thông thoáng, thuận tiện cho các sinh hoạt cộng đồng. Đại bái gồm ba gian hai dĩ, hai mái lợp ngói ri. Các bộ vì được kết cấu trên bốn hàng chân cột, liên kết theo lối: “Thượng giá chiêng rường nách, hạ kẻ chuyền, bảy hiên”. Hoa văn trang trí trên các cấu kiện kiến trúc khá giản dị, chủ yếu tập trung ở đầu dư, kìm chạm hình rồng, rường nách chạm vân mây, lá lật, các kẻ và bẩy bào soi chạm lá kết hợp với những dải mây cách điệu. Hậu cung gồm ba gian, xây theo kiểu tường hồi bít đốc. Các cấu kiện kiến trúc thiên về sự bền chắc, trang nghiêm và tôn kính đối với vị anh hùng được thờ phụng. Tượng đồng Phùng Hưng được đặt tại vị trí trang trọng trong hậu cung (tượng được tôn tạo vào đầu thế kỷ XXI). Quê hương Cam Lâm không chỉ có đền thờ Phùng Hưng mà còn lưu giữ nhiều địa danh gắn với cuộc đời và sự nghiệp của ông như Vũng Hàm, đồi Hổ Gầm, đồi Xà Mẫu, giếng Ngọc và rặng duối. Theo truyền thuyết, đây là những nơi anh em họ Phùng từng đánh hổ, luyện võ và tập trận trước khi khởi nghĩa chống quân đô hộ. Đền Phùng Hưng đã được Bộ Văn hóa và Thông tin xếp hạng Di tích lịch sử - kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia năm 1964. Nguồn: Hà Nội – Danh thắng và Di tích.

Hà Nội

810 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Di tích lịch sử Hang Dơi Mộc Châu

Di tích lịch sử Hang Dơi Mộc Châu

Di tích lịch sử Hang Dơi Mộc Châu Hang Dơi, còn gọi là Động Sơn Mộc Hương, nằm gần trung tâm thị trấn Mộc Châu, tỉnh Sơn La. Không chỉ nổi tiếng với vẻ đẹp kỳ vĩ của thiên nhiên, Hang Dơi còn là một di tích lịch sử - khảo cổ có giá trị, phản ánh quá trình cư trú của cư dân cổ trên vùng đất Tây Bắc cách đây hàng nghìn năm. Hang là một động đá vôi tự nhiên có diện tích khoảng 6.915 m², gồm ba khoang lớn với hệ thống nhũ đá và măng đá phong phú. Trải qua hàng triệu năm kiến tạo địa chất, thiên nhiên đã tạo nên những khối thạch nhũ mang nhiều hình dáng độc đáo như ông tiên, cô gái quay sợi, mẹ bồng con, voi, sư tử và nhiều hình tượng khác. Cùng với vẻ đẹp huyền ảo của ánh sáng tự nhiên, Hang Dơi được mệnh danh là "Tây Thiên đệ nhất động", một trong những hang động đẹp nhất vùng Tây Bắc. Giá trị đặc biệt của Hang Dơi không chỉ nằm ở cảnh quan mà còn ở phương diện lịch sử và khảo cổ học. Năm 1952, các nhà nghiên cứu đã phát hiện nhiều dấu tích của người Việt cổ tại khu vực trước cửa hang. Đến năm 1992, Bảo tàng Sơn La phối hợp với Viện Khảo cổ học Việt Nam tiến hành khảo sát và khai quật, phát hiện tầng văn hóa dày khoảng 0,5 m cùng nhiều hiện vật như rìu đá mài, mảnh tước, bi đá, mảnh gốm và các công cụ lao động bằng đá. Những phát hiện này cho thấy Hang Dơi từng là nơi cư trú của cư dân thời hậu kỳ đá mới, cách ngày nay khoảng 3.000–3.500 năm, thuộc văn hóa Hòa Bình – một nền văn hóa khảo cổ tiêu biểu trong lịch sử Việt Nam. Bên cạnh giá trị khảo cổ, Hang Dơi còn lưu giữ nhiều truyền thuyết dân gian đặc sắc của đồng bào địa phương. Tiêu biểu là truyền thuyết về Cung nhà trời và chuyện tình giữa hoàng tử Thủy Tề với công chúa trần gian. Những câu chuyện này góp phần làm phong phú thêm giá trị văn hóa, phản ánh đời sống tinh thần và trí tưởng tượng phong phú của cư dân vùng cao. Với những giá trị nổi bật về địa chất, khảo cổ, lịch sử và văn hóa, năm 1998 Hang Dơi Mộc Châu được Bộ Văn hóa – Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) xếp hạng là Di tích cấp quốc gia. Đây không chỉ là sự ghi nhận đối với vẻ đẹp thiên nhiên mà còn khẳng định ý nghĩa của Hang Dơi trong việc nghiên cứu lịch sử cư trú của người Việt cổ ở khu vực Tây Bắc. Ngày nay, Hang Dơi là điểm đến hấp dẫn của du khách khi đến Mộc Châu. Việc bảo tồn và phát huy giá trị của di tích không chỉ góp phần gìn giữ di sản thiên nhiên và lịch sử dân tộc mà còn giúp giáo dục truyền thống, nâng cao ý thức bảo vệ các di sản văn hóa cho các thế hệ mai sau. Theo cổng thông tin điện tử tỉnh Sơn La

Sơn La

817 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Đền và lăng Ngô Quyền

Đền và lăng Ngô Quyền

Đền và lăng Ngô Quyền thuộc xã Đường lâm, Thị xã Sơn Tây, Hà Nội. Thôn Cam Lâm, xã Đường Lâm, thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội là mảnh đất “một ấp hai vua” (Phùng Hưng và Ngô Quyền). Ngày nay nơi đây vẫn còn lưu giữ những dấu tích, đền thờ gắn liền với tên tuổi của hai ông, trong đó đặc biệt là đền Phùng Hưng và lăng Ngô Quyền. Ngô Quyền sinh ra và lớn lên trong một gia đình mà người cha đã làm đến chức Châu Mục. Ngô Quyền là người khôi ngô, tuấn tú, tướng mạo khác thường, trí dũng song toàn, sức khoẻ hơn người. Ông sớm tinh thông võ nghệ, kiếm cung... tiếng tăm lẫy lừng. Sinh ra khi đất nước có ngoại xâm, thủa thiếu thời, ông đã làm nhiều việc thiện đức, giúp đỡ người nghèo và chiêu mộ anh tài, hào kiệt, xây dựng căn cứ, chờ ngày khởi nghĩa. Năm 938, giặc Nam Hán do Hoằng Thao đem chiến thuyền ồ ạt kéo vào nước ta phía cửa Bạch Đằng. Bằng chiến thuật quân sự, dùng cọc gỗ vót nhọn, đầu bịt sắt, Ngô Quyền và quân lính đã đánh tan đội thuỷ binh hùng mạnh của giặc cùng với tướng giặc Hoằng Thao - con vua Nam Hán. Chiến thắng oanh liệt của Ngô Quyên trên sông Bạch Đằng đã chấm dứt thời kỳ Bắc thuộc, kéo dài hơn một ngàn năm, mở ra trang sử mới độc lập, tự do lâu dài cho dân tộc ta. Ngô Quyền đã xây dựng lại đất nước, chỉnh đốn chính trị, xây dựng thành quách, định nghi lễ... bộ máy chính quyền mang tính chất độc quyền lâu dài. Đền Ngô Quyền được xây dựng lâu đời và qua nhiều lần trùng tu. Lần trùng tu lớn vào thời Nguyễn, triều Tự Đức (1848 - 1883). Cuối thế kỷ XX đã tu bổ nâng cấp đền, lăng và cảnh quan xung quanh. Quy mô đền hiện gồm các hạng mục: Nghi môn, Tả Hữu mạc, Đại bái và Hậu cung. Đại bái đền gồm 5 gian, xây kiểu tường hồi bít đốc. Các cấu kiện của bộ khung gỗ chủ yếu là bào trơn đóng bén thiên về độ vững trãi cho công trình. Hậu cung kiểu Tiền đạo hậu đốc, bộ khung trang trí đề tài tứ linh, tứ quý... tôn nghiêm, thể hiện sự kính ngưỡng đối với vị thần. Đền thờ Ngô Quyền được xây bên sườn đồi. Các đồ thờ tự như: tượng Ngô Quyền, long ngai bài vị, hương án, giá văn, lộc bình... được bài trí trong Hậu cung. Đại bái trưng bày rất nhiều hiện vật, trong đó chú ý là các cọc ngầm đóng trên sông Bạch Đằng... nói lên thân thế và sự nghiệp của Ngô Quyền. Ngay cạnh đền, phía trước là lăng Ngô Quyền, xây theo hình 4 mái trên bệ cao, có tường gạch bao quanh. Giữa lăng là ngai thờ, bên trong có bia đá “Tiền Ngô vương lăng”, niên đại Minh Mệnh thứ hai (1821). Trước lăng là những rộc sâu, tương truyền là hồ sen nơi thủa nhỏ Ngô Quyền thường cùng bạn chăn trâu, bởi lặn và tập trận. Phía sườn đồi là những rặng duối, tương truyền là nơi Ngô Quyền buộc dây cột voi vào gốc duối. Đền và lăng Ngô Quyền đã được Bộ Văn hoá và Thông tin xếp hạng di tích lịch sử, kiến trúc nghệ thuật năm 1964. Theo Hà Nội Danh thắng và Di tích

Hà Nội

864 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Am Mỵ Châu

Am Mỵ Châu

Am Mỵ Châu còn được gọi là am Bà Chúa hay đền thờ Mỵ Châu nằm ở phía Tây đình Ngự Triều Di Quy. Phía trước am thờ có một cây đa tương truyền là do Ngô Quyền đã trồng. Cây đa này rất lớn nên thường gọi là cây đa nghìn tuổi, nay không còn nữa, chỉ còn lại một vòm cửa xây gạch là dấu tích dưới vòm của những rễ đa khi xa. Khu am thờ là một kiến trúc gồm 2 phần chính. Tiền tế là một ngôi nhà được xây dựng bằng gỗ 3 gian, tường hồi bít đốc, mái lợp ngói ta. Các bộ vì được làm theo kiểu “thượng giá chiêng, hạ chồng rường, kẻ bẩy”. Tất cả các cấu kiện đều không có chạm khắc hoa văn gì mà chỉ bào soi. Kiến trúc này có niên đại muộn (cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX). Trên thượng lương có dòng chữ Hán ghi rõ niên đại tu bổ: Việt Nam dân chủ cộng hoà, tuế thứ Quý Sửu (1973). Hậu cung là 1 toà nhà xoay dọc, kết cấu chịu lực chính là các bức tường xây bao 3 mặt chỉ để 2 cửa bên thông với tiền tế. Tại tiền tế 2 bên trụ đầu hồi nhà có đắp ngoã đôi câu đối: Trung tín nhất tâm chiêu nhật nguyệt; linh quang vạn cổ đẳng càn khôn (tạm dịch: một lòng trung tín tựa trăng sao; anh linh sáng sủa mãi mãi như trời đất). Tại gian giữa có ban thờ gọi là “hương án tiền”, phía trên có bức cuốn thư đề 4 chữ Hán: Tốn cung diên tuý (cung thờ người con gái ) và có 4 đôi câu đối ở khu vực này nói về lòng trung tín của công chúa Mỵ Châu. Đôi câu đối tại cột cái cạnh hương án: trung tín thệ tâm thân hoá thạch; hưng vong sái lệ vọng trầm châu (lòng trung tín trong tâm đã thề nên thân hoá đá; dòng nước mắt khóc về sự thịnh suy kết thành châu ngọc dưới giếng sâu). Bên cạnh đó một đôi câu đối khác: Phái diễn ngàn hoàng trịnh liệt cao huyền thiên cổ kính; ba trừng ngọc tỉnh hiển linh quang bạch nhất sinh tâm (dòng dõi của nàng là con Lạc cháu Hồng, tấm lòng trinh liệt được nêu gương từ xa đến nay; giếng ngọc toả ánh sáng thiêng liêng tỏ rõ tấm lòng thành). Đi tiếp vào phía trong, trước hậu cung có ban thờ “thập nhị cô” - những người hầu cận của công chúa. Có đôi câu đối trên trụ 2 bên ban thờ: Thiên tải thượng thị gia phi thuỳ năng biệt chi quy chảo nỗ cơ truyền ngoại sử; ngũ luân chung phụ giữ phu quả thục dân giã bạng khai tỉnh thuỷ đội thâm tình (ngàn năm đã qua cái đúng cái sai ai có thể biện minh được, cái móng rùa làm nẫy nỏ thần thì cũng chỉ là truyền thuyết; trong ngũ luân, cha và chồng ai là người thân hơn chỉ có ngọc trai và nước giếng ngọc mới chứng tỏ được thôi). Hậu cung là nơi có đặt ban thờ bà chúa Mỵ Châu. Trên có đặt ngai thờ. Gian trong cùng là nơi đặt tượng đá. Đây chính là “tượng đá Mỵ Châu” đã được kể trong truyền thuyết. Có thể kể thêm rằng: nơi mà Mỵ Châu bị vua cha chém đầu là đèo Mộ Dạ thuộc tỉnh Nghệ An ngày nay nhưng theo câu truyện truyền thuyết thì tượng hoá đá trôi về tận chân thành Ngoại. Tại Nghệ An hiện nay cũng có đền thờ An Dương Vương, cạnh đó là am thờ Mỵ Châu. Địa điểm đó gọi là Núi Cuông, nay đền ở trên đỉnh núi, còn được gọi là đền Cuông. Theo BQL Di tích Thành Cổ Loa

Hà Nội

787 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia đặc biệt

Mở

Đền thờ vua An Dương Vương

Đền thờ vua An Dương Vương

Đền thờ vua An Dương Vương còn gọi là đền Thượng được xây dựng trên một quả đồi mà truyền thuyết nói là xưa có cung thất của vua. Di tích đền Thượng có diện tích rộng khoảng 19.138,6m2, được xây dựng theo hướng Nam, các công trình kiến trúc chính của ngôi đền nằm trên trục Dũng đạo (Thần đạo). Hồ nước phía trước khu đền khá lớn, có hình cung tròn với bờ cong tự nhiên được kè bằng đá, có lối đi và trồng cây xung quanh giữa hồ có giếng Ngọc. Trước đây, hồ nước thông với hào của hai vòng thành ngoài và ra tận bến sông phía Đông - Nam thành Ngoại. Theo truyền thuyết thì đây chính là hồ nước mà Mỵ Châu - Trọng Thủy thường từ đây đi thuyền du ngoạn khi chưa xảy ra cuộc chiến tranh xâm lược của Triệu Đà. Sau chiến tranh, Trọng Thủy nhảy xuống đây tự vẫn vì ân hận đã gây ra cái chết của người vợ yêu quý. Trong dân gian còn truyền tụng câu chuyện dòng máu của nàng Mỵ Châu khi bị Vua cha chém đầu, rơi xuống biển, loài trai ăn phải thì hóa thành ngọc trai, nếu đem về rửa ở giếng này thì ngọc càng thêm sáng và do đó giếng nước giữa hồ trước đền Thượng còn có tên là Giếng Ngọc. Đền Thượng có hai nghi môn là Nghi môn ngoại và Nghi môn nội. Nghi môn ngoại được xây dựng bằng gạch không trát, hình thức như một cổng thành có hai tầng, tầng dưới là 3 cửa đi, được xây kiểu cuốn vòm, tầng trên thu gọn dưới dạng vọng lâu 2 tầng 8 mái. Lối lên cửa giữa có đôi rồng đá lớn ở hai bên thành bậc cửa được tạo tác năm 1732. Qua Nghi môn ngoại là sân rồng hạ lát gạch Bát Tràng, giữa sân có một con đường lát đá chạy thẳng đến cửa chính Nghi môn nội. Do có quan niệm cho rằng: đền được xây trên “đầu rồng”, vì thế người ta đã tạo nên ở hai bên Sân rồng hạ 2 giếng nhỏ được gọi là “mắt rồng” tương xứng nhau, bên cạnh có 2 gò đất cao là “hàm rồng”. Nghi môn nội được đặt cao hơn mặt sân, lối lên có 7 bậc thềm đá xanh. Hai bên bậc thềm là đôi rồng tạo bằng vữa hợp chất. Qua Nghi môn nội là sân rồng thượng lát bằng gạch Bát Tràng. Chính giữa sân là con đường lát đá dẫn lên nhà Tiền tế còn được gọi là Đại bái hay Tiền bái. Tiền tế là một kiến trúc bề thế, mái lợp ngói mũi hài, có các góc đao cong vút và đắp tượng nghê chầu. Hai dãy nhà hành lang dài hai bên nối Tiền tế và Trung đường, giữa hai dãy hành lang là một tòa Phương đình. Hậu cung là một tòa nhà kiểu “chuôi vồ”, đấu mái liền với Trung đường. Trong Hậu cung có bức tượng vua An Dương Vương được đúc bằng đồng, nặng 200kg, có niên đại 1897. Nhà bia nằm trong tổng thể kiến trúc ngôi đền, được xây dựng trên một khu đất cao phía Tây của sân thượng, hướng mặt quay vào đền. Đây là một công trình kiến trúc nhỏ có dạng Phương đình, hai tầng tám mái - một kiến trúc gỗ mái lợp ngói mũi hài khá hài hòa xinh xắn. Căn cứ những mảng kiến trúc, hiện vật hiện còn, cho biết đền Thượng có thể được xây dựng khoảng thế kỷ 17-18. Theo BQL Di tích thành cổ loa

Hà Nội

569 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia đặc biệt

Mở

Cửa Bắc

Cửa Bắc

Chứng nhân lịch sử giữa lòng Hoàng thành Hà Nội Nằm trên phố Phan Đình Phùng, Cửa Bắc (Chính Bắc Môn) là cổng thành duy nhất còn nguyên vẹn của Thành Hà Nội thời Nguyễn. Được xây dựng năm 1805 trên nền Cửa Bắc thời Lê, công trình không chỉ là dấu tích quý giá của kiến trúc quân sự xưa mà còn là biểu tượng cho tinh thần kiên cường của quân và dân Hà Nội trong những năm tháng chống giặc ngoại xâm. Cửa Bắc được xây dựng theo kiến trúc vọng lâu với phần cổng thành đồ sộ phía dưới và lầu canh tám mái phía trên. Từ vọng lâu, binh lính xưa có thể quan sát toàn bộ khu vực trong và ngoài thành để bảo vệ kinh thành. Trải qua hơn hai thế kỷ, công trình vẫn giữ được nhiều nét kiến trúc nguyên bản với tường thành bằng gạch và đá kiên cố, cổng gỗ lớn cùng dòng chữ Hán "Chính Bắc Môn" còn nguyên trên cổng. Điểm đặc biệt khiến Cửa Bắc trở thành di tích lịch sử có giá trị là hai vết đạn thần công vẫn còn hằn rõ trên mặt ngoài cổng thành. Đây là dấu tích của cuộc tấn công do quân Pháp tiến hành vào thành Hà Nội năm 1882, nhắc nhớ về những trận chiến oanh liệt trong lịch sử dân tộc. Bên trong vọng lâu hiện là nơi thờ hai vị Tổng đốc Hà Nội Nguyễn Tri Phương và Hoàng Diệu – những vị anh hùng đã chiến đấu và tuẫn tiết để bảo vệ thành Hà Nội trước sự xâm lược của thực dân Pháp. Không gian trang nghiêm cùng những hiện vật trưng bày giúp du khách hiểu thêm về tinh thần yêu nước, ý chí bất khuất của cha ông trong công cuộc bảo vệ Thăng Long – Hà Nội. Đến với Cửa Bắc, du khách không chỉ được chiêm ngưỡng một công trình kiến trúc cổ độc đáo mà còn có cơ hội khám phá quần thể Hoàng thành Thăng Long, tìm hiểu lịch sử kinh đô nghìn năm văn hiến và lưu lại những bức ảnh ấn tượng giữa hàng cây xanh cổ thụ trên phố Phan Đình Phùng – một trong những con đường đẹp nhất Hà Nội. Ngày nay, Cửa Bắc là điểm dừng chân không thể bỏ qua trong hành trình khám phá Thủ đô. Giữa nhịp sống hiện đại, công trình vẫn lặng lẽ gìn giữ những dấu ấn lịch sử, trở thành biểu tượng của lòng yêu nước, sự kiên cường và niềm tự hào về một Hà Nội nghìn năm văn hiến. Theo BQL Di tích Hoàng Thành Thăng Long

Hà Nội

754 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia đặc biệt

Mở

Ô Quan Chưởng

Ô Quan Chưởng

Cửa ô cuối cùng lưu giữ hồn xưa của Hà Nội Giữa nhịp sống sôi động của phố cổ Hà Nội, Ô Quan Chưởng vẫn lặng lẽ đứng đó như một chứng nhân của hơn hai thế kỷ lịch sử. Là cửa ô duy nhất còn sót lại của kinh thành Thăng Long, công trình không chỉ mang giá trị kiến trúc độc đáo mà còn là biểu tượng gợi nhớ về một Hà Nội ngàn năm văn hiến. Được xây dựng từ năm 1749 và trùng tu vào năm 1817 dưới triều Nguyễn, Ô Quan Chưởng còn có tên gọi Đông Hà Môn, nằm ở cửa ngõ phía Đông của kinh thành xưa. Công trình được xây dựng theo kiến trúc cổng vọng lâu với một cửa chính lớn, hai cửa phụ hai bên và vọng lâu bốn mái cong phía trên. Trên cổng vẫn còn nguyên ba chữ Hán "Đông Hà Môn", dấu ấn lịch sử đã tồn tại cùng năm tháng. Trải qua nhiều biến cố của lịch sử, Ô Quan Chưởng vẫn giữ được nét cổ kính với những bức tường gạch phủ rêu phong, mái ngói nhuốm màu thời gian và không gian bình yên giữa lòng phố thị. Đứng dưới cổng thành, du khách có cảm giác như được quay ngược thời gian, trở về với hình ảnh Thăng Long xưa – nơi những đoàn người, xe ngựa từng tấp nập ra vào qua cửa ô mỗi ngày. Không chỉ là một di tích lịch sử, Ô Quan Chưởng còn là điểm dừng chân yêu thích của du khách khi khám phá khu phố cổ Hà Nội. Từ đây, bạn có thể dễ dàng kết hợp tham quan chợ Đồng Xuân, phố Hàng Chiếu, phố đi bộ Hồ Gươm hay thưởng thức những món ăn đặc trưng của ẩm thực Hà thành. Đặc biệt, vào buổi sáng sớm hoặc chiều muộn, ánh nắng xuyên qua cổng thành tạo nên khung cảnh cổ kính, là thời điểm lý tưởng để lưu lại những bức ảnh đậm chất Hà Nội. Ngày nay, Ô Quan Chưởng không chỉ là di tích lịch sử quốc gia, mà còn là biểu tượng của sự trường tồn, lưu giữ ký ức về một Thăng Long xưa giữa lòng Thủ đô hiện đại. Nếu có dịp ghé thăm Hà Nội, đừng quên dừng chân tại Ô Quan Chưởng để cảm nhận vẻ đẹp mộc mạc, bình yên và lắng nghe những câu chuyện lịch sử còn vang vọng theo từng viên gạch cổ. Theo tạp chí người Hà Nội

Hà Nội

749 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Mộ thương nhân Nhật Bản Tani Yajirobei

Mộ thương nhân Nhật Bản Tani Yajirobei

Mộ thương nhân Nhật Bản Tani Yajirobei nằm tại Hội An Đông, TP Đà Nẵng, là minh chứng cho mối quan hệ giao thương giữa Việt Nam và Nhật Bản trong thời kỳ Hội An là thương cảng quốc tế sầm uất vào cuối thế kỷ XVI, đầu thế kỷ XVII. Ông Tani Yajirobei, quê ở Hirado (gần Nagasaki), đến Hội An buôn bán, định cư và qua đời tại đây. Bia mộ được lập năm 1647, ghi rõ quê quán Nhật Bản, là tư liệu quý về sự hiện diện của cộng đồng người Nhật tại Hội An. Ngôi mộ được xây dựng theo lối mộ cổ Hội An với nấm mộ bằng hợp chất truyền thống từ vôi, vỏ sò, vỏ hến, mật mía và nhựa cây bời lời tạo độ bền cao qua hàng trăm năm. Đây là một trong những di tích có giá trị về lịch sử, văn hóa và kiến trúc, góp phần minh chứng cho sự giao lưu kinh tế, văn hóa Việt Nam – Nhật Bản trong lịch sử. Mộ được xây trên một gò đất cao, quay hướng Đông Bắc theo quan niệm phong thủy truyền thống. Công trình gồm thành bao bằng sa thạch, nấm mộ hình yên ngựa và bia mộ bằng đá sa thạch. Năm 1991, Mộ thương nhân Nhật Bản Tani Yajirobei được xếp hạng Di tích lịch sử cấp Quốc gia. Ngày nay, di tích là điểm tham quan hấp dẫn, đặc biệt đối với du khách Nhật Bản và những người yêu thích tìm hiểu lịch sử thương cảng Hội An. Nguồn: Đô thị cổ Hội An

Đà Nẵng

518 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Di tích lịch sử Pháo đài Láng

Di tích lịch sử Pháo đài Láng

Nằm trên phố Pháo Đài Láng, phường Láng Thượng, thành phố Hà Nội, Di tích lịch sử Pháo đài Láng là nơi ghi dấu những phát pháo đầu tiên mở màn cuộc Toàn quốc kháng chiến chống thực dân Pháp vào tối ngày 19/12/1946. Đây cũng là nơi lập nên chiến công đầu tiên của Binh chủng Pháo binh Quân đội nhân dân Việt Nam, trở thành một "địa chỉ đỏ" có ý nghĩa đặc biệt trong lịch sử đấu tranh bảo vệ nền độc lập của dân tộc. Pháo đài được thực dân Pháp xây dựng vào năm 1941 trên cánh đồng làng Láng Trung với mục đích phòng thủ Hà Nội. Ban đầu, công trình được trang bị bốn khẩu pháo cao xạ cỡ 75 mm cùng hệ thống đài chỉ huy kiên cố. Sau cuộc đảo chính Pháp của phát xít Nhật năm 1945 và thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám, lực lượng quân giới Việt Nam đã thu thập, sửa chữa và khôi phục các khẩu pháo để phục vụ nhiệm vụ bảo vệ chính quyền cách mạng. Ngày 29/6/1946, đơn vị pháo binh đầu tiên của Quân đội Việt Nam được thành lập. Pháo đài Láng trở thành một trong những trận địa pháo quan trọng bảo vệ Thủ đô, nơi các chiến sĩ pháo binh ngày đêm khẩn trương chuẩn bị cho nhiệm vụ chiến đấu trong bối cảnh tình hình Hà Nội ngày càng căng thẳng. Tối 19/12/1946, sau khi tín hiệu mở đầu cuộc Toàn quốc kháng chiến được phát đi, từ Pháo đài Láng, những loạt pháo đầu tiên đã đồng loạt nã vào các vị trí quân Pháp trong thành Hà Nội. Tiếng pháo vang lên không chỉ mở màn cho cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp mà còn đánh dấu sự ra đời và trưởng thành của Binh chủng Pháo binh Việt Nam. Trong suốt 60 ngày đêm chiến đấu bảo vệ Hà Nội, các chiến sĩ tại Pháo đài Láng đã cùng quân và dân Thủ đô kiên cường chiến đấu, góp phần kìm chân địch, tạo điều kiện để Trung ương Đảng, Chính phủ và các cơ quan đầu não rút lên căn cứ an toàn, chuẩn bị cho cuộc kháng chiến lâu dài. Sau chiến tranh, dấu tích của pháo đài không còn nguyên vẹn do quá trình đô thị hóa. Tuy nhiên, khẩu pháo 75 mm cùng một phần trận địa đã được bảo tồn và tôn tạo trong khuôn viên di tích. Nơi đây còn có phòng trưng bày giới thiệu hình ảnh, tư liệu và hiện vật về lịch sử hình thành của Pháo đài Láng, những ngày đầu Toàn quốc kháng chiến và truyền thống của Binh chủng Pháo binh Quân đội nhân dân Việt Nam. Năm 1986, Pháo đài Láng được thành phố Hà Nội xếp hạng Di tích lịch sử, và đến năm 1992 được Nhà nước công nhận là Di tích lịch sử cấp Quốc gia. Công trình tiếp tục được trùng tu, tôn tạo trong các năm 1994–1995 và 2006, góp phần gìn giữ những giá trị lịch sử quý báu cho các thế hệ mai sau. Ngày nay, Di tích lịch sử Pháo đài Láng là điểm đến ý nghĩa đối với những người yêu lịch sử, đặc biệt là thế hệ trẻ. Không chỉ lưu giữ ký ức về những ngày đầu Toàn quốc kháng chiến, nơi đây còn là biểu tượng của ý chí kiên cường, tinh thần quyết chiến quyết thắng và truyền thống anh hùng của Binh chủng Pháo binh Quân đội nhân dân Việt Nam. Nguồn: Hà Nội Danh thắng và Di tích (tổng hợp)

Hà Nội

899 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Nhà lưu niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Vạn Phúc

Nhà lưu niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Vạn Phúc

Nằm tại phường Vạn Phúc, thành phố Hà Nội, Nhà lưu niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh là nơi Người sống và làm việc từ ngày 3/12 đến ngày 19/12/1946, trước khi ra Lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến. Đây là một trong những di tích lịch sử đặc biệt, ghi dấu thời khắc mở đầu cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp của dân tộc Việt Nam. Ngôi nhà vốn thuộc sở hữu của gia đình cụ Nguyễn Văn Dương, một gia đình có truyền thống yêu nước tại làng lụa Vạn Phúc. Với vị trí thuận lợi, vừa gần Hà Nội, vừa đảm bảo bí mật và an toàn, nơi đây được Trung ương Đảng lựa chọn làm địa điểm ở và làm việc của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong những ngày tình hình đất nước hết sức căng thẳng. Trong thời gian ở Vạn Phúc, ban ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn vào Hà Nội để làm việc với Chính phủ, tiếp các đoàn khách quốc tế và chỉ đạo công việc, còn buổi tối trở về ngôi nhà này để nghiên cứu tình hình, họp với Thường vụ Trung ương Đảng và chuẩn bị những quyết sách quan trọng cho vận mệnh đất nước. Giữa tháng 12/1946, trước những hành động leo thang xâm lược của thực dân Pháp, Trung ương Đảng đã nhiều lần họp tại Vạn Phúc để quyết định chủ trương phát động toàn quốc kháng chiến. Chính tại căn phòng trên tầng hai của ngôi nhà, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã soạn thảo và hoàn thiện Lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến, văn kiện lịch sử mở đầu cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp với lời hiệu triệu bất hủ: "Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ." Tối ngày 19/12/1946, Lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến được phát đi trên Đài Tiếng nói Việt Nam, mở đầu cuộc kháng chiến trường kỳ kéo dài chín năm và đi đến thắng lợi bằng Chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954. Sự kiện này đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong lịch sử dân tộc, thể hiện ý chí kiên cường và khát vọng độc lập, tự do của nhân dân Việt Nam. Gia đình cụ Nguyễn Văn Dương đã tuyệt đối giữ bí mật, tạo mọi điều kiện để Chủ tịch Hồ Chí Minh làm việc an toàn trong suốt thời gian lưu lại. Trước khi rời Vạn Phúc, Người đã cảm ơn gia đình và động viên nhân dân tích cực ủng hộ cuộc kháng chiến, thể hiện niềm tin mãnh liệt vào thắng lợi của dân tộc. Ngày nay, Nhà lưu niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Vạn Phúc vẫn được bảo tồn gần như nguyên vẹn. Tầng hai của ngôi nhà lưu giữ căn phòng làm việc cùng nhiều hiện vật gốc gắn với những ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh sống và làm việc tại đây; tầng một là không gian trưng bày tư liệu, hình ảnh về sự kiện Toàn quốc kháng chiến và truyền thống cách mạng của địa phương. Trong hành trình khám phá Hà Nội, Nhà lưu niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Vạn Phúc là nơi giúp mỗi người thêm hiểu và trân trọng những hy sinh, quyết tâm của dân tộc trong hành trình giành và giữ vững nền độc lập. Nguồn: Hà Nội Danh thắng và Di tích (tổng hợp).

Hà Nội

387 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Di tích lịch sử Bắc Bộ Phủ

Di tích lịch sử Bắc Bộ Phủ

Di tích lịch sử Bắc Bộ Phủ Tọa lạc tại số 2 phố Lê Thạch, phường Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội, Bắc Bộ Phủ là một trong những di tích lịch sử đặc biệt gắn liền với những ngày đầu thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Đây là nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chính phủ lâm thời làm việc sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, đồng thời chứng kiến nhiều sự kiện quan trọng trong quá trình xây dựng và bảo vệ chính quyền cách mạng non trẻ. Công trình được người Pháp xây dựng vào năm 1918 theo phong cách kiến trúc Pháp cổ, ban đầu là Phủ Thống sứ Bắc Kỳ – cơ quan hành chính cao nhất của chính quyền thực dân tại Bắc Kỳ. Sau cuộc đảo chính Pháp của phát xít Nhật vào tháng 3/1945, công trình được đổi tên thành Phủ Khâm sai Bắc Kỳ. Ngày 19/8/1945, trong khí thế sục sôi của Cách mạng Tháng Tám, hàng vạn quần chúng từ cuộc mít tinh tại Quảng trường Nhà hát Lớn đã tiến về chiếm Phủ Khâm sai. Sự kiện giành chính quyền tại đây trở thành một trong những dấu mốc tiêu biểu của cuộc Tổng khởi nghĩa ở Hà Nội, góp phần đưa Cách mạng Tháng Tám đến thắng lợi và mở đường cho sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Sau thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám, công trình được đổi tên thành Bắc Bộ Phủ. Từ cuối tháng 8 năm 1945 đến trước ngày Toàn quốc kháng chiến, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng Chính phủ lâm thời đã làm việc tại đây, đưa ra nhiều quyết sách quan trọng về xây dựng bộ máy nhà nước, đối nội, đối ngoại và chuẩn bị cho công cuộc bảo vệ nền độc lập vừa giành được. Đặc biệt, ngày 20/12/1946, Bắc Bộ Phủ trở thành một trong những điểm chiến đấu ác liệt nhất trong những ngày đầu của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Các chiến sĩ Vệ quốc đoàn đã anh dũng chiến đấu bảo vệ cơ quan đầu não của Chính phủ, góp phần mở đầu cuộc kháng chiến trường kỳ của dân tộc. Sau khi Thủ đô được giải phóng năm 1954, công trình được tu sửa và trở thành Nhà khách Chính phủ, tiếp tục phục vụ các hoạt động đối nội, đối ngoại của Nhà nước. Năm 2005, Bắc Bộ Phủ được gắn biển Di tích lịch sử cách mạng, ghi nhận những giá trị đặc biệt về lịch sử và kiến trúc. Không chỉ mang giá trị lịch sử, Bắc Bộ Phủ còn là công trình kiến trúc Pháp tiêu biểu với thiết kế trang nhã, hài hòa cùng không gian hồ Hoàn Kiếm và Quảng trường Cách mạng Tháng Tám. Trải qua hơn một thế kỷ, công trình vẫn lưu giữ nhiều dấu ấn của thời kỳ đầu lập quốc và là chứng nhân của những biến cố quan trọng trong lịch sử dân tộc. Ngày nay, Bắc Bộ Phủ là một trong những "địa chỉ đỏ" tiêu biểu của Thủ đô Hà Nội. Việc bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị của di tích không chỉ góp phần gìn giữ ký ức lịch sử mà còn giúp giáo dục truyền thống yêu nước, tinh thần cách mạng cho các thế hệ hôm nay và mai sau. Đối với du khách yêu lịch sử, Bắc Bộ Phủ là điểm đến ý nghĩa để tìm hiểu về những ngày đầu hình thành Nhà nước Việt Nam hiện đại và hành trình bảo vệ nền độc lập của dân tộc. Nguồn: Báo Tuổi Trẻ

Hà Nội

846 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia đặc biệt

Mở

Nhà số 48 Hàng Ngang

Nhà số 48 Hàng Ngang

Di tích lịch sử 48 Hàng Ngang – Nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh viết Tuyên ngôn Độc lập Tọa lạc tại số 48 phố Hàng Ngang, phường Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội, ngôi nhà lịch sử 48 Hàng Ngang là nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết bản Tuyên ngôn Độc lập, văn kiện lịch sử khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vào ngày 2/9/1945. Đây là một trong những di tích tiêu biểu gắn liền với cuộc đời và sự nghiệp của Người, đồng thời là "địa chỉ đỏ" có ý nghĩa đặc biệt trong lịch sử cách mạng Việt Nam. Ngôi nhà thuộc sở hữu của vợ chồng doanh nhân yêu nước Trịnh Văn Bô và Hoàng Thị Minh Hồ, những người có nhiều đóng góp cho sự nghiệp cách mạng. Nằm giữa khu phố cổ Hà Nội, thông ra hai mặt phố Hàng Ngang và Hàng Cân, ngôi nhà có vị trí thuận lợi, kiến trúc kiên cố và đảm bảo bí mật, an toàn. Chính vì vậy, từ ngày 25/8 đến 2/9/1945, nơi đây được chọn làm địa điểm ở và làm việc của Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng Ban Thường vụ Trung ương Đảng. Tại tầng hai của ngôi nhà, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chủ trì nhiều cuộc họp quan trọng, quyết định các chủ trương về đối nội, đối ngoại, thành lập Chính phủ lâm thời và chuẩn bị cho Lễ Độc lập. Đặc biệt, chính tại căn phòng này, Người đã hoàn thành bản Tuyên ngôn Độc lập – văn kiện lịch sử tuyên bố trước toàn thế giới về sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Ngày 2/9/1945, tại Quảng trường Ba Đình lịch sử, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trịnh trọng đọc bản Tuyên ngôn Độc lập trước hơn nửa triệu đồng bào, chính thức khai sinh nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á, chấm dứt hàng nghìn năm chế độ phong kiến và gần một thế kỷ đô hộ của thực dân, mở ra kỷ nguyên mới của dân tộc – kỷ nguyên độc lập, tự do và xây dựng đất nước. Hiện nay, tầng một của ngôi nhà là không gian trưng bày nhiều tài liệu, hình ảnh và hiện vật quý liên quan đến Chủ tịch Hồ Chí Minh, Cách mạng Tháng Tám và sự ra đời của bản Tuyên ngôn Độc lập; tầng hai vẫn được gìn giữ gần như nguyên trạng với các hiện vật gốc, giúp du khách hình dung rõ hơn về những ngày lịch sử mùa thu năm 1945. Ngày nay, Di tích lịch sử 48 Hàng Ngang là điểm đến thu hút đông đảo du khách trong nước và quốc tế. Không chỉ mang giá trị lịch sử to lớn, nơi đây còn góp phần giáo dục truyền thống yêu nước, lòng tự hào dân tộc và tinh thần cách mạng cho các thế hệ hôm nay và mai sau. Trong hành trình khám phá Hà Nội, ngôi nhà số 48 Hàng Ngang là điểm dừng chân ý nghĩa để mỗi người hiểu hơn về thời khắc khai sinh nước Việt Nam độc lập và những dấu ấn bất diệt trong lịch sử dân tộc. Nguồn: Ban Quản lý Di tích danh thắng Hà Nội (tổng hợp).

Hà Nội

835 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia đặc biệt

Mở

Miếu Tổ nghề Yến Cù Lao Chàm

Miếu Tổ nghề Yến Cù Lao Chàm

Nằm tại thôn Bãi Hương, xã Tân Hiệp, Cù Lao Chàm (thành phố Đà Nẵng), Miếu Tổ nghề Yến (Yến Nghệ Tổ Miếu) là di tích tín ngưỡng đặc sắc, gắn liền với lịch sử hình thành và phát triển nghề khai thác yến sào Thanh Châu – một nghề truyền thống có lịch sử từ thế kỷ XVI. Không chỉ là nơi thờ các bậc tiền nhân khai sáng nghề yến, di tích còn phản ánh sự gắn bó bền chặt giữa cư dân vùng biển đảo với tài nguyên thiên nhiên và chủ quyền biển đảo Việt Nam. Miếu được xây dựng quy mô vào năm 1848 (năm Tự Đức thứ nhất) do ông Hồ Văn Hòa cùng các chức dịch làng Thanh Châu đứng ra xây dựng để thờ Tổ nghề khai thác yến và các vị thần bảo hộ nghề. Theo nhiều tư liệu lịch sử, từ thời Gia Long, ông Hồ Văn Hòa được giao quản lý việc khai thác yến sào tại Cù Lao Chàm và được các thế hệ sau tôn vinh là Tổ nghề yến. Di tích được xây dựng trên một gò cát cách bờ biển Bãi Hương khoảng 150 m, mặt tiền hướng ra biển. Kiến trúc mang đậm phong cách truyền thống với cổng tam quan, bình phong kiểu cuốn thư, hai nếp nhà liên hoàn lợp ngói âm dương cùng hệ thống cột kèo bằng gỗ được chạm khắc tinh xảo. Không gian thờ tự lưu giữ nhiều hiện vật quý như hoành phi, khám thờ sơn son thếp vàng, bài vị các bậc tiền hiền và bia đá thời Tự Đức, phản ánh giá trị lịch sử, nghệ thuật và tín ngưỡng của cộng đồng cư dân biển. Đến với Miếu Tổ nghề Yến, du khách không chỉ được tìm hiểu về lịch sử nghề khai thác yến sào – một nghề truyền thống nổi tiếng của Cù Lao Chàm, mà còn có cơ hội khám phá đời sống văn hóa của ngư dân Bãi Hương, lắng nghe những câu chuyện, truyền thuyết về nghề yến và cảm nhận sự gắn kết giữa con người với biển đảo qua nhiều thế hệ. Hằng năm, vào ngày 10 tháng 3 âm lịch, lễ Giỗ Tổ nghề Yến được tổ chức trang trọng tại di tích nhằm tưởng nhớ công lao các bậc tiền nhân, cầu mong mùa khai thác thuận lợi, bình an và bội thu. Ngày nay, lễ hội còn kết hợp với nhiều hoạt động văn hóa, du lịch, góp phần quảng bá nghề khai thác yến sào Thanh Châu – Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia, đồng thời nâng cao ý thức bảo tồn tài nguyên thiên nhiên và phát huy giá trị của Khu Dự trữ sinh quyển thế giới Cù Lao Chàm – Hội An. Theo báo mới

Đà Nẵng

708 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Di tích nổi bật

Xem tất cả
Khu di tích Láng Le Bàu Cò

Khu di tích Láng Le Bàu Cò

Khu di tích Láng Le Bàu Cò tọa lạc tại xã Tân Nhựt, huyện Bình Chánh, Tp HCM. Láng Le Bàu Cò gắn liền với cuộc kháng chiến chống Pháp xâm lược vào năm 1948 với những trận đánh lớn đi vào lịch sử. Di tích Láng Le Bàu Cò được công nhận là di tích lịch sử cấp thành phố vào năm 2003. Sở dĩ được gọi tên là khu di tích Láng Le Bàu Cò vì Tên gọi của khu di tích Láng Le Bàu Cò là do người dân địa phương đặt ra. Xóm làng được thành lập cạnh những con kênh rạch chằng chịt và dòng sông. Láng Le Bàu Cò có vị trí nằm ở bên trong cánh đồng có diện tích rộng lớn và có rất nhiều tôm, cua, cá. Cùng với nhiều loài chim như vịt trời, cò, con le le, cúm núm, cồng cộc, đa đa, diệc, đỏ nách tới kiếm ăn tại đây. Vì vậy, người dân Tân Nhựt gọi với cái tên thân thuộc và mộc mạc đó là Láng Le Bàu Cò. Di tích Láng Le Bàu Cò được xem là cửa ngõ để di chuyển tới trung tâm căn cứ Vườn Thơm và tấn công cơ quan đầu não của quân địch tại Sài Gòn. Trước đây khu di tích Láng Le Bàu Cò vốn là cánh đồng lau sậy mọc um tùm. Vào ngày 15/4/1948 thực dân Pháp đưa 3 nghìn quân lính cùng nhiều vũ khí hiện đại đồng loạt tấn công khu vực Láng Le Bàu Cò nhằm tiêu diệt căn cứ Vườn Thơm. Khi đó lực lượng vũ trang cách mạng ở Láng Le - Bàu vì lực lượng nhỏ và vũ khí thô sơ tuy nhiên được sự giúp đỡ của người dân địa phương cùng với lợi thế về địa hình. Chỉ sau hơn nửa ngày đấu tranh đã chuyển sang tấn công khiến quân Pháp bị thương vong với số lượng lớn. Chiến thắng Láng Le Bàu Cò đã tiêu diệt 300 tên địch và bắt sống 30 lính đánh thuê cùng phá hủy nhiều máy móc, xe nhà binh, súng các loại của quân giặc. Tuy nhiên, về phía ta có nhiều cán bộ chiến sĩ đã anh dũng hy sinh với tuổi đời còn rất trẻ. Ngày 14/10/1966 tại Láng Le tiểu đoàn biệt động quân Việt Nam Cộng Hòa bị dân quân du khách tiêu diệt. Khu di tích Láng Le Bàu Cò có ý nghĩa lịch sử to lớn đối với người dân Sài Gòn nói riêng và cả nước nói chung. Trước lòng căm thù thực dân Pháp, quân dân Láng Le Bàu Cò đã có cuộc chiến vang lừng lịch sử và có ý nghĩa to lớn mở đầu cho phía ta và phía địch. Đối với phía ta trận đánh mở đầu cho sự anh dũng trong tư thế kháng chiến vững mạnh. Còn với quân địch đã phải lùi vào thế bỏ chiến lược và bị tiêu diệt. Thực dân Pháp không còn định hình được chiến lược đánh bại Việt Minh. Hơn thế, tại căn cứ Vườn Thơm, Láng Le Bàu Cò còn diễn ra trận chiến quyết tâm bảo vệ căn cứ của ta và đập tan mọi kế hoạch phá hoại của quân giặc. Khu di tích Láng Le Bàu Cò sau phong trào Đồng Khởi vào năm 1960 còn là hậu cần, bàn đạp của lực lượng vũ trang để giải phóng Long An - Sài Gòn - Gia Định. Để tưởng nhớ sự hy sinh của đồng bào và các chiến sĩ của ta, vào năm 1988 huyện Bình Chánh đã xây dựng công trình lịch sử tại vùng đất Láng Le Bàu Cò với diện tích rộng 1000m2. Nguồn: Báo thông tin điện tử TP Hồ Chí Minh

TP Hồ Chí Minh

17909 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp thành phố

Mở

Di Tích Lịch Sử Nhà Lao Tân Hiệp

Di Tích Lịch Sử Nhà Lao Tân Hiệp

Nhà lao Tân Hiệp còn có tên là "Trung tâm cải huấn Tân Hiệp" tọa lạc ở khu phố 6, phường Tân Tiến, TP Biên Hòa. Di tích Nhà lao Tân Hiệp đã được Bộ Văn Hoá Thể Thao xếp hạng là di tích cấp quốc gia ngày 15-1-1994. Nhà lao Tân Hiệp là một trong sáu nhà tù lớn nhất miền Nam Việt Nam và là nhà tù lớn nhất vùng Đông Nam bộ, được xây dựng ở vị trí quân sự quan trọng, án ngữ phía đông bắc thị xã Biên Hòa. Phía trước là quốc lộ 1; phía sau là đường xe lửa Bắc - Nam. Đây là vị trí biệt lập, thuận tiện trong giao thông, dễ dàng cho việc bảo vệ, canh gác, nhận tù từ nơi khác đến và chuyển tù đi Côn Đảo, Phú Quốc... Nhà lao Tân Hiệp có diện tích 46.520m2 với 8 trại giam, trong đó có 5 trại giam những người tù cộng sản, người yêu nước. Xung quanh nhà tù được bao bọc bởi 4 lớp kẽm gai bùng nhùng với 9 lô cốt, 3 tháp canh cùng đội lính bảo vệ và hệ thống báo động tối tân. Mang tên "Trung tâm cải huấn" nhưng thực chất bên trong là kho súng, phòng xét hỏi, tra tấn với những dụng cụ hiện đại bậc nhất. Mỗi trại giam chỉ có diện tích gần 200m2 nhưng giam giữ từ 300-400 người, có lúc lên đến cả ngàn người. Đặc biệt ở đây có các phòng "cải hối", "chuồng cọp" rất nhỏ hẹp và điều kiện sinh hoạt cực kỳ khắc nghiệt, tù nhân sống chẳng khác gì trong lò thiêu xác. Chế độ ăn uống cực kỳ mất vệ sinh, bọn cai ngục mua gạo mục, cá thối dùng để bón ruộng, chiên bằng dầu luyn cho tù nhân ăn dẫn đến nhiều người bị ngộ độc. Với quyết tâm thoát khỏi nhà tù đế quốc, trở về với Đảng, với nhân dân để tiếp tục chiến đấu, giải phóng dân tộc, ngày 2-12-1956, được sự nhất trí của Liên Tỉnh ủy miền Đông, những chiến sĩ cộng sản bị "câu lưu" trong nhà lao Tân Hiệp dưới sự chỉ đạo trực tiếp của đồng chí Nguyễn Trọng Tâm (Bảy Tâm) - phụ trách Đảng ủy nhà tù và một số đồng chí khác đã bất thần làm một cuộc phá xiềng tập thể giải thoát gần 500 đồng chí, đồng bào yêu nước. Sự kiện này đã làm xôn xao cả Lầu Năm Góc. Mỹ - Diệm vội vã huy động cả quân chủ lực lẫn bảo an, dân vệ đang trấn thủ 3 tỉnh Biên Hòa, Bà Rịa, Thủ Dầu Một và hai biệt đoàn biệt động quân đến bủa lưới bao vây, truy bắt đoàn tù nhưng đều thất bại. Các đồng chí, đồng bào của ta thoát khỏi nhà lao Tân Hiệp đã được sự giúp đỡ, che chở của các cơ sở địa phương, trở về căn cứ an toàn. Trong số tù nhân vượt ngục có các đồng chí: Bảy Tâm, Hai Thông, Lý Văn Sâm... đã trở thành những hạt nhân nòng cốt cho phong trào Đồng Khởi sau này. Năm 2001, để tái hiện phần nào tội ác của Mỹ - Diệm đối với các đồng chí, đồng bào ta bị giam cầm tại nhà lao Tân Hiệp và diễn tả lại toàn bộ cuộc nổi dậy phá khám Tân Hiệp ngày 2-12-1956, Bảo tàng Đồng Nai đã tiến hành sưu tầm hình ảnh, tài liệu, hiện vật trưng bày tại di tích và làm một sa bàn để phục vụ nhu cầu nghiên cứu, tham quan của mọi tầng lớp nhân dân. Hàng ngày, di tích luôn mở cửa đón khách tham quan. Nguồn: Báo Đồng Nai Điện Tử

Đồng Nai

16419 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Đền thờ Nguyễn Hữu Cảnh

Đền thờ Nguyễn Hữu Cảnh

Đền thờ Nguyễn Hữu Cảnh còn gọi là đình Bình Kính tọa lạc bên tả ngạn sông Đồng Nai, xưa kia thuộc ấp Bình Kính, thôn Bình Hoành, tổng Trấn Biên, nay là ấp Nhị Hòa, xã Hiệp Hòa, TP Biên Hòa, đã được Bộ Văn Hoá – Thông Tin – Thể Thao & Du Lịch xếp hạng là di tích lịch sử cấp quốc gia ngày 25-3-1991. Đền thờ Nguyễn Hữu Cảnh được xây dựng vào khoảng cuối thế kỷ 18, ban đầu ngôi đền có qui mô nhỏ, vách làm bằng ván, mái ngói âm dương, cách ngôi đền hiện tại khoảng 400m về hướng Nam. Các tư liệu cho biết: ngôi đền được xây dựng lại lần đầu tiên vào năm Tự Đức thứ tư (1851); đến năm 1923, đền được tái thiết lại ở địa điểm hiện nay. Nguyễn Hữu Cảnh sinh vào năm 1650 tại Gia Miêu, huyện Tống Sơn, tỉnh Thanh Hóa trong một gia đình có nhiều bậc danh tướng đương triều. Ông là người văn võ song toàn, lập được nhiều chiến công lớn và được chúa Nguyễn tin yêu, trọng vọng. Mùa Xuân năm Mậu Dần (1698), ông vâng lệnh chúa Nguyễn vào kinh lược xứ Đàng Trong khi ấy còn rất hoang vu. Đến đất Đồng Nai, ông đặt Đại bản doanh ở Cù lao Phố (nay là xã Hiệp Hòa); lấy đất Đồng Nai làm huyện Phước Long, dựng dinh Trấn Biên, lấy xứ Sài Gòn làm huyện Tân Bình, dựng dinh Phiên Trấn, đất đai mở mang ngàn dặm. Ông chiêu mộ lưu dân đến lập nghiệp, tổ chức bộ máy hành chính từng bước có qui củ, khuyến khích khai hoang, thúc đẩy Cù lao Phố phát triển thành một trong những cảng thị sầm uất, năng động nhất đàng Trong suốt thế kỷ 18 và chính thức sáp nhập vùng đất mới phương Nam vào bản đồ Đại Việt. Sau khi kinh lược phương Nam trở về, năm sau ông lại phụng mệnh chúa Nguyễn Phúc Chu thống lĩnh đại binh dẹp vua Chân Lạp giữ vững miền biên ải phương Nam. Tháng 4 năm Canh Thìn (1700), sau khi hoàn thành sứ mệnh, trên đường trở về đến Rạch Gầm (Tiền Giang) thì ông thọ bệnh qua đời nhằm ngày 16 tháng 5 âm lịch, thọ 51 tuổi. Trên đường di quan ông về quê an táng, quan tài của ông được đình lại khu đất khi xưa ông đặt Đại bản doanh ở Cù lao Phố để cho nhân dân địa phương có dịp bái biệt ông lần cuối. Nơi đình quan đã được nhân dân địa phương xây một ngôi mộ vọng để ghi nhớ sự kiện này. Khi hay tin Nguyễn Hữu Cảnh mất, Chúa Nguyễn vô cùng thương tiếc đã phong tặng ông là Thượng đẳng công thần đặc Trấn phủ Chưởng cơ với tước: Lễ Thành Hầu và đưa bài vị của ông vào thờ tại Thái miếu. Nguồn: Báo Đồng Nai Điện Tử

Đồng Nai

14976 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Di tích chiến thắng La Ngà

Di tích chiến thắng La Ngà

Di tích chiến thắng La Ngà (tại km số 104-112 trên quốc lộ 20 đi Đà Lạt, thuộc xã Phú Ngọc, huyện Định Quán) được Bộ Văn hóa xếp hạng di tích lịch sử cấp quốc gia ngày 12-12-1986. Để cổ vũ cho chiến thắng Việt Bắc thu - đông 1947 và cũng để giáng cho kẻ thù một đòn chí mạng, Ban chỉ huy chi đội 10 đã quyết định phải tổ chức một trận đánh lớn, để quân giặc thấy rằng dân tộc Việt Nam, con người Việt Nam không dễ dàng chịu khuất phục trước bất kì một kẻ thù nào; Bằng tinh thần quả cảm và sự khôn khéo sau gần nửa năm chuẩn bị, nghiên cứu địa hình, chọn địa điểm: vào lúc 15 giờ 12 phút ngày 1/3/1948 trận chiến phục kích La Ngà bắt đầu và kết thúc vào lúc 15 giờ 57 phút cùng ngày, chỉ trong vòng 45 phút. Chiến thắng La Ngà đã làm nức lòng nhân dân Định Quán nói riêng, quân dân Đồng Nai nói chung. Đây là chiến thắng thể hiện sự mưu trí, dũng cảm của quân và dân ta làm cho địch một phen kinh hồn, bạt phía. Từ chiến thắng này lực lượng ta ngày càng thêm lớn mạnh, góp phần đánh bại kế hoạch đánh nhanh, thắng nhanh của địch, buộc chúng phải rơi vào thế bị động. Quần thể danh thắng đá Chồng, Thác Mai, sông La Ngà và Tượng đài chiến thắng La Ngà là một quần thể du lịch kì thú của Định Quán. Vẻ đẹp kỳ thú của Hòn Ba Chồng, Núi Đá Voi, Hòn Dĩa, cùng với ngôi chùa thiên nhiên dưới chân núi đá là những cụm tiêu biểu tạo thành cảnh đẹp hài hòa cho khu danh thắng Đá Chồng. Quần thể Đá Chồng Định Quán còn là nơi lưu lại những dấu tích của cuộc sống người tiền sử. Tại đây dưới các mái đá, ven các khe suối và cả các sườn dốc ven thung lũng đã phát hiện nhiều công cụ sản xuất, sinh hoạt của người xưa bằng đá, đồng, đất nung. Trong suốt cuộc kháng chiến dài 30 năm. Định Quán là một phần quan trọng của Chiến khu Đ. Đá Chồng đã chứng kiến sự hình thành, phát triển, trú quân, triển khai chiến đấu của lực lượng cách mạng. Ngày nay, một phần đất của khu danh thắng Đá Chồng Định Quán đã được sử dụng, xây dựng thành khu Trung tâm văn hóa thể thao huyện Định Quán. Tương lai không xa khu danh thắng Đá Chồng Định Quán sẽ được đầu tư tôn tạo góp phần làm cho cảnh quan thiên nhiên ngày càng tươi đẹp, là địa điểm du lịch sinh thái hấp dẫn. Nguồn: Uỷ Ban Nhân Dân Huyện Định Quán

Đồng Nai

14805 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Tháp cổ Chót Mạt

Tháp cổ Chót Mạt

Di tích Lịch sử-Văn hóa Tháp Chót Mạt, tọa lạc ấp Xóm Tháp, xã Tân Phong, huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh, được Bộ Văn hóa Thông tin (nay là Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch) công nhận là di tích lịch sử - văn hóa ngày 23 tháng 7 năm 1993. Đồng thời là một trong ba công trình tháp cổ cuối cùng còn lại ở miền Nam nước ta. Trải qua nhiều lần trùng tu vào các năm 1938, 2003 và gần đây nhất là vào năm 2013. Mặc dù trải qua các đợt trùng tu tôn tạo, nhưng khu di tích tháp cổ Chót Mạt đã mang cho mình một diện mạo mới nhưng vẫn giữ nguyên được tinh thần kiến trúc cổ. Toàn bộ tòa Tháp được xây dựng bằng gạch và đá phiến với phần đỉnh tháp nhọn dần lên, từ mặt đất lên nơi cao nhất của đỉnh tháp được ước tính là 10m. Ngoài ra, ngọn tháp cổ này nằm trên gò đất cao giữa cánh đồng nên nhìn từ xa nó tựa như ngọn bút đang vươn lên cao dần. Năm 2003 Uỷ ban nhân dân tỉnh Tây Ninh quyết định phê duyệt dự án đầu tư trùng tu tôn tạo bảo tồn di tích tháp Chót Mạt và được tiến hành triển khai trùng tu tôn tạo phục hồi, trưng bày mở hố khai quật năm 2003 đưa vào sử dụng. Ngày 27/11/2019 UBND tỉnh ban hành Quyết định Quy định về phân cấp quản lý, bảo vệ và phát huy giá trị di tích lịch sử văn hóa và danh lam thắng cảnh trên địa bàn tỉnh Tây Ninh. Quyết định giao UBND huyện Tân Biên trực tiếp quản lý 4 di tích, trong đó có di tích cấp Quốc gia di tích Lịch sử- văn Hóa Tháp Chót Mạt. Đặc biệt Di tích Lịch sử-Văn hóa Tháp Chót Mạt trên địa bàn xã Tân Phong, huyện Tân Biên được chọn nằm trong chũi liên kết phát triển du lịch của Tỉnh Tây Ninh. Đây là một địa điểm tham quan rất đáng để khám phá, góp phần phát triển du lịch trên địa bàn xã Tân Phong nói riêng và huyện Tân Biên nói chung. Nguồn: Cổng thông tin điện tử tỉnh Tây Ninh

Tây Ninh

14652 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Dinh Quận Hóc Môn

Dinh Quận Hóc Môn

Dinh Quận Hóc Môn tọa lạc tại số 1, đường Lý Nam Đế, thị trấn Hóc Môn, (cạnh trụ sở UBND huyện) là nơi để lại nhiều sự kiện đấu tranh nổi bật suốt chặng đường dài lịch sử từ 1885 đến ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng của Nhân dân 18 Thôn vườn trầu. Sau khi hạ được Đại đồn Chí Hòa, thực dân Pháp xây dựng tại nơi đây một ngôi nhà gỗ cao 3 tầng dùng làm Đồn binh. Khi tên Trần Tử Ca về nhậm chức Đốc Phủ, dùng Đồn làm Dinh huyện Bình Long. Vốn là một tay say quỷ quyệt của thực dân Pháp, Trần Tử Ca bị nhóm do các ông Phan Văn Hớn (Quản Hớn) và Nguyễn Văn Quá (Chánh Lãnh Binh) cầm đầu gần 1.000 nghĩa quân tiến về đốt Dinh Quận, bắt và cắt đầu bêu giữa chợ. Đó là ngày 8/2/1885 Tết Ất Dậu. Sau đó, Dinh Quận Hóc Môn được xây dựng lại với nền móng đá xanh, tường gạch, có hệ thống phòng thủ từ lầu cao đến tận vòng rào. Lối kiến trúc y như Đồn binh nên người địa phương gọi là Đồn Hóc Môn. Trấn nhậm thay Trần Tử Ca là Đốc phủ Ngôn, đến Quận Trà rồi Quận Thọ. Đây là khoảng thời gian dài người dân vùng Hóc Môn hứng chịu bao cảnh tham tàn, bỉ ổi của thực dân Pháp và bọn tay sai đầu sỏ kể trên. Với truyền thống kiên cường bất khuất của Nhân dân Hóc Môn. Ngày 4/6/1930, khoảng 6 giờ sáng trước Dinh Quận, hàng trăm bà con Hóc Môn kéo biểu tình đòi “bãi bỏ thuế thân, giảm các thuế môn bài và thuế chợ, cấp đất cho dân cày nghèo”. Quận Trà cho mời những người cầm đầu vào Dinh thương lượng, nhưng chúng xảo quyệt bắt giữ họ trong đó có ông Lê Văn Uôi (Bí thư xã Tân Thới Nhì), là người cầm đầu cuộc biểu tình. Mọi người không nao núng, quyết liệt đòi hỏi Quận Trà phải thả những người bị cầm giữ. Đoàn biểu tình càng lúc càng đông, khí thế đấu tranh có phần lan rộng, khiến Quận Trà nhượng bộ. Một mặt chúng thả những người bị giữ, mặc khác chúng gọi điện cho quan thầy ở Sài Gòn cứu viện. 2 giờ sau, cuộc đấu tranh bị 2 tên Blachôlê và Nobbot chỉ huy bắn xối xả vào đoàn biểu tình, gây thương vong nhiều người. Nhưng sự kiện lịch sử gây ấn tượng nhất tại Dinh Quận Hóc Môn là cuộc khởi nghĩa Nam kỳ ngày 23/11/1940. Đồn Hóc Môn rất kiên cố, xây bằng đá xanh như là một pháo đài, cao khoảng 15 thước, có ụ súng và hệ thống phòng thủ lỗ châu mai do một trung đội lính khố xanh trấn giữ. Ngày 22/11/1940, Pháp tăng cường thêm 1 trung đội để đối phó với tình hình. Chiều 22/11/1940, cánh quân của ông Đỗ Văn Cội đột nhập vào thị trấn, giả dạng thường dân, phục kích sau lưng Đồn chờ lệnh cướp Đồn. Một cánh quân khác có nhiệm vụ phá cầu, đốn cây ngăn lộ, đánh chiếm các công sở, nhà việc... Cánh quân từ Phước Vĩnh An, Tân Thông, Tân An Hội, Tân Phú Trung do ông Phạm Văn Sáng và Đặng Công Bỉnh chỉ huy, xuất phát từ ấp Bến Đò, đánh chiếm nhà việc, diệt 1 tên, thu 4 súng, làm chủ tình hình tại đây (Tân Phú trung). Liền đó cánh quân này được lệnh kéo về Hóc Môn. Cánh quân Long Tuy Thượng do ông Bùi Văn Hoạt chỉ huy. Cánh quân thuộc Tổng Long Tuy Trung do ông Đỗ Văn Dậy và Lê Bình Đẳng chỉ huy. Khoảng 24 giờ đêm ngày 22/11/1940, vẫn chưa nghe thấy tiếng pháo lệnh ở Sài Gòn. Sau khi hội ý, các vị chỉ huy những cánh quân thống nhất tấn công Đồn giặc. Lập tức các cánh quân tiến thẳng về Đồn Hóc Môn, nơi trú ngụ của tên Quận trưởng Bùi Ngọc Thọ. 2 nghĩa quân tên Nghé và Kinh xung phong vào cổng trước, hy sinh. Nghĩa quân bốn phía xông vào Đồn như nước vỡ bờ. Trước sức mạnh của nghĩa quân và quần chúng, bọn lính trong Đồn không còn tinh thần kháng cự, bỏ chạy tán loạn. Nghĩa quân chiếm lĩnh hoàn toàn bên trong Đồn nhưng trên lầu, địch vẫn ngoan cố dùng súng bắn tẻ, cùng lúc gọi điện về Sài Gòn, Thủ Dầu Một cấp cứu. Vì nóng lòng bắt cho được tên Quận Thọ nên đồng chí Đỗ Văn Dậy bám ống máng nước để leo lên tầng trên Đồn. Đến lưng chừng bị trúng đạn, đồng chí bị rơi xuống và hy sinh sau đó. Cuộc chiến đấu đang thế giằng co thì viện binh địch đến. Không thể cầm cự, nghĩa quân rút khỏi thị trấn, phân tán về các làng, lực lượng vũ trang rút về ấp Bến Đò (Tân Phú Trung) rồi di chuyển sang ấp Mỹ Hạnh (Đức Hòa). Cuộc tiến công Đồn Hóc Môn (sau gọi là Dinh Quận Hóc Môn) tuy thất bại nhưng đã để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng mọi người dân sự khâm phục lòng dũng cảm của các chiến sĩ cách mạng trong cuộc chiến đấu chống thực dân cướp nước. Trong chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, 7 giờ sáng ngày 30/4/1975, thị trấn Hóc Môn hoàn toàn được giải phóng, lá cờ Tổ quốc phất phới bay trên Dinh Quận, nơi tên Quận trưởng Nguyễn Như Sang và bọn tay sai đã chạy trốn từ tối đêm trước. Ngày nay Dinh Quận Hóc Môn được chọn làm Bảo tàng huyện, nơi đây tập trung nhiều tư liệu trưng bày, minh họa các giai đoạn lịch sử thăng trầm cũng như khí thế đấu tranh cách mạng của quân và dân trong huyện Hóc Môn qua 2 cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ. Một Tượng đài đặt trước di tích Dinh Quận Hóc Môn thể hiện gương hy sinh bất khuất của quân và dân 18 Thôn Vườn trầu, được công nhận là di tích lịch sử văn hóa cấp Quốc gia. Nguồn: Ủy ban nhân dân huyện Hóc Môn

TP Hồ Chí Minh

14011 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Tòa đại sứ quán Mỹ

Tòa đại sứ quán Mỹ

Di tích tòa Đại sứ Mỹ còn được gọi "Nhà trắng phương Đông" là nơi xuất phát các âm mưu thâm độc về quân sự lẫn chính trị nhằm thôn tính lâu dài đất nước Việt Nam, địa điểm di tích là tòa nhà 5 tầng xây dựng theo kiến trúc hiện đại, tọa lạc tại góc đường Mạc Đĩnh Chi - Lê Duẩn, Phường Bến Nghé, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh, trên một mảnh đất rộng gần 5.000m2. Trước đó, tòa đại sứ Mỹ nằm tại số 39 đường Hàm Nghi. Khoảng 10 giờ sáng ngày 30/3/1963, tòa đại sứ Mỹ trên đường Hàm Nghi đã bị đội Biệt động F21 đánh chất nổ làm sập 3 tầng lầu: 1, 2, 3 do đó Mỹ đã quyết định xây lại. Tòa nhà được khởi công xây dựng vào năm 1965, hầu hết vật liệu cũng như máy móc xây dựng đều được chở từ Mỹ sang, dưới sự điều khiển của kỹ sư người Mỹ. Theo thiết kế, tòa nhà bao bọc bởi 7.800 viên đá Taredo có khả năng chống đỡ mìn, đạn pháo. Cửa chính trang bị bằng thép dầy, những cửa khác chắn bởi lớp kín dầy đặc biệt chống đạn. Tất cả cửa sử dụng hệ thống tự động kể cả cửa sắt chắn lối lên các tầng lầu. Bên trong tòa nhà gồm 140 phòng với 200 nhân viên phục vụ ngày đêm ngoài ra bên cạnh tòa nhà còn được xây thêm một dãy nhà phụ gọi là khu "Norodom" dành riêng cho nhân viên C.I.A. Khi khánh thành, tòa nhà chỉ có 3 tầng. Cuối năm 1966 xây thêm 2 tầng và 1 sân thượng dùng làm nơi hạ cánh cho máy bay lên thẳng. Bao quanh tòa nhà là bức tường cao 3m, hai đầu tường sát đường Lê Duẩn xây 2 lô - cốt cao, canh gác ngày đêm. Tòa Đại sứ hoàn thành tháng 9/1967 với một hệ thống phòng thủ như là một pháo đài có 60 lính gác, một hầm tránh bom, một hệ thống màn hình ra-đa nhằm kiểm soát mặt tiền. Ngay sau khi tòa nhà hoàn tất, ngày 24/9/1967, hàng ngàn sinh viên, học sinh kéo đến trước cổng Đại sứ quán Mỹ đấu tranh đòi "Mỹ chấm dứt ném bom miền Bắc", "Mỹ cút về nước" và ra thông báo tố cáo Mỹ "chà đạp và vi phạm nghiêm trọng quyền tự quyết của nhân dân miền Nam". Nhưng sự kiện nổi bật xảy ra tại Tòa Đại sứ Mỹ là trận đánh của Biệt động thành trong Tổng Tiến công và nổi dậy xuân Mậu Thân 1968. Mục tiêu đánh Đại sứ quán Mỹ được bổ sung ngày 24/ 1/1968 do Ngô Thành Vân phụ trách chung. Đội Biệt động 11 nhận lãnh nhiệm vụ quan trọng này gồm đội trưởng Út Nhỏ (đội trưởng trinh sát quân khu) và các chiến sĩ: Bảy Truyền, Tước, Thanh, Chức, Trần Thế Ninh, Chính, Tài, Văn, Đực, Cao Hoài Vinh, Mang, Sáu và 2 lái xe: Trần Sĩ Hùng và Ngô Văn Thuận. Một sự kiện khác cũng không kém phần tủi nhục cho Toà Đại sứ Mỹ là cảnh hỗn loạn tháo chạy xảy ra trong 2 ngày 29 và 30/04/1975 của Mỹ và đồng bọn. Trước sức tấn công thần tốc của quân và dân Việt Nam trong chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, trên 1.000 người Mỹ và hơn 5.000 người Việt thân Mỹ đã chen lấn, xô đẩy, đạp nhau để tranh giành một chỗ trên sân thượng của toà nhà hòng được trực thăng cứu thoát. Di tích này đã được cấp bằng công nhận của Bộ Văn hoá ngày 25/6/1976. Hiện nay, toà nhà Đại Sứ Mỹ đã bị phá bỏ, xây mới thành lãnh sự quán tại Thành phố Hồ Chí Minh, nhưng cạnh đó một bia tưởng niệm ghi nhớ mãi chiến công của các chiến sĩ biệt động đã hy sinh trong trận đánh. Nguồn: Thành Đoàn Thành phố Hồ Chí Minh

TP Hồ Chí Minh

13906 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Lăng Mai Xuân Thưởng

Lăng Mai Xuân Thưởng

Mai Xuân Thưởng là người lãnh đạo phong trào Cần Vương chống Pháp cuối thế kỷ XIX ở Bình Định. Mai Xuân Thưởng sinh năm Canh Thân 1860, mất năm Đinh Hợi 1887 người thôn Phú Lạc, tổng Phú phong, huyện Tuy Viễn, tỉnh Bình Định (nay là thôn Phú Lạc, xã Bình Thành, huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định). Cha là Mai Xuân Tín làm Bố chánh ở Cao Bằng, mẹ là Huỳnh Thị Nguyệt con của một nhà quyền quý trong làng. Mai Xuân Thưởng vốn là người thông minh, ham học. Năm 18 tuổi (1878) ông đỗ Tú tài tại Trường thi Bình Định. năm 25 tuổi (1885) thi đỗ cử nhân. Hưởng ứng chiếu Cần vương của vua Hàm Nghi, Mai Xuân Thưởng về quê Phú Lạc, chiêu mộ nghĩa binh, lập căn cứ ở hòn Sưng dựng cờ cần vương chống Pháp, sau đó Mai Xuân Thưởng đã đem lực lượng của mình gia nhập vào nghĩa quân do Đào Doãn Địch lãnh đạo và được Đào Doãn Địch phong giữ chức Tán lương quân vụ (phụ trách về lương thực của nghĩa quân). Kể từ đó cho đến năm 1887, phong trào cần vương ở Bình Định phát triển mạnh mẽ và lan ra đến Quảng Ngãi, Phú Yên...thu hút hàng chục ngàn người thuộc mọi tầng lớp tham gia. Ngày 20/9/1885 Đào Doãn Địch mất, giao toàn bộ lực lượng cho Mai Xuân Thưởng. Ông chọn vùng núi Lộc Đổng (nay thuộc xã Bình Tường, huyện Tây Sơn) làm đại bản doanh và tổ chức lễ tế cờ , truyền hịch kêu gọi sỹ phu, văn thân, nhân dân tham gia phong trào cần Vương chống Pháp. Trong buổi lễ ấy, nghĩa quân nhiều vùng trong tỉnh Bình Định đã nhất trí suy tôn ông làm Nguyên soái lãnh đạo cuộc khởi nghĩa và nêu cao khẩu hiệu: “Tiền sát tả, hậu đả Tây”. Đầu năm 1887, quân Pháp dưới sự chỉ huy của Trung tá Cherrean và quân triều đình do Trần Bá Lộc chỉ huy cùng với Công sứ Trira đã mở cuộc tấn công lớn lên căn cứ đại bản doanh của phong trào Cần Vương Bình Định, trận giao chiến giữa lực lượng nghĩa quân với giặc Pháp diễn ra vô cùng ác liệt, cuộc chiến đấu không cân sức, cuối cùng lực lượng khởi nghĩa bị đẩy lùi. Tháng 3 năm 1887, sau trận ác chiến ở Bàu Sấu (thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định), Mai Xuân Thưởng bị thương nặng, nghĩa quân rút về Mật khu Linh Ðổng. Ngày 21 tháng 4 năm 1887, Trần Bá Lộc bao vây đánh chiếm căn cứ mật khu Linh Đổng và bắt được một số nghĩa quân, trong đó có thân mẫu Mai Nguyên Soái. Đêm 30 tháng 4 năm 1887, Mai Xuân Thưởng đã cử một đội quân cảm tử đột nhập doanh trại Trần Bá Lộc, giải vây cho những người bị bắt, ông cùng đoàn thuộc hạ gồm 50 người vượt núi vào Phú Yên, tiếp tục kháng chiến, nhưng khi đến đèo Phú Quý (ranh giới giữa Bình Định và Phú Yên) thị bị phục binh Trần Bá Lộc bắt và đưa ra xử trảm tại Gò Chàm (Phía đông Thành Bình Định). Di tích Lăng mộ nhà yêu nước Mai Xuân Thưởng tọa lạc trên ngọn đồi cao của dãy núi Ngang (thuộc thôn Hòa Sơn, xã Bình Tường, huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định) cách thành phố Quy Nhơn khoảng 50km về hướng Tây Bắc; Lăng mộ được xây dựng trên khu đất rộng 1988m2, khánh thành ngày 22 tháng 1 năm 1961.Về tổng thể, Lăng được thiết kế theo kiểu lăng mộ cổ, xung quanh có thành thấp bao bọc. Cổng Lăng (tam quan) là 4 trụ vuông, phía trên thắt lại theo kiểu bầu lọ mang dáng dấp kiến trúc cổng đình, miếu cuối thế kỷ XIX. Giữa nhà Lăng là mộ phần Mai Xuân Thưởng hình khối chữ nhật theo hướng Đông - Tây; Phía đầu mộ dựng tấm Bia đá khắc bài ký ghi tiểu sử và sự nghiệp của Mai Xuân Thưởng: Di tích được Bộ Văn hóa Thông tin quyết định xếp hạng cấp Quốc Gia ngày 20 tháng 4 năm 1995. Nguồn: UBND Huyện Tây Sơn tỉnh Bình Định

Gia Lai

13580 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Thành Nhà Mạc Ở Cao Bằng (Thành Nà Lữ, Thành Bản Phủ, Thành Phục Hòa)

Thành Nhà Mạc Ở Cao Bằng (Thành Nà Lữ, Thành Bản Phủ, Thành Phục Hòa)

Thời kỳ nhà Mạc đóng đô ở Cao Bằng, để phòng bị quân nhà Lê tiến đánh, nhà Mạc đã tu bổ, sửa chữa thành Na Lữ (nay thuộc xã Hoàng Tung, Hòa An) và thành Bản Phủ (nay thuộc xã Hưng Đạo), thành Phục Hòa, ngoài ra còn xây dựng nhiều thành lũy khác ở Cao Bằng, làm cho Cao Bằng trở thành một trung tâm chính trị và quân sự ở vùng biên viễn Đông Bắc thời bấy giờ. Thành Na Lữ và thành Phục Hoà là hai thành được xây dựng từ trước. Theo ghi chép của Bế Hựu Cung trong Cao Bằng thực lục, thành Na Lữ và thành Phục Hòa mở đầu từ đời Đường Ý Tông năm Giáp Thân, niên hiệu Hàm Thông thứ 5 (874). Căn cứ vào sự hiện diện của nhiều ngôi mộ cổ có đá khắc ghi bia mộ tên, địa chỉ, quê quán những người phu dịch xây thành chết ở đây từ thời Hàm Thông có thể khẳng định hai thành này xây từ đời Đường. Thành Na Lữ được xây qua nhiều triều đại khác nhau. Khi nhà Mạc lên Cao Bằng đã cho xây lại bằng gạch. Thành Na Lữ có hình gần chữ nhật, có tổng diện tích khoảng 37,5 ha, chiều dài khoảng 800 m, chiều rộng khoảng 600 m, thành có 4 cửa. Thành Bản Phủ tại kinh đô Nam Bình, nước Nam Cương của Thục Phán khi xưa ở Cao Bình (Cao Bằng), nhà Mạc đã tu bổ thành Vương phủ tại vòng trong của kinh đô cũ Nam Bình và được gọi là thành Bản Phủ hay Vương phủ. Tại kinh đô Nam Bình xưa của nước Nam Cương và của nhà Mạc, thành Bản Phủ vẫn còn dấu tích khá rõ nét. Kinh đô Nam Bình gồm có hai vòng thành, để bảo vệ kinh thành, vòng ngoài có chu vi khoảng 5 km, gồm cả một vùng gò đồi thấp, quanh chân đồi được bạt dựng đứng như một bức tường thành, thuận lợi cho việc xây dựng phòng tuyến bảo vệ. Bờ thành phía Tây chạy song song với bờ sông Bằng đến đầu làng Bó Mạ, nối bờ thành Đông Nam chảy qua trước mặt Bản Phủ theo chân đồi ra gặp quốc lộ 4, phía Đông Bắc chạy theo chân đồi sát phía ngoài quốc lộ 4, lên đến Đầu gò là phía Tây Bắc tiếp tục chạy theo chân đồi, ra đến bờ sông gặp bờ thành phía Tây tạo thành một vòng thành khép kín. Khi nhà Mạc lên đóng đô đã tu sửa lại và xây dựng thêm một số công trình, trong đó thành Bản Phủ (thành nội - nơi của vua làm việc) được xây lên cao hơn trên các tường thành cũ từ thời kỳ Thục Phán, thành nằm trên một khu đất bằng phẳng. Cùng với việc xây dựng lại kinh thành, nhà Mạc còn xây dựng một hệ thống đồn bốt, thành lũy khá dày xung quanh kinh đô và một số điểm biên giới quan trọng, tạo thành một hệ thống bảo vệ kinh thành và bảo vệ biên giới. Thành Phục Hòa (huyện Phục Hoà) được xây theo kiểu hình vuông, mỗi chiều khoảng 400 m, gồm hai vòng thành, khoảng cách giữa hai vòng là 80 m. Hiện nay, tường thành phía Nam đã bị phá huỷ hoàn toàn. Thành Phục Hòa có 2 cổng chính: Cổng phía Bắc được mở thông ra quốc lộ đi Cửa khẩu Tà Lùng ngày nay, nhân dân thường gọi là Pác Cổng, cổng này được xây theo kiểu hình chữ nhật, rộng 8 m, cao 5 m, gồm hai cánh cổng làm bằng gỗ nghiến dày rất chắc chắn; cổng thứ hai ở phía Nam, mở thông ra bờ sông. Cả hai cổng đều bị san phẳng từ lâu, hiện nay không còn vết tích. Gần thành, tại phía Tây Bắc ngoại thành dọc bờ sông còn có nhiều vết tích lò nung gạch, nhân dân cho biết trong quá trình lao động, khai phá đã tìm thấy ở khu vực này nhiều lò gạch còn nguyên vẹn. Qua nghiên cứu, khảo sát cho thấy, tại Cao Bằng, nhà Mạc đã tu bổ, tôn tạo và xây dựng thêm nhiều thành, đồn luỹ, trong đó tu bổ, tôn tạo xây lại thành Bản Phủ, thành Na Lữ, thành Phục Hoà. Các đồn luỹ này đã tạo thành một hệ thống liên hoàn bảo vệ kinh thành khá vững chắc. Đến nay, những thành cổ nhà Mạc xây dựng thời kỳ đóng đô ở Cao Bằng, một số thành xây dựng bằng đất chỉ còn vết tích, nhưng các thành được xây bằng đá vẫn còn rất rõ. Nguồn: Báo Cao Bằng điện tử

Cao Bằng

13292 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

KHU TƯỞNG NIỆM LIỆT SĨ NGÃ BA GIỒNG, DI TÍCH LỊCH SỬ QUỐC GIA

KHU TƯỞNG NIỆM LIỆT SĨ NGÃ BA GIỒNG, DI TÍCH LỊCH SỬ QUỐC GIA

Di tích Ngã Ba Giồng là di tích lịch sử cách mạng thuộc Ấp 5, xã Xuân Thới Thượng, huyện Hóc Môn. Được bao quanh bởi ba con đường: Phan Văn Hớn, Nguyễn Văn Bứa và tỉnh lộ 19. Khu di tích Ngã Ba Giồng là khu tưởng niệm về những sự kiện lịch sử trong hai cuộc khácg chiến chống ngoại xâm. Được công nhận là di tích lịch sử cấp quốc gia vào năm 2002. Ngã ba Giòng (còn có tên gọi đầy đủ là Ngã ba Giòng Bằng Lăng) nằm trên địa phận thôn Xuân Thới Tây thuộc 18 thôn vườn trầu xưa được hình thành từ những năm 1698 đến năm 1731. Từ lâu đời, Ngã ba Giồng là 1 địa danh có tên gọi dân gian đã đi vào lịch sử của quê hương 18 thôn vườn trầu Hóc Môn – Bà Điểm. Tục truyền rằng xưa kia nơi đây là 1 vùng đất giồng tương đối cao ráo và là nơi mọc nhiều cây bằng lăng nên địa danh này có tên gọi từ đó. Sau khi cuộc khởi nghĩa Nam kỳ (23/11/1940) bị thất bại, thực dân Pháp đã tăng cường đàn áp, khủng bố khốc liệt phong trào cách mạng vùng Hóc Môn – Bà Điểm. Chúng đã lập ra ở Hóc Môn 3 trường bắn để giết hại các đồng chí lãnh đạo Đảng, các đồng chí đồng bào yêu nước của quê hương Hóc Môn và các vùng lân cận. Ngã ba Giồng là trường bắn thứ ba ghi lại tội ác tày trời của giặc pháp và bọn tay sai đối với nhân dân Hóc Môn. Rút kinh nghiệm từ 2 trường bắn trước (1 tại rạp hát cũ trung tâm Quận lỵ Hóc Môn, 1 cạnh giếng nước sau Bệnh viện Hóc Môn ngày nay), chúng xử bắn công khai, bắt nhân dân đến xem nhằm mục đích uy hiếp tinh thần cách mạng của nhân dân Hóc Môn. Nhưng cách xử bắn đó đã phản tác dụng, nhân dân Hóc Môn đã tận mắt chứng kiến sự tàn ác của thực dân Pháp, sự hy sinh cao cả của các chiến sĩ cộng sản nên ngọn lửa yêu nước của họ càng bùng lên mãnh liệt. Trường bắn thứ 3 này, chúng không dám xây dựng gần trung tâm Quận lỵ nữa mà đưa ra khu vực Ngã ba Giồng là vùng hoang vắng, thưa dân để tránh sự phản kháng của nhân dân. Tại đây, chúng xây dựng thành 1 trường bắn có mô đất kiên cố dài 12m, cao 2,2m, phía trước có trồng 6 cột bắn, mỗi cột cao 1.7m, hướng bắn quay về phía đồng ruộng (bưng Tràm Lạc). Vào năm 1941, tại đây chúng lén lúc xử bắn rất nhiều lần, không cho nhân dân xem, hàng trăm chiến sĩ cộng sản và đồng bào yêu nước bị chúng giết hại. Với ý nghĩa lịch sử vô cùng thiêng liêng của Ngã ba Giồng, nơi ghi dấu tội ác dã man của giặc Pháp, nơi thể hiện ý chí chiến đấu bất khuất kiên cường và sự hy sinh cao cả của đồng chí và đồng bào ta sau cuộc khởi nghĩa Nam kỳ (23/11/1940); sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng (30/4/1975), huyện Hóc Môn đã nhanh chóng khôi phục và tôn tạo khu di tích lịch sử cách mạng Ngã ba Giồng nhằm giáo dục truyền thống cho các thế hệ thanh thiếu niên. Nơi đây đã trở thành điểm tham quan, nơi tổ chức lễ hội truyền thống trong những ngày lễ lớn hàng năm của huyện Hóc Môn và thành phố đặc biệt là lễ kỷ niệm ngày Nam kỳ Khởi nghĩa (23/11). Hiện nay được sự nhất trí của thành phố, huyện đang tiến hành tôn tạo xây dựng Ngã ba Giồng thành “Khu tưởng niệm liệt sĩ Ngã ba Giồng”. Nguồn: Cổng thông tin điện tử Hóc Môn

TP Hồ Chí Minh

13135 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở