Di tích lịch sử

Xem dạng bản đồViệt nam

Danh sách điểm di tích (1412)

Chùa Vua

Chùa Vua

Chùa Vua – Di tích lịch sử, kiến trúc nghệ thuật độc đáo giữa lòng Hà Nội Chùa Vua tọa lạc tại số 17 phố Thịnh Yên, phường Phố Huế, quận Hai Bà Trưng (cũ), Hà Nội. Đây là quần thể di tích gồm chùa Hưng Khánh và điện Thiên Đế, nổi tiếng không chỉ bởi giá trị lịch sử, kiến trúc mà còn là cái nôi của tục đấu cờ tướng truyền thống ở kinh thành Thăng Long xưa. Theo các tư liệu lịch sử, Chùa Vua được xây dựng từ thời Lê sơ (thế kỷ XV). Di tích vừa là nơi thờ Phật, vừa thờ Đế Thích – vị thần được tôn là "vua cờ" trong văn hóa phương Đông. Tương truyền, một hoàng tử triều Lê vì ngưỡng mộ tài đánh cờ của Đế Thích đã cho lập điện thờ, từ đó nơi đây trở thành trung tâm sinh hoạt văn hóa và thi đấu cờ tướng của kinh thành. Quần thể di tích được quy hoạch hài hòa với chùa chính, điện Mẫu, Tam quan, hành lang cùng điện Thiên Đế gồm nghi môn, tiền tế, hậu cung, nhà bia và sân cờ. Nổi bật là tòa tiền tế năm gian với kiến trúc truyền thống, mái đao cong, bờ nóc trang trí hình rồng chầu mặt trời, mang đậm phong cách nghệ thuật kiến trúc cổ của Việt Nam. Lễ hội Chùa Vua diễn ra hằng năm từ ngày 6 đến ngày 9 tháng Giêng âm lịch. Bên cạnh các nghi lễ Phật giáo và tín ngưỡng truyền thống, điểm nhấn của lễ hội là hội thi cờ tướng – nét văn hóa độc đáo đã tồn tại qua nhiều thế kỷ. Theo lệ xưa, người giành ngôi vô địch ba năm liên tiếp sẽ được khắc tên lên bia đá lưu danh tại khuôn viên di tích. Với những giá trị tiêu biểu về lịch sử, kiến trúc và văn hóa dân gian, Chùa Vua đã được Bộ Văn hóa và Thông tin xếp hạng Di tích lịch sử, kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia năm 1992. Ngày nay, nơi đây là điểm đến tâm linh, văn hóa hấp dẫn, góp phần lưu giữ và phát huy những giá trị truyền thống của Thăng Long – Hà Nội. Nguồn: Theo Hà Nội Danh thắng và Di tích.

Hà Nội

920 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Khu lưu niệm Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ

Khu lưu niệm Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ

Khu lưu niệm Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ – Di tích quốc gia ghi dấu người chiến sĩ cộng sản kiên trung Khu lưu niệm Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ tọa lạc tại phường Phù Khê, thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh. Đây là nơi lưu giữ những dấu ấn về cuộc đời, sự nghiệp cách mạng của đồng chí Nguyễn Văn Cừ (1912–1941) – Tổng Bí thư của Đảng Cộng sản Đông Dương và là người con ưu tú của quê hương Kinh Bắc. Khu lưu niệm được xây dựng trên nền đất của gia đình đồng chí, gồm nhiều hạng mục như tượng đài, nhà trưng bày thân thế và sự nghiệp cách mạng, nhà lưu niệm gốc cùng các công trình phụ trợ. Nơi đây còn bảo tồn nhiều hiện vật, tư liệu và kỷ vật gắn với tuổi thơ, gia đình và quá trình hoạt động cách mạng của đồng chí, trong đó có tác phẩm "Tự chỉ trích" – một công trình lý luận quan trọng của Đảng. Năm 1938, khi mới 26 tuổi, Nguyễn Văn Cừ được bầu làm Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Đông Dương. Dù chỉ có 29 năm tuổi đời, hơn 13 năm hoạt động cách mạng và hơn 2 năm giữ cương vị Tổng Bí thư, đồng chí đã có nhiều đóng góp quan trọng đối với phong trào cách mạng Việt Nam. Năm 1941, đồng chí bị thực dân Pháp xử bắn tại Hóc Môn (Gia Định) cùng các chiến sĩ cách mạng Hà Huy Tập, Nguyễn Thị Minh Khai, Võ Văn Tần và Phan Đăng Lưu. Với giá trị đặc biệt về lịch sử và giáo dục truyền thống cách mạng, Khu lưu niệm Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ được xếp hạng Di tích lịch sử quốc gia năm 1988. Ngày nay, đây là địa chỉ đỏ, góp phần giáo dục truyền thống yêu nước và lòng tự hào dân tộc cho các thế hệ. Nguồn: Cổng Thông tin điện tử tỉnh Bắc Ninh

Bắc Ninh

337 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Đình Bà Tía (đình Vĩnh Ninh)

Đình Bà Tía (đình Vĩnh Ninh)

Đình Bà Tía – Di tích lịch sử gắn với nữ tướng Hai Bà Trưng Đình Bà Tía (còn gọi là đình Vĩnh Ninh) tọa lạc tại xã Vĩnh Quỳnh, huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội. Đây là ngôi đình cổ thờ Bà Tía (Trương Tử Nương) – một trong những nữ tướng của Hai Bà Trưng, người có công cùng nghĩa quân chống quân Đông Hán vào những năm 40–43 sau Công nguyên. Theo truyền thuyết, Bà Tía là người văn võ song toàn, đã chiêu mộ nghĩa quân tham gia khởi nghĩa Hai Bà Trưng. Sau khi Hai Bà tuẫn tiết tại Hát Môn, bà tiếp tục chiến đấu chống giặc đến khi hóa thân tại cửa Thần Phù. Để tưởng nhớ công lao của bà, người dân địa phương đã lập đình thờ và tôn bà làm Thành hoàng. Đình Bà Tía được xây dựng theo kiến trúc truyền thống với các hạng mục như Nghi môn, Phương đình, Đại đình và Hậu cung. Di tích còn lưu giữ nhiều hiện vật quý như 23 đạo sắc phong (sớm nhất niên hiệu Cảnh Hưng năm 1753), thần phả, kiệu sơn son thếp vàng, hoành phi, câu đối và bản khuyến nông thời Quang Trung. Trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp, đình Bà Tía còn là địa điểm hoạt động của cán bộ cách mạng, gắn với tên tuổi tướng Vương Thừa Vũ, góp phần làm nên giá trị lịch sử của di tích. Hằng năm, lễ hội đình Bà Tía được tổ chức từ ngày 8 đến 12 tháng Hai âm lịch, với các nghi lễ rước, tế truyền thống nhằm tưởng nhớ nữ tướng Trương Tử Nương và giáo dục truyền thống yêu nước cho các thế hệ. Với những giá trị nổi bật về lịch sử, văn hóa và kiến trúc, Đình Bà Tía được Bộ Văn hóa và Thông tin xếp hạng Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia năm 1980. Nguồn: Hà Nội – Danh thắng và Di tích

Hà Nội

462 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Đình Canh Nậu

Đình Canh Nậu

Đình Canh Nậu – Dấu ấn lịch sử và kiến trúc làng Việt Đình Canh Nậu tọa lạc tại xã Canh Nậu, huyện Thạch Thất (cũ), thành phố Hà Nội. Đây là công trình tín ngưỡng tiêu biểu của vùng xứ Đoài, gắn với lịch sử hình thành và phát triển của làng Canh Nậu qua nhiều thế kỷ. Theo các tư liệu nghiên cứu, đình được khởi dựng vào khoảng thế kỷ XVII, sau đó được trùng tu vào các thế kỷ XVIII và XIX. Công trình có mặt bằng kiến trúc kiểu "tiền nhất, hậu đinh", nổi bật với hệ thống chạm khắc gỗ mang phong cách nghệ thuật thời Hậu Lê, đặc biệt là các hình tượng rồng và hoa văn dân gian có giá trị thẩm mỹ cao. Đình là nơi thờ 5 vị Thành hoàng làng, trong đó có Đỗ Viện – nhân vật được ghi nhận có công truyền dạy chữ Hán cho cư dân địa phương. Không chỉ là trung tâm tín ngưỡng, đình Canh Nậu còn là nơi diễn ra các lễ hội truyền thống, góp phần gìn giữ bản sắc văn hóa của cộng đồng. Với những giá trị tiêu biểu về lịch sử, kiến trúc và nghệ thuật, Đình Canh Nậu được Bộ Văn hóa và Thông tin xếp hạng Di tích kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia năm 1993. Nguồn: Hà Nội – Danh thắng và Di tích

Hà Nội

854 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Phủ Tây Hồ

Phủ Tây Hồ

Phủ Tây Hồ – Di tích lịch sử, văn hóa và tín ngưỡng tiêu biểu của Hà Nội Tọa lạc trên bán đảo thuộc phường Quảng An, quận Tây Hồ, Hà Nội, Phủ Tây Hồ là một trong những di tích tín ngưỡng nổi tiếng gắn với Thánh Mẫu Liễu Hạnh – một trong Tứ bất tử của tín ngưỡng dân gian Việt Nam. Nằm giữa không gian thơ mộng của Hồ Tây, di tích từ lâu đã trở thành điểm đến tâm linh quan trọng của người dân Thủ đô và du khách thập phương. Theo nhiều tư liệu nghiên cứu, Phủ Tây Hồ gắn với truyền thuyết Trạng nguyên Phùng Khắc Khoan gặp Thánh Mẫu Liễu Hạnh khi du ngoạn Hồ Tây. Tuy nhiên, thời điểm xây dựng phủ đến nay vẫn chưa có tài liệu lịch sử xác định chính xác. Các tư liệu Hán – Nôm hiện còn tại di tích như bia đá, chuông đồng, hoành phi, câu đối chủ yếu có niên đại vào cuối thời Nguyễn. Một số văn bia và hiện vật cho thấy nơi đây có mối liên hệ với đền Bảo Khánh của làng Tây Hồ xưa và đã trải qua nhiều lần tu bổ, tôn tạo. Không chỉ mang giá trị lịch sử, Phủ Tây Hồ còn là trung tâm thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu tiêu biểu của Hà Nội. Hằng năm, đặc biệt vào dịp đầu xuân và các ngày lễ của Thánh Mẫu Liễu Hạnh, đông đảo người dân và du khách đến dâng hương, cầu bình an, tài lộc. Với giá trị về lịch sử, văn hóa và tín ngưỡng, Phủ Tây Hồ là một trong những điểm đến tiêu biểu, góp phần bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa truyền thống của Thăng Long – Hà Nội. Nguồn: Hà Nội – Danh thắng và Di tích

Hà Nội

822 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Thành cổ Hà Tĩnh

Thành cổ Hà Tĩnh

Thành cổ Hà Tĩnh – Chứng nhân lịch sử giữa lòng thành phố Nằm tại phường Tân Giang, thành phố Hà Tĩnh, Thành cổ Hà Tĩnh là một di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia, gắn liền với quá trình hình thành và phát triển của vùng đất Hà Tĩnh. Được xây dựng lần đầu bằng đất vào năm 1804 dưới triều vua Gia Long, đến năm 1833, vua Minh Mạng cho xây dựng lại bằng đá ong theo kiến trúc quân sự Vauban. Năm 1881, sau khi tỉnh Hà Tĩnh được tái lập, thành tiếp tục được xây dựng kiên cố bằng gạch và đá. Thành có hình lục giác độc đáo, cao khoảng 3,2 m, bao quanh là hào nước rộng 20 m, cùng hệ thống tường thành, cổng thành và các công trình phòng thủ vững chắc. Đây là một trong những công trình quân sự tiêu biểu của triều Nguyễn, thể hiện sự kết hợp hài hòa giữa kiến trúc truyền thống Việt Nam và kỹ thuật xây thành phương Tây. Trải qua nhiều biến cố lịch sử, Thành cổ Hà Tĩnh từng là trung tâm hành chính, quân sự quan trọng và là chứng nhân của các cuộc kháng chiến bảo vệ Tổ quốc. Dù nhiều hạng mục không còn nguyên vẹn, những dấu tích còn lại vẫn mang giá trị to lớn về lịch sử, văn hóa và giáo dục truyền thống. Ngày nay, Thành cổ Hà Tĩnh không chỉ là biểu tượng của tinh thần yêu nước và ý chí kiên cường của người dân Hà Tĩnh mà còn là điểm đến hấp dẫn, góp phần gìn giữ và lan tỏa những giá trị lịch sử cho các thế hệ mai sau. Nguồn: Cổng Thông Tin Điện Tử Du Lịch Tỉnh Hà Tĩnh

Hà Tĩnh

1092 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Mặt trận Vị Xuyên

Mặt trận Vị Xuyên

Mặt trận Vị Xuyên – Bản hùng ca bất tử nơi địa đầu Tổ quốc Sau cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới phía Bắc năm 1979, khu vực Vị Xuyên tiếp tục là điểm nóng với hàng trăm trận chiến ác liệt kéo dài suốt gần một thập kỷ. Từ năm 1984 đến 1989, quân và dân Việt Nam kiên cường bám trụ trên các điểm cao chiến lược như 468, 685, 772, 1100, 1509, Đồi Đài, Cô Ích... quyết tâm giữ vững từng tấc đất thiêng liêng của Tổ quốc. Những ngọn núi ở Vị Xuyên từng hứng chịu hàng triệu quả đạn pháo, nhiều cao điểm bị san phẳng, địa hình biến dạng sau những trận chiến dữ dội. Sự khốc liệt ấy khiến nơi đây được các cựu chiến binh gọi bằng cái tên đầy ám ảnh: "Lò vôi thế kỷ". Hơn 4.000 cán bộ, chiến sĩ đã anh dũng hy sinh, hàng nghìn người khác bị thương hoặc mãi mãi nằm lại trong lòng núi đá mà đến nay vẫn chưa tìm thấy hài cốt. Máu của những người lính đã hòa vào đất mẹ, viết nên bản anh hùng ca bất tử về lòng yêu nước và ý chí bảo vệ chủ quyền biên giới. Điểm cao 468 – Biểu tượng của ý chí giữ đất Trong hệ thống các di tích của Mặt trận Vị Xuyên, Điểm cao 468 là một trong những địa danh thiêng liêng nhất. Đây từng là vị trí chiến lược, nơi diễn ra nhiều trận đánh ác liệt giữa quân ta và đối phương. Ngày nay, trên đỉnh 468 đã xây dựng Đền thờ các Anh hùng liệt sĩ Mặt trận Vị Xuyên và Nhà tưởng niệm tri ân các Anh hùng liệt sĩ, trở thành nơi để đồng đội, thân nhân và du khách dâng hương tưởng nhớ những người đã ngã xuống. Đứng trên điểm cao 468, phóng tầm mắt ra những dãy núi trùng điệp, khó ai có thể hình dung nơi đây từng là chiến trường khốc liệt nhất của cuộc chiến bảo vệ biên giới phía Bắc. Mỗi nén hương được thắp lên không chỉ là lời tri ân với những người đã hy sinh mà còn nhắc nhở các thế hệ hôm nay về giá trị của hòa bình được đánh đổi bằng máu xương. Nghĩa trang Liệt sĩ Quốc gia Vị Xuyên – Nơi yên nghỉ của những người lính bất tử Cách thành phố Hà Giang khoảng 18 km, Nghĩa trang Liệt sĩ Quốc gia Vị Xuyên là nơi an nghỉ của 1.863 liệt sĩ cùng một phần mộ tập thể, trong đó có hơn 1.600 liệt sĩ đã hy sinh trong cuộc chiến bảo vệ biên giới phía Bắc. Nghĩa trang được xây dựng từ năm 1990, tựa lưng vào dãy Tây Côn Lĩnh, hướng mặt về dòng sông Lô lịch sử. Hàng nghìn bia mộ trắng xếp thành từng hàng ngay ngắn như những người đồng đội vẫn đang sát cánh bên nhau canh giữ biên cương. Mỗi năm, vào dịp 12/7 - Ngày giỗ trận của Sư đoàn 356, Ngày Thương binh - Liệt sĩ 27/7, Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam 22/12 và các ngày lễ lớn của đất nước, hàng vạn cựu chiến binh, thân nhân liệt sĩ và du khách từ khắp mọi miền Tổ quốc lại trở về nơi đây dâng hương, tưởng niệm những người đã mãi mãi tuổi đôi mươi. Nguồn: Trung tâm Thông tin du lịch

Tuyên Quang

1121 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Tượng đài Thanh niên xung phong – Đường Hạnh phúc

Tượng đài Thanh niên xung phong – Đường Hạnh phúc

Tượng đài Thanh niên xung phong – Biểu tượng bất diệt trên Con đường Hạnh phúc Tượng đài Thanh niên xung phong nằm bên Con đường Hạnh phúc, thuộc khu vực Cao nguyên đá Đồng Văn, tỉnh Tuyên Quang (trước đây thuộc tỉnh Hà Giang). Đây là công trình tưởng niệm những thanh niên xung phong và đồng bào các dân tộc đã cống hiến tuổi trẻ, mồ hôi và cả máu xương để mở nên tuyến đường huyền thoại xuyên qua vùng núi đá cực Bắc của Tổ quốc. Con đường Hạnh phúc được khởi công ngày 10/9/1959 và hoàn thành vào năm 1965, có chiều dài khoảng 185 km, nối thành phố Hà Giang với Quản Bạ, Yên Minh, Đồng Văn và Mèo Vạc. Để hoàn thành công trình, gần 1.000 dân công địa phương cùng hơn 1.000 thanh niên xung phong thuộc 16 dân tộc của 8 tỉnh đã làm việc liên tục hơn 5 năm trong điều kiện vô cùng gian khổ. Chỉ với những dụng cụ thô sơ như cuốc, xẻng, xà beng và búa tạ, họ đã đào đắp, vận chuyển hơn 3 triệu mét khối đất đá, tạo nên tuyến đường đầu tiên nối vùng cao nguyên đá với miền xuôi. Riêng đoạn vượt đèo Mã Pì Lèng, lực lượng mở đường phải treo mình trên vách đá dựng đứng suốt 11 tháng để khoan đá, mở từng mét đường. Trong quá trình thi công, 14 thanh niên xung phong đã anh dũng hy sinh, để lại dấu ấn không thể phai mờ trong lịch sử xây dựng đất nước. Trong bản hùng ca mở đường ấy có sự đóng góp quan trọng của hơn 200 thanh niên xung phong tỉnh Cao Bằng. Họ tham gia thi công nhiều đoạn đường quan trọng như Pác Sum, Tráng Kìm, Phó Bảng, Lũng Cẩm, Xà Phìn và nhiều tuyến đường khác trên cao nguyên đá. Một trong những người con ưu tú của Cao Bằng đã hy sinh trên công trường là liệt sĩ Triệu Văn Thoòng, góp phần tô thắm truyền thống xung kích, cống hiến của tuổi trẻ quê hương. Để ghi nhớ công lao của những người mở đường, năm 2017, Cụm tượng đài Thanh niên xung phong được xây dựng ngay bên Con đường Hạnh phúc. Công trình được chế tác bằng đá tự nhiên, cao 16 m tính cả bệ tượng. Cụm tượng chính gồm năm hình tượng thanh niên xung phong với tư thế hiên ngang, mạnh mẽ, thể hiện ý chí kiên cường và tinh thần đoàn kết vượt qua mọi gian khó. Phía sau là ba bức phù điêu tái hiện hành trình từ những ngày đầu lên miền đá, quá trình phá núi mở đường đến thời khắc tuyến đường lịch sử được hoàn thành. Ngày nay, Tượng đài Thanh niên xung phong không chỉ là điểm dừng chân trên hành trình khám phá Công viên địa chất toàn cầu UNESCO Cao nguyên đá Đồng Văn mà còn là "địa chỉ đỏ" giáo dục truyền thống cách mạng cho các thế hệ. Giữa khung cảnh hùng vĩ của núi rừng, tượng đài nhắc nhở mỗi du khách về sự hy sinh cao cả của lớp lớp thanh niên xung phong đã biến điều tưởng chừng không thể thành hiện thực. Đây là biểu tượng của lòng yêu nước, ý chí vượt khó và khát vọng cống hiến, góp phần làm nên Con đường Hạnh phúc – niềm tự hào của vùng cực Bắc Việt Nam. Theo báo Tuyên Quang điện tử (tổng hợp)

Tuyên Quang

347 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Nhà tưởng niệm Anh hùng liệt sĩ Bế Văn Đàn

Nhà tưởng niệm Anh hùng liệt sĩ Bế Văn Đàn

Nhà tưởng niệm Anh hùng liệt sĩ Bế Văn Đàn – Địa chỉ đỏ trên quê hương cách mạng Cao Bằng Nhà tưởng niệm Anh hùng liệt sĩ Bế Văn Đàn nằm tại xóm Bản Buống, xã Triệu Ẩu, tỉnh Cao Bằng, trên chính nền ngôi nhà nơi người anh hùng sinh ra và lớn lên. Đây là công trình có ý nghĩa đặc biệt, được xây dựng nhằm tưởng nhớ và tri ân Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Bế Văn Đàn – người con ưu tú của dân tộc Tày, đã anh dũng hy sinh trong Chiến dịch Điện Biên Phủ. Bế Văn Đàn sinh năm 1931 trong một gia đình nghèo, nhập ngũ năm 1949 và tham gia nhiều chiến dịch lớn. Trong trận chiến tại Mường Pồn năm 1954, khi đồng đội không có điểm tựa để sử dụng khẩu trung liên, ông đã dũng cảm lấy vai mình làm giá súng, động viên đồng đội tiếp tục chiến đấu. Hành động quả cảm ấy đã góp phần đẩy lùi đợt phản kích của quân địch, trước khi ông anh dũng hy sinh. Với chiến công đặc biệt xuất sắc, Bế Văn Đàn được Nhà nước truy tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân. Nhà tưởng niệm được xây dựng theo kiến trúc nhà sàn truyền thống của đồng bào Tày, hài hòa với cảnh quan núi rừng Cao Bằng. Bên trong là không gian thờ tự trang nghiêm với bàn thờ, ảnh chân dung và các tư liệu, hiện vật giới thiệu về cuộc đời, sự nghiệp và tấm gương chiến đấu anh dũng của Anh hùng liệt sĩ Bế Văn Đàn. Khuôn viên rộng rãi, xanh mát tạo nên không gian trang nghiêm, là nơi để nhân dân và du khách dâng hương tưởng niệm. Ngày nay, Nhà tưởng niệm Anh hùng liệt sĩ Bế Văn Đàn không chỉ là nơi tri ân người anh hùng dân tộc mà còn là một "địa chỉ đỏ" giáo dục truyền thống yêu nước, lòng biết ơn và tinh thần cách mạng cho các thế hệ. Đây là điểm đến có ý nghĩa lịch sử, góp phần gìn giữ ký ức hào hùng của dân tộc và lan tỏa những giá trị tốt đẹp về lòng dũng cảm, sự hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc. Theo báo Cao Bằng điện tử

Cao Bằng

362 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp tỉnh

Mở

Đình Đông Thành

Đình Đông Thành

Đình Đông Thành – Di tích lịch sử, kiến trúc giữa lòng phố cổ Hà Nội Đình Đông Thành, còn gọi là đình Hàng Vải, tọa lạc tại số 7 phố Hàng Vải, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội. Đây là một trong những ngôi đình cổ tiêu biểu của khu phố cổ, vừa là nơi sinh hoạt tín ngưỡng của cộng đồng dân cư, vừa lưu giữ nhiều giá trị lịch sử, văn hóa và kiến trúc đặc sắc của Thăng Long xưa. Đình được xây dựng để thờ Thánh Huyền Thiên Trấn Vũ – vị thần được nhân dân tôn kính với công lao trấn giữ phương Bắc, bảo vệ quốc thái dân an. Trước đây, đình là nơi sinh hoạt chung của hai thôn Đông Thành và Đông Thành Thị, sau được sáp nhập thành làng Đông Thành dưới triều Nguyễn. Trải qua nhiều thế kỷ, đình vẫn bảo tồn được nhiều hiện vật quý như tượng Thánh Huyền Thiên Trấn Vũ bằng đồng, hệ thống bia đá thời Nguyễn ghi lại quá trình xây dựng, trùng tu cùng các đạo sắc phong, hoành phi, câu đối có giá trị về lịch sử và nghệ thuật. Đây là những tư liệu quý góp phần phản ánh đời sống văn hóa, tín ngưỡng của cư dân phố cổ Hà Nội qua nhiều thời kỳ. Không chỉ có giá trị về kiến trúc và tín ngưỡng, đình Đông Thành còn gắn với những dấu mốc quan trọng của lịch sử dân tộc. Trong những ngày đầu Toàn quốc kháng chiến cuối năm 1946, đình từng được sử dụng làm trạm cứu thương của Liên khu I, góp phần phục vụ cuộc chiến đấu bảo vệ Thủ đô trong 60 ngày đêm lịch sử. Sự kiện này đã làm tăng thêm giá trị lịch sử của di tích, biến nơi đây trở thành một địa chỉ đỏ giáo dục truyền thống yêu nước cho các thế hệ. Năm 2014, đình Đông Thành được xếp hạng Di tích lịch sử - kiến trúc nghệ thuật cấp thành phố. Ngày nay, ngôi đình không chỉ là nơi diễn ra các hoạt động tín ngưỡng của người dân địa phương mà còn là điểm tham quan hấp dẫn trên hành trình khám phá khu phố cổ Hà Nội. Theo báo Hà Nội mới

Hà Nội

898 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp tỉnh

Mở

Khu di tích lịch sử Nặm Lìn

Khu di tích lịch sử Nặm Lìn

Khu di tích lịch sử Nặm Lìn, thuộc xã Hoàng Tung, tỉnh Cao Bằng, là một trong những "địa chỉ đỏ" tiêu biểu của cách mạng Việt Nam. Đây là nơi ghi dấu sự kiện thành lập Chi bộ Đảng Cộng sản đầu tiên của tỉnh Cao Bằng vào ngày 1 tháng 4 năm 1930, đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong lịch sử cách mạng của địa phương. Với ý nghĩa to lớn về lịch sử và giáo dục truyền thống, Nặm Lìn đã trở thành điểm đến không thể bỏ qua đối với những ai muốn tìm hiểu về cội nguồn cách mạng của vùng đất Cao Bằng. Cách đây hơn 90 năm, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và sự chỉ đạo trực tiếp của đồng chí Hoàng Đình Giong, Chi bộ Đảng Cộng sản đầu tiên của tỉnh Cao Bằng được thành lập tại Nặm Lìn với ba đảng viên: Hoàng Văn Nọn, Lê Đoàn Chu và Nông Văn Đô. Đồng chí Hoàng Văn Nọn được bầu làm Bí thư Chi bộ. Từ đây, phong trào cách mạng ở Cao Bằng được tổ chức và phát triển mạnh mẽ, góp phần quan trọng vào sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc. Để ghi nhận giá trị lịch sử đặc biệt của địa điểm này, ngày 13 tháng 2 năm 1995, Bộ Văn hóa – Thông tin đã công nhận Nặm Lìn là Di tích lịch sử cấp quốc gia. Ngày nay, khu di tích được bảo tồn và tôn tạo khang trang, trở thành nơi lưu giữ những tư liệu, hình ảnh và dấu ấn về sự ra đời của tổ chức Đảng đầu tiên tại Cao Bằng. Không gian di tích mang vẻ trang nghiêm, yên tĩnh, hài hòa với cảnh quan thiên nhiên của vùng trung du, tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động tham quan, tìm hiểu lịch sử. Đến với Khu di tích lịch sử Nặm Lìn, du khách không chỉ được nghe giới thiệu về quá trình hình thành Chi bộ Đảng đầu tiên của tỉnh mà còn có cơ hội hiểu rõ hơn về truyền thống yêu nước, tinh thần đoàn kết và ý chí đấu tranh kiên cường của nhân dân các dân tộc Cao Bằng. Đây là nơi thường xuyên diễn ra các hoạt động về nguồn, dâng hương, sinh hoạt chuyên đề, kết nạp đảng viên, đoàn viên và các chương trình giáo dục truyền thống dành cho học sinh, sinh viên, cán bộ và lực lượng vũ trang. Theo báo Cao Bằng điện tử

Cao Bằng

1049 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Đền thờ Tô Thị Hoạn

Đền thờ Tô Thị Hoạn

Đền thờ Tô Thị Hoạn Nằm tại xóm Đồng Tâm, xã Lý Quốc, tỉnh Cao Bằng, Đền thờ Tô Thị Hoạn là một điểm đến mang đậm giá trị lịch sử, văn hóa và tâm linh. Với khung cảnh yên bình dưới chân núi Xuân Sơn cùng kiến trúc truyền thống đặc sắc, ngôi đền không chỉ là nơi nhân dân địa phương gửi gắm niềm tin tín ngưỡng mà còn là điểm tham quan hấp dẫn đối với du khách khi đến với vùng đất biên cương Cao Bằng. Đền được xây dựng để thờ bà Tô Thị Hoạn (Tô Thị Huệ), một nhân vật gắn liền với truyền thuyết về lòng thủy chung của người phụ nữ Việt Nam. Sau khi bà qua đời, nhân dân đã lập đền thờ để tưởng nhớ và tri ân đức hạnh của bà. Trải qua nhiều thế kỷ, ngôi đền luôn được người dân gìn giữ, trở thành nơi sinh hoạt văn hóa, tín ngưỡng và là biểu tượng cho truyền thống "uống nước nhớ nguồn" của cộng đồng địa phương. Năm 2011, Đền thờ Tô Thị Hoạn được UBND tỉnh Cao Bằng xếp hạng là Di tích lịch sử – văn hóa cấp tỉnh. Trước sự xuống cấp của công trình theo thời gian, năm 2025 địa phương đã triển khai dự án tu bổ, phục hồi với tổng kinh phí 6 tỷ đồng. Sau quá trình tôn tạo, ngôi đền được xây dựng khang trang theo kiến trúc truyền thống gồm ba gian, mái lợp ngói âm dương, sân chính điện, bậc lên đền và hệ thống tường kè kiên cố. Nội thất bên trong được bài trí trang nghiêm với hoành phi, câu đối, cửa võng, tượng thờ, sập thờ và các đồ thờ bằng gốm, đá, tạo nên không gian linh thiêng, cổ kính. Đến với Đền thờ Tô Thị Hoạn, du khách không chỉ được chiêm ngưỡng vẻ đẹp của một công trình kiến trúc truyền thống mà còn có cơ hội tìm hiểu về lịch sử, văn hóa và tín ngưỡng của người dân địa phương. Không gian thanh tịnh, hòa quyện với cảnh quan núi rừng xanh mát tạo cảm giác yên bình, thích hợp cho những chuyến tham quan, dâng hương và khám phá văn hóa bản địa. Theo báo điện tử Cao Bằng

Cao Bằng

1149 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp tỉnh

Mở

Chùa Sùng Phúc

Chùa Sùng Phúc

Chùa Sùng Phúc Tọa lạc tại thị trấn Thanh Nhật, huyện Hạ Lang, tỉnh Cao Bằng, Chùa Sùng Phúc là một trong những ngôi chùa cổ nổi tiếng của vùng Đông Bắc, có lịch sử hơn 700 năm. Chùa được xây dựng từ thời vua Trần Nhân Tông với tên gọi ban đầu là Sùng Khánh, nhằm phát triển Phật giáo và khẳng định chủ quyền vùng biên sau chiến thắng chống quân Nguyên – Mông. Đến năm 1782, chùa được trùng tu, di dời về vị trí hiện nay và đổi tên thành Sùng Phúc. Chùa mang đậm kiến trúc thời Lê với chính điện hình chữ Nhị, mái lợp ngói truyền thống và khuôn viên cổ kính. Không chỉ là nơi thờ Phật Quan Âm, chùa còn thờ Nghĩa Thành Vương Nguyễn Đình Bá – người có công khai phá, bảo vệ vùng biên giới Cao Bằng, và gắn với Nguyễn Thị Duệ, nữ tiến sĩ đầu tiên của Việt Nam, người từng tu hành và giảng dạy tại đây. Di tích hiện còn lưu giữ nhiều hiện vật quý như bia đá, sắc phong triều Nguyễn và nhiều tư liệu lịch sử có giá trị. Hằng năm, từ ngày 14 đến 16 tháng Giêng âm lịch, lễ hội Chùa Sùng Phúc được tổ chức với các nghi lễ dâng hương, rước Phật cùng nhiều hoạt động văn hóa dân gian đặc sắc, thu hút đông đảo nhân dân và du khách. Với những giá trị nổi bật về lịch sử, kiến trúc và tín ngưỡng, Chùa Sùng Phúc đã được Bộ Văn hóa – Thông tin xếp hạng Di tích lịch sử – văn hóa cấp Quốc gia vào ngày 29/1/1993. Ngày nay, ngôi chùa không chỉ là điểm đến tâm linh nổi tiếng của Cao Bằng mà còn là biểu tượng của truyền thống yêu nước, tinh thần hiếu học và bản sắc văn hóa vùng biên cương. Nguồn: Tạp chí Nghiên cứu Phật học (tổng hợp)

Cao Bằng

580 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Đình Yên Phụ

Đình Yên Phụ

Đình Yên Phụ Tọa lạc tại phường Tây Hồ, thành phố Hà Nội (trước đây thuộc phường Yên Phụ, quận Tây Hồ), Đình Yên Phụ là một di tích lịch sử - kiến trúc nghệ thuật tiêu biểu, gắn với tín ngưỡng thờ Uy Linh Lang Đại Vương cùng hai vị em là Vương Duy Đại Vương và Vương Ba Đại Vương. Theo thần tích, Uy Linh Lang là vị tướng có công lớn trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên dưới thời nhà Trần và được nhân dân tôn làm Thành hoàng làng. Đình được xây dựng theo kiến trúc truyền thống hình chữ "Đinh", gồm Đại đình và Hậu cung, nổi bật với hệ thống khung gỗ lim, mái ngói cổ, các mảng chạm khắc rồng, phượng, tứ linh tinh xảo mang phong cách nghệ thuật thế kỷ XVII. Bên trong đình còn lưu giữ nhiều hiện vật quý như sắc phong, bia đá, chuông đồng, hoành phi, câu đối và các đồ thờ cổ có giá trị lịch sử, văn hóa. Không chỉ là nơi sinh hoạt tín ngưỡng của người dân địa phương, Đình Yên Phụ còn là một trong những di tích tiêu biểu bên Hồ Tây, góp phần phản ánh lịch sử, truyền thống và đời sống văn hóa lâu đời của vùng đất Thăng Long – Hà Nội. Năm 1986, Đình Yên Phụ được Bộ Văn hóa và Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) xếp hạng Di tích lịch sử, kiến trúc nghệ thuật cấp Quốc gia. Ngày nay, di tích là điểm đến hấp dẫn đối với du khách và những người yêu thích tìm hiểu lịch sử, văn hóa truyền thống của Thủ đô. Nguồn: Hà Nội Danh thắng và Di tích (tổng hợp)

Hà Nội

923 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Chùa Linh Ứng

Chùa Linh Ứng

Chùa Linh Ứng ( Khâm Thiên) Chùa Linh Ứng có tên chữ là Linh Ứng tự nằm sát mặt đường Khâm Thiên, số 290, thuộc phường Thổ Quan, quận Đống Đa, Hà Nội. (Trước sáp nhập) Chùa Linh Ứng được xây dựng vào thế kỷ XIX và tiếp tục tôn tạo vào những năm đầu thế kỷ XX; được trùng tu lớn năm 1951, xây thêm Tam bảo với kiểu mái chồng diêm như hiện nay. Chùa bị thiệt hại nặng trong trận bom B.52 ngày 26 - 12 - 1972. Cuối năm 1973 chùa lại được tôn tạo lớn, gần đây năm 1990 các hội chủ, phật tử lại phát tâm công đức tu bổ chùa, sửa sang Phật điện, lát nền điện Mẫu, nhà Tổ. Trong chùa có đầy đủ hệ thống tượng Phật, đặc biệt còn bảo tồn được hai tượng tròn có niên đại thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX và nhiều tượng có giá trị khác như A Di Đà, Di Đà Tam tôn, Cửu long. Chùa Linh Ứng cũng thờ Hưng Đạo đại vương Trần Quốc Tuấn. Tượng đức Thánh Trần ngồi trên long ngai, đầu đội mũ bình thiên, khoác long bào, ngai chạm đầu rồng sơn son thếp vàng, chạm bóng rất kỹ lưỡng theo phong cách nghệ thuật thế kỷ XIX. Trong điện thờ Mẫu, nhà Tổ có tượng Tam toà Thánh Mẫu, Hoàng Bẩy, Hoàng Mười, tượng Cô, tượng Cậu... Chùa có nhiều hoành phi, câu đối, các bức cửa võng sơn son thếp vàng đẹp. Chùa Linh Ứng đã được Bộ Văn hoá và Thông tin xếp hạng di tích lịch sử kiến trúc nghệ thuật năm 1993. Theo Hà Nội Danh thắng và Di tích

Hà Nội

871 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Đền Đông Bộ Đầu

Đền Đông Bộ Đầu

Đền Đông Bộ Đầu – Di tích lịch sử văn hóa thờ Phù Đổng Thiên Vương Đền Đông Bộ Đầu (xưa thuộc làng Dấp), nay thuộc Thường Tín, thành phố Hà Nội, là một di tích lịch sử văn hóa có giá trị đặc biệt, gắn với tín ngưỡng thờ Phù Đổng Thiên Vương – vị anh hùng trong truyền thuyết chống giặc ngoại xâm của dân tộc Việt Nam. Theo thần tích được lưu truyền tại địa phương, đền thờ Đức Đổng Sóc Thiên Vương Huyền Thiên Đại Thánh báo ân Mẹ, tức Thánh Gióng. Điểm đặc biệt trong truyền thuyết tại Đông Bộ Đầu là Thánh Gióng không chỉ đánh giặc cứu nước mà còn có công diệt thủy quái, cứu mẹ và bảo vệ cuộc sống bình yên cho nhân dân ven sông Hồng. Vì vậy, người dân nơi đây còn tôn vinh Ngài là vị thần có công trị thủy, bảo vệ dân làng. Đền Đông Bộ Đầu được hình thành từ lâu đời và từng được các sách cổ như Đại Nam nhất thống chí, Công dư tiệp ký ghi nhận là một trong những đền miếu cổ của vùng Hà Tây xưa. Trải qua nhiều lần tu bổ, di tích hiện vẫn lưu giữ nhiều giá trị kiến trúc, nghệ thuật và tín ngưỡng truyền thống. Đền có kiến trúc theo kiểu “tiền Phật, hậu Thánh”, gồm nhà tiền tế và hậu cung. Trong đền còn lưu giữ nhiều hiện vật quý như sắc phong, tượng thờ, hoành phi, câu đối và đặc biệt là pho tượng Phù Đổng Thiên Vương cổ cao 5,76m, thể hiện hình tượng vị thần uy nghi, mạnh mẽ trong tư thế bảo vệ nhân dân. Ngoài ra, hệ thống tượng Bát Bộ Kim Cương cũng là những tác phẩm nghệ thuật độc đáo, có giá trị về điêu khắc dân gian. Hằng năm, nhân dân địa phương tổ chức lễ hội Đền Đông Bộ Đầu vào ngày 8 tháng Giêng và ngày 8 tháng 9 âm lịch để tưởng nhớ công đức của Thánh Gióng. Lễ hội có nhiều nghi lễ truyền thống và các trò chơi dân gian đặc sắc như múa gậy, bơi trải, tạo nên không gian văn hóa giàu bản sắc của vùng đất ven sông Hồng. Năm 2011, tín ngưỡng thờ Phù Đổng Thiên Vương tại các địa điểm liên quan, trong đó có Đền Đông Bộ Đầu, được UNESCO ghi danh là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Với những giá trị nổi bật về lịch sử, kiến trúc, tín ngưỡng và nghệ thuật, Đền Đông Bộ Đầu là một di sản quý, góp phần lưu giữ hình tượng Thánh Gióng – biểu tượng của lòng yêu nước, tinh thần chống giặc ngoại xâm và đạo lý uống nước nhớ nguồn của dân tộc Việt Nam. Theo Bảo tàng Lịch sử quốc gia

Hà Nội

953 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp tỉnh

Mở

Đình Chu Quyến

Đình Chu Quyến

Đình Chu Quyến – Di tích kiến trúc nghệ thuật đặc sắc của xứ Đoài Đình Chu Quyến (còn gọi là đình Chàng) tọa lạc tại xã Chu Minh, huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội. Đây là một trong những ngôi đình cổ tiêu biểu của Việt Nam, được xây dựng vào đầu thế kỷ XVII và được Nhà nước xếp hạng Di tích kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia năm 1962. Xưa kia, đình thuộc làng Chu Chàng, tổng Châu Chàng, huyện Tiên Phong, phủ Quảng Oai, trấn Sơn Tây. Sau này, làng Chu Chàng được tách thành Chu Chàng và Chu Quyến, nhưng người dân địa phương vẫn quen gọi là đình Chàng. Ngôi đình nằm ở vùng đất ven sông Hồng, hướng về núi Ba Vì, có vị trí hài hòa theo quan niệm phong thủy truyền thống. Đình Chu Quyến là công trình kiến trúc gỗ quy mô lớn, chỉ gồm một tòa đại đình nhưng mang vẻ đẹp bề thế, uy nghi. Đình có kết cấu gồm 3 gian chính, 2 gian chái, 2 dĩ và hệ thống 6 hàng cột lớn. Các bộ phận kiến trúc như cột, xà, kẻ, cốn, vì nóc đều được liên kết khéo léo bằng kỹ thuật mộc truyền thống. Những cây cột lớn của đình đã trở thành hình ảnh quen thuộc trong dân gian với câu ví “to như cột đình Chàng”. Không chỉ có giá trị về kiến trúc, đình Chu Quyến còn nổi bật bởi nghệ thuật chạm khắc gỗ tinh xảo. Các nghệ nhân xưa đã tạo nên nhiều tác phẩm sinh động với hình ảnh rồng, phượng, hoa lá, mây trời và các hoạt cảnh đời thường như làm ruộng, uống rượu, cưỡi voi, cưỡi ngựa… Những đường nét chạm khắc thể hiện sự tài hoa của nghệ nhân dân gian và phản ánh đời sống văn hóa của xã hội đương thời. Theo các tư liệu còn lưu giữ tại di tích, đình Chu Quyến thờ Nhã Lang Vương (Đức Thánh Chàng), nhân vật gắn với truyền thuyết về thời Hậu Lý Nam Đế. Tương truyền, Nhã Lang Vương là người có công dẹp giặc, bảo vệ đất nước nên được nhiều làng ven sông Hồng tôn làm Thành hoàng. Hằng năm, lễ hội đình được tổ chức vào ngày rằm tháng Giêng với các nghi lễ tế thần cùng nhiều hoạt động văn hóa dân gian như đấu vật, bơi thuyền, ca hát, thu hút đông đảo nhân dân và du khách. Hiện nay, đình Chu Quyến còn lưu giữ 13 đạo sắc phong của các triều đại Lê Trung hưng, Tây Sơn và Nguyễn cùng nhiều hoành phi, câu đối, hiện vật có giá trị lịch sử. Trải qua nhiều lần tu bổ, đặc biệt là đợt trùng tu lớn từ năm 2007 đến 2009, đình vẫn giữ được vẻ đẹp cổ kính và những giá trị nguyên bản. Với những giá trị tiêu biểu về lịch sử, kiến trúc và nghệ thuật, Đình Chu Quyến là một di sản quý của Thăng Long – Hà Nội, góp phần bảo tồn nét đẹp văn hóa đình làng truyền thống và thể hiện tài năng sáng tạo của cha ông trong lịch sử dân tộc. Theo Hà Nội Danh thắng và Di tích

Hà Nội

878 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Đàn Xã Tắc

Đàn Xã Tắc

Đàn Xã Tắc – Di tích lịch sử "đặc biệt" của Thăng Long Đàn Xã Tắc là một di tích lịch sử quan trọng của kinh thành Thăng Long xưa, được xây dựng từ năm 1048 dưới triều vua Lý Thái Tông. Đây là nơi các vị vua phong kiến tổ chức lễ tế Thần Đất (Xã) và Thần Nông (Tắc), cầu cho quốc thái dân an, mùa màng bội thu và đất nước thịnh vượng. Trong chế độ quân chủ, Đàn Xã Tắc được xem là biểu tượng cho chủ quyền quốc gia và sự bền vững của triều đại. Năm 2006, trong quá trình thi công đường Kim Liên mới tại phường Nam Đồng, quận Đống Đa, Hà Nội, dấu tích của Đàn Xã Tắc bất ngờ được phát hiện sau hơn 200 năm bị vùi lấp. Phát hiện này có ý nghĩa đặc biệt, góp phần làm sáng tỏ quy hoạch kinh thành Thăng Long và khẳng định giá trị lịch sử của di tích. Theo sử sách, Đàn Xã Tắc được đắp bằng đất sạch lấy từ nhiều địa phương trên cả nước, thể hiện sự thống nhất lãnh thổ và tinh thần gắn kết quốc gia. Đàn gồm hai tầng hình vuông, được xây dựng theo nguyên lý ngũ hành với năm màu tượng trưng cho năm phương. Xung quanh có tường bao, hồ nước, bình phong và hệ thống bậc cấp phục vụ các nghi lễ tế tự của triều đình. Ngày nay, khu vực phát hiện Đàn Xã Tắc được đánh dấu bằng bia đá để ghi nhớ vị trí của di tích. Đây không chỉ là một di sản khảo cổ có giá trị mà còn là minh chứng quan trọng về lịch sử, văn hóa và tín ngưỡng của kinh thành Thăng Long, góp phần bảo tồn và phát huy truyền thống văn hóa của dân tộc Việt Nam. Theo BQL di tích Hoàng Thành Thăng Long

Hà Nội

889 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Di tích nổi bật

Xem tất cả
Khu di tích Láng Le Bàu Cò

Khu di tích Láng Le Bàu Cò

Khu di tích Láng Le Bàu Cò tọa lạc tại xã Tân Nhựt, huyện Bình Chánh, Tp HCM. Láng Le Bàu Cò gắn liền với cuộc kháng chiến chống Pháp xâm lược vào năm 1948 với những trận đánh lớn đi vào lịch sử. Di tích Láng Le Bàu Cò được công nhận là di tích lịch sử cấp thành phố vào năm 2003. Sở dĩ được gọi tên là khu di tích Láng Le Bàu Cò vì Tên gọi của khu di tích Láng Le Bàu Cò là do người dân địa phương đặt ra. Xóm làng được thành lập cạnh những con kênh rạch chằng chịt và dòng sông. Láng Le Bàu Cò có vị trí nằm ở bên trong cánh đồng có diện tích rộng lớn và có rất nhiều tôm, cua, cá. Cùng với nhiều loài chim như vịt trời, cò, con le le, cúm núm, cồng cộc, đa đa, diệc, đỏ nách tới kiếm ăn tại đây. Vì vậy, người dân Tân Nhựt gọi với cái tên thân thuộc và mộc mạc đó là Láng Le Bàu Cò. Di tích Láng Le Bàu Cò được xem là cửa ngõ để di chuyển tới trung tâm căn cứ Vườn Thơm và tấn công cơ quan đầu não của quân địch tại Sài Gòn. Trước đây khu di tích Láng Le Bàu Cò vốn là cánh đồng lau sậy mọc um tùm. Vào ngày 15/4/1948 thực dân Pháp đưa 3 nghìn quân lính cùng nhiều vũ khí hiện đại đồng loạt tấn công khu vực Láng Le Bàu Cò nhằm tiêu diệt căn cứ Vườn Thơm. Khi đó lực lượng vũ trang cách mạng ở Láng Le - Bàu vì lực lượng nhỏ và vũ khí thô sơ tuy nhiên được sự giúp đỡ của người dân địa phương cùng với lợi thế về địa hình. Chỉ sau hơn nửa ngày đấu tranh đã chuyển sang tấn công khiến quân Pháp bị thương vong với số lượng lớn. Chiến thắng Láng Le Bàu Cò đã tiêu diệt 300 tên địch và bắt sống 30 lính đánh thuê cùng phá hủy nhiều máy móc, xe nhà binh, súng các loại của quân giặc. Tuy nhiên, về phía ta có nhiều cán bộ chiến sĩ đã anh dũng hy sinh với tuổi đời còn rất trẻ. Ngày 14/10/1966 tại Láng Le tiểu đoàn biệt động quân Việt Nam Cộng Hòa bị dân quân du khách tiêu diệt. Khu di tích Láng Le Bàu Cò có ý nghĩa lịch sử to lớn đối với người dân Sài Gòn nói riêng và cả nước nói chung. Trước lòng căm thù thực dân Pháp, quân dân Láng Le Bàu Cò đã có cuộc chiến vang lừng lịch sử và có ý nghĩa to lớn mở đầu cho phía ta và phía địch. Đối với phía ta trận đánh mở đầu cho sự anh dũng trong tư thế kháng chiến vững mạnh. Còn với quân địch đã phải lùi vào thế bỏ chiến lược và bị tiêu diệt. Thực dân Pháp không còn định hình được chiến lược đánh bại Việt Minh. Hơn thế, tại căn cứ Vườn Thơm, Láng Le Bàu Cò còn diễn ra trận chiến quyết tâm bảo vệ căn cứ của ta và đập tan mọi kế hoạch phá hoại của quân giặc. Khu di tích Láng Le Bàu Cò sau phong trào Đồng Khởi vào năm 1960 còn là hậu cần, bàn đạp của lực lượng vũ trang để giải phóng Long An - Sài Gòn - Gia Định. Để tưởng nhớ sự hy sinh của đồng bào và các chiến sĩ của ta, vào năm 1988 huyện Bình Chánh đã xây dựng công trình lịch sử tại vùng đất Láng Le Bàu Cò với diện tích rộng 1000m2. Nguồn: Báo thông tin điện tử TP Hồ Chí Minh

TP Hồ Chí Minh

17911 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp thành phố

Mở

Di Tích Lịch Sử Nhà Lao Tân Hiệp

Di Tích Lịch Sử Nhà Lao Tân Hiệp

Nhà lao Tân Hiệp còn có tên là "Trung tâm cải huấn Tân Hiệp" tọa lạc ở khu phố 6, phường Tân Tiến, TP Biên Hòa. Di tích Nhà lao Tân Hiệp đã được Bộ Văn Hoá Thể Thao xếp hạng là di tích cấp quốc gia ngày 15-1-1994. Nhà lao Tân Hiệp là một trong sáu nhà tù lớn nhất miền Nam Việt Nam và là nhà tù lớn nhất vùng Đông Nam bộ, được xây dựng ở vị trí quân sự quan trọng, án ngữ phía đông bắc thị xã Biên Hòa. Phía trước là quốc lộ 1; phía sau là đường xe lửa Bắc - Nam. Đây là vị trí biệt lập, thuận tiện trong giao thông, dễ dàng cho việc bảo vệ, canh gác, nhận tù từ nơi khác đến và chuyển tù đi Côn Đảo, Phú Quốc... Nhà lao Tân Hiệp có diện tích 46.520m2 với 8 trại giam, trong đó có 5 trại giam những người tù cộng sản, người yêu nước. Xung quanh nhà tù được bao bọc bởi 4 lớp kẽm gai bùng nhùng với 9 lô cốt, 3 tháp canh cùng đội lính bảo vệ và hệ thống báo động tối tân. Mang tên "Trung tâm cải huấn" nhưng thực chất bên trong là kho súng, phòng xét hỏi, tra tấn với những dụng cụ hiện đại bậc nhất. Mỗi trại giam chỉ có diện tích gần 200m2 nhưng giam giữ từ 300-400 người, có lúc lên đến cả ngàn người. Đặc biệt ở đây có các phòng "cải hối", "chuồng cọp" rất nhỏ hẹp và điều kiện sinh hoạt cực kỳ khắc nghiệt, tù nhân sống chẳng khác gì trong lò thiêu xác. Chế độ ăn uống cực kỳ mất vệ sinh, bọn cai ngục mua gạo mục, cá thối dùng để bón ruộng, chiên bằng dầu luyn cho tù nhân ăn dẫn đến nhiều người bị ngộ độc. Với quyết tâm thoát khỏi nhà tù đế quốc, trở về với Đảng, với nhân dân để tiếp tục chiến đấu, giải phóng dân tộc, ngày 2-12-1956, được sự nhất trí của Liên Tỉnh ủy miền Đông, những chiến sĩ cộng sản bị "câu lưu" trong nhà lao Tân Hiệp dưới sự chỉ đạo trực tiếp của đồng chí Nguyễn Trọng Tâm (Bảy Tâm) - phụ trách Đảng ủy nhà tù và một số đồng chí khác đã bất thần làm một cuộc phá xiềng tập thể giải thoát gần 500 đồng chí, đồng bào yêu nước. Sự kiện này đã làm xôn xao cả Lầu Năm Góc. Mỹ - Diệm vội vã huy động cả quân chủ lực lẫn bảo an, dân vệ đang trấn thủ 3 tỉnh Biên Hòa, Bà Rịa, Thủ Dầu Một và hai biệt đoàn biệt động quân đến bủa lưới bao vây, truy bắt đoàn tù nhưng đều thất bại. Các đồng chí, đồng bào của ta thoát khỏi nhà lao Tân Hiệp đã được sự giúp đỡ, che chở của các cơ sở địa phương, trở về căn cứ an toàn. Trong số tù nhân vượt ngục có các đồng chí: Bảy Tâm, Hai Thông, Lý Văn Sâm... đã trở thành những hạt nhân nòng cốt cho phong trào Đồng Khởi sau này. Năm 2001, để tái hiện phần nào tội ác của Mỹ - Diệm đối với các đồng chí, đồng bào ta bị giam cầm tại nhà lao Tân Hiệp và diễn tả lại toàn bộ cuộc nổi dậy phá khám Tân Hiệp ngày 2-12-1956, Bảo tàng Đồng Nai đã tiến hành sưu tầm hình ảnh, tài liệu, hiện vật trưng bày tại di tích và làm một sa bàn để phục vụ nhu cầu nghiên cứu, tham quan của mọi tầng lớp nhân dân. Hàng ngày, di tích luôn mở cửa đón khách tham quan. Nguồn: Báo Đồng Nai Điện Tử

Đồng Nai

16420 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Đền thờ Nguyễn Hữu Cảnh

Đền thờ Nguyễn Hữu Cảnh

Đền thờ Nguyễn Hữu Cảnh còn gọi là đình Bình Kính tọa lạc bên tả ngạn sông Đồng Nai, xưa kia thuộc ấp Bình Kính, thôn Bình Hoành, tổng Trấn Biên, nay là ấp Nhị Hòa, xã Hiệp Hòa, TP Biên Hòa, đã được Bộ Văn Hoá – Thông Tin – Thể Thao & Du Lịch xếp hạng là di tích lịch sử cấp quốc gia ngày 25-3-1991. Đền thờ Nguyễn Hữu Cảnh được xây dựng vào khoảng cuối thế kỷ 18, ban đầu ngôi đền có qui mô nhỏ, vách làm bằng ván, mái ngói âm dương, cách ngôi đền hiện tại khoảng 400m về hướng Nam. Các tư liệu cho biết: ngôi đền được xây dựng lại lần đầu tiên vào năm Tự Đức thứ tư (1851); đến năm 1923, đền được tái thiết lại ở địa điểm hiện nay. Nguyễn Hữu Cảnh sinh vào năm 1650 tại Gia Miêu, huyện Tống Sơn, tỉnh Thanh Hóa trong một gia đình có nhiều bậc danh tướng đương triều. Ông là người văn võ song toàn, lập được nhiều chiến công lớn và được chúa Nguyễn tin yêu, trọng vọng. Mùa Xuân năm Mậu Dần (1698), ông vâng lệnh chúa Nguyễn vào kinh lược xứ Đàng Trong khi ấy còn rất hoang vu. Đến đất Đồng Nai, ông đặt Đại bản doanh ở Cù lao Phố (nay là xã Hiệp Hòa); lấy đất Đồng Nai làm huyện Phước Long, dựng dinh Trấn Biên, lấy xứ Sài Gòn làm huyện Tân Bình, dựng dinh Phiên Trấn, đất đai mở mang ngàn dặm. Ông chiêu mộ lưu dân đến lập nghiệp, tổ chức bộ máy hành chính từng bước có qui củ, khuyến khích khai hoang, thúc đẩy Cù lao Phố phát triển thành một trong những cảng thị sầm uất, năng động nhất đàng Trong suốt thế kỷ 18 và chính thức sáp nhập vùng đất mới phương Nam vào bản đồ Đại Việt. Sau khi kinh lược phương Nam trở về, năm sau ông lại phụng mệnh chúa Nguyễn Phúc Chu thống lĩnh đại binh dẹp vua Chân Lạp giữ vững miền biên ải phương Nam. Tháng 4 năm Canh Thìn (1700), sau khi hoàn thành sứ mệnh, trên đường trở về đến Rạch Gầm (Tiền Giang) thì ông thọ bệnh qua đời nhằm ngày 16 tháng 5 âm lịch, thọ 51 tuổi. Trên đường di quan ông về quê an táng, quan tài của ông được đình lại khu đất khi xưa ông đặt Đại bản doanh ở Cù lao Phố để cho nhân dân địa phương có dịp bái biệt ông lần cuối. Nơi đình quan đã được nhân dân địa phương xây một ngôi mộ vọng để ghi nhớ sự kiện này. Khi hay tin Nguyễn Hữu Cảnh mất, Chúa Nguyễn vô cùng thương tiếc đã phong tặng ông là Thượng đẳng công thần đặc Trấn phủ Chưởng cơ với tước: Lễ Thành Hầu và đưa bài vị của ông vào thờ tại Thái miếu. Nguồn: Báo Đồng Nai Điện Tử

Đồng Nai

14976 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Di tích chiến thắng La Ngà

Di tích chiến thắng La Ngà

Di tích chiến thắng La Ngà (tại km số 104-112 trên quốc lộ 20 đi Đà Lạt, thuộc xã Phú Ngọc, huyện Định Quán) được Bộ Văn hóa xếp hạng di tích lịch sử cấp quốc gia ngày 12-12-1986. Để cổ vũ cho chiến thắng Việt Bắc thu - đông 1947 và cũng để giáng cho kẻ thù một đòn chí mạng, Ban chỉ huy chi đội 10 đã quyết định phải tổ chức một trận đánh lớn, để quân giặc thấy rằng dân tộc Việt Nam, con người Việt Nam không dễ dàng chịu khuất phục trước bất kì một kẻ thù nào; Bằng tinh thần quả cảm và sự khôn khéo sau gần nửa năm chuẩn bị, nghiên cứu địa hình, chọn địa điểm: vào lúc 15 giờ 12 phút ngày 1/3/1948 trận chiến phục kích La Ngà bắt đầu và kết thúc vào lúc 15 giờ 57 phút cùng ngày, chỉ trong vòng 45 phút. Chiến thắng La Ngà đã làm nức lòng nhân dân Định Quán nói riêng, quân dân Đồng Nai nói chung. Đây là chiến thắng thể hiện sự mưu trí, dũng cảm của quân và dân ta làm cho địch một phen kinh hồn, bạt phía. Từ chiến thắng này lực lượng ta ngày càng thêm lớn mạnh, góp phần đánh bại kế hoạch đánh nhanh, thắng nhanh của địch, buộc chúng phải rơi vào thế bị động. Quần thể danh thắng đá Chồng, Thác Mai, sông La Ngà và Tượng đài chiến thắng La Ngà là một quần thể du lịch kì thú của Định Quán. Vẻ đẹp kỳ thú của Hòn Ba Chồng, Núi Đá Voi, Hòn Dĩa, cùng với ngôi chùa thiên nhiên dưới chân núi đá là những cụm tiêu biểu tạo thành cảnh đẹp hài hòa cho khu danh thắng Đá Chồng. Quần thể Đá Chồng Định Quán còn là nơi lưu lại những dấu tích của cuộc sống người tiền sử. Tại đây dưới các mái đá, ven các khe suối và cả các sườn dốc ven thung lũng đã phát hiện nhiều công cụ sản xuất, sinh hoạt của người xưa bằng đá, đồng, đất nung. Trong suốt cuộc kháng chiến dài 30 năm. Định Quán là một phần quan trọng của Chiến khu Đ. Đá Chồng đã chứng kiến sự hình thành, phát triển, trú quân, triển khai chiến đấu của lực lượng cách mạng. Ngày nay, một phần đất của khu danh thắng Đá Chồng Định Quán đã được sử dụng, xây dựng thành khu Trung tâm văn hóa thể thao huyện Định Quán. Tương lai không xa khu danh thắng Đá Chồng Định Quán sẽ được đầu tư tôn tạo góp phần làm cho cảnh quan thiên nhiên ngày càng tươi đẹp, là địa điểm du lịch sinh thái hấp dẫn. Nguồn: Uỷ Ban Nhân Dân Huyện Định Quán

Đồng Nai

14806 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Tháp cổ Chót Mạt

Tháp cổ Chót Mạt

Di tích Lịch sử-Văn hóa Tháp Chót Mạt, tọa lạc ấp Xóm Tháp, xã Tân Phong, huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh, được Bộ Văn hóa Thông tin (nay là Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch) công nhận là di tích lịch sử - văn hóa ngày 23 tháng 7 năm 1993. Đồng thời là một trong ba công trình tháp cổ cuối cùng còn lại ở miền Nam nước ta. Trải qua nhiều lần trùng tu vào các năm 1938, 2003 và gần đây nhất là vào năm 2013. Mặc dù trải qua các đợt trùng tu tôn tạo, nhưng khu di tích tháp cổ Chót Mạt đã mang cho mình một diện mạo mới nhưng vẫn giữ nguyên được tinh thần kiến trúc cổ. Toàn bộ tòa Tháp được xây dựng bằng gạch và đá phiến với phần đỉnh tháp nhọn dần lên, từ mặt đất lên nơi cao nhất của đỉnh tháp được ước tính là 10m. Ngoài ra, ngọn tháp cổ này nằm trên gò đất cao giữa cánh đồng nên nhìn từ xa nó tựa như ngọn bút đang vươn lên cao dần. Năm 2003 Uỷ ban nhân dân tỉnh Tây Ninh quyết định phê duyệt dự án đầu tư trùng tu tôn tạo bảo tồn di tích tháp Chót Mạt và được tiến hành triển khai trùng tu tôn tạo phục hồi, trưng bày mở hố khai quật năm 2003 đưa vào sử dụng. Ngày 27/11/2019 UBND tỉnh ban hành Quyết định Quy định về phân cấp quản lý, bảo vệ và phát huy giá trị di tích lịch sử văn hóa và danh lam thắng cảnh trên địa bàn tỉnh Tây Ninh. Quyết định giao UBND huyện Tân Biên trực tiếp quản lý 4 di tích, trong đó có di tích cấp Quốc gia di tích Lịch sử- văn Hóa Tháp Chót Mạt. Đặc biệt Di tích Lịch sử-Văn hóa Tháp Chót Mạt trên địa bàn xã Tân Phong, huyện Tân Biên được chọn nằm trong chũi liên kết phát triển du lịch của Tỉnh Tây Ninh. Đây là một địa điểm tham quan rất đáng để khám phá, góp phần phát triển du lịch trên địa bàn xã Tân Phong nói riêng và huyện Tân Biên nói chung. Nguồn: Cổng thông tin điện tử tỉnh Tây Ninh

Tây Ninh

14653 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Dinh Quận Hóc Môn

Dinh Quận Hóc Môn

Dinh Quận Hóc Môn tọa lạc tại số 1, đường Lý Nam Đế, thị trấn Hóc Môn, (cạnh trụ sở UBND huyện) là nơi để lại nhiều sự kiện đấu tranh nổi bật suốt chặng đường dài lịch sử từ 1885 đến ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng của Nhân dân 18 Thôn vườn trầu. Sau khi hạ được Đại đồn Chí Hòa, thực dân Pháp xây dựng tại nơi đây một ngôi nhà gỗ cao 3 tầng dùng làm Đồn binh. Khi tên Trần Tử Ca về nhậm chức Đốc Phủ, dùng Đồn làm Dinh huyện Bình Long. Vốn là một tay say quỷ quyệt của thực dân Pháp, Trần Tử Ca bị nhóm do các ông Phan Văn Hớn (Quản Hớn) và Nguyễn Văn Quá (Chánh Lãnh Binh) cầm đầu gần 1.000 nghĩa quân tiến về đốt Dinh Quận, bắt và cắt đầu bêu giữa chợ. Đó là ngày 8/2/1885 Tết Ất Dậu. Sau đó, Dinh Quận Hóc Môn được xây dựng lại với nền móng đá xanh, tường gạch, có hệ thống phòng thủ từ lầu cao đến tận vòng rào. Lối kiến trúc y như Đồn binh nên người địa phương gọi là Đồn Hóc Môn. Trấn nhậm thay Trần Tử Ca là Đốc phủ Ngôn, đến Quận Trà rồi Quận Thọ. Đây là khoảng thời gian dài người dân vùng Hóc Môn hứng chịu bao cảnh tham tàn, bỉ ổi của thực dân Pháp và bọn tay sai đầu sỏ kể trên. Với truyền thống kiên cường bất khuất của Nhân dân Hóc Môn. Ngày 4/6/1930, khoảng 6 giờ sáng trước Dinh Quận, hàng trăm bà con Hóc Môn kéo biểu tình đòi “bãi bỏ thuế thân, giảm các thuế môn bài và thuế chợ, cấp đất cho dân cày nghèo”. Quận Trà cho mời những người cầm đầu vào Dinh thương lượng, nhưng chúng xảo quyệt bắt giữ họ trong đó có ông Lê Văn Uôi (Bí thư xã Tân Thới Nhì), là người cầm đầu cuộc biểu tình. Mọi người không nao núng, quyết liệt đòi hỏi Quận Trà phải thả những người bị cầm giữ. Đoàn biểu tình càng lúc càng đông, khí thế đấu tranh có phần lan rộng, khiến Quận Trà nhượng bộ. Một mặt chúng thả những người bị giữ, mặc khác chúng gọi điện cho quan thầy ở Sài Gòn cứu viện. 2 giờ sau, cuộc đấu tranh bị 2 tên Blachôlê và Nobbot chỉ huy bắn xối xả vào đoàn biểu tình, gây thương vong nhiều người. Nhưng sự kiện lịch sử gây ấn tượng nhất tại Dinh Quận Hóc Môn là cuộc khởi nghĩa Nam kỳ ngày 23/11/1940. Đồn Hóc Môn rất kiên cố, xây bằng đá xanh như là một pháo đài, cao khoảng 15 thước, có ụ súng và hệ thống phòng thủ lỗ châu mai do một trung đội lính khố xanh trấn giữ. Ngày 22/11/1940, Pháp tăng cường thêm 1 trung đội để đối phó với tình hình. Chiều 22/11/1940, cánh quân của ông Đỗ Văn Cội đột nhập vào thị trấn, giả dạng thường dân, phục kích sau lưng Đồn chờ lệnh cướp Đồn. Một cánh quân khác có nhiệm vụ phá cầu, đốn cây ngăn lộ, đánh chiếm các công sở, nhà việc... Cánh quân từ Phước Vĩnh An, Tân Thông, Tân An Hội, Tân Phú Trung do ông Phạm Văn Sáng và Đặng Công Bỉnh chỉ huy, xuất phát từ ấp Bến Đò, đánh chiếm nhà việc, diệt 1 tên, thu 4 súng, làm chủ tình hình tại đây (Tân Phú trung). Liền đó cánh quân này được lệnh kéo về Hóc Môn. Cánh quân Long Tuy Thượng do ông Bùi Văn Hoạt chỉ huy. Cánh quân thuộc Tổng Long Tuy Trung do ông Đỗ Văn Dậy và Lê Bình Đẳng chỉ huy. Khoảng 24 giờ đêm ngày 22/11/1940, vẫn chưa nghe thấy tiếng pháo lệnh ở Sài Gòn. Sau khi hội ý, các vị chỉ huy những cánh quân thống nhất tấn công Đồn giặc. Lập tức các cánh quân tiến thẳng về Đồn Hóc Môn, nơi trú ngụ của tên Quận trưởng Bùi Ngọc Thọ. 2 nghĩa quân tên Nghé và Kinh xung phong vào cổng trước, hy sinh. Nghĩa quân bốn phía xông vào Đồn như nước vỡ bờ. Trước sức mạnh của nghĩa quân và quần chúng, bọn lính trong Đồn không còn tinh thần kháng cự, bỏ chạy tán loạn. Nghĩa quân chiếm lĩnh hoàn toàn bên trong Đồn nhưng trên lầu, địch vẫn ngoan cố dùng súng bắn tẻ, cùng lúc gọi điện về Sài Gòn, Thủ Dầu Một cấp cứu. Vì nóng lòng bắt cho được tên Quận Thọ nên đồng chí Đỗ Văn Dậy bám ống máng nước để leo lên tầng trên Đồn. Đến lưng chừng bị trúng đạn, đồng chí bị rơi xuống và hy sinh sau đó. Cuộc chiến đấu đang thế giằng co thì viện binh địch đến. Không thể cầm cự, nghĩa quân rút khỏi thị trấn, phân tán về các làng, lực lượng vũ trang rút về ấp Bến Đò (Tân Phú Trung) rồi di chuyển sang ấp Mỹ Hạnh (Đức Hòa). Cuộc tiến công Đồn Hóc Môn (sau gọi là Dinh Quận Hóc Môn) tuy thất bại nhưng đã để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng mọi người dân sự khâm phục lòng dũng cảm của các chiến sĩ cách mạng trong cuộc chiến đấu chống thực dân cướp nước. Trong chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, 7 giờ sáng ngày 30/4/1975, thị trấn Hóc Môn hoàn toàn được giải phóng, lá cờ Tổ quốc phất phới bay trên Dinh Quận, nơi tên Quận trưởng Nguyễn Như Sang và bọn tay sai đã chạy trốn từ tối đêm trước. Ngày nay Dinh Quận Hóc Môn được chọn làm Bảo tàng huyện, nơi đây tập trung nhiều tư liệu trưng bày, minh họa các giai đoạn lịch sử thăng trầm cũng như khí thế đấu tranh cách mạng của quân và dân trong huyện Hóc Môn qua 2 cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ. Một Tượng đài đặt trước di tích Dinh Quận Hóc Môn thể hiện gương hy sinh bất khuất của quân và dân 18 Thôn Vườn trầu, được công nhận là di tích lịch sử văn hóa cấp Quốc gia. Nguồn: Ủy ban nhân dân huyện Hóc Môn

TP Hồ Chí Minh

14011 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Tòa đại sứ quán Mỹ

Tòa đại sứ quán Mỹ

Di tích tòa Đại sứ Mỹ còn được gọi "Nhà trắng phương Đông" là nơi xuất phát các âm mưu thâm độc về quân sự lẫn chính trị nhằm thôn tính lâu dài đất nước Việt Nam, địa điểm di tích là tòa nhà 5 tầng xây dựng theo kiến trúc hiện đại, tọa lạc tại góc đường Mạc Đĩnh Chi - Lê Duẩn, Phường Bến Nghé, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh, trên một mảnh đất rộng gần 5.000m2. Trước đó, tòa đại sứ Mỹ nằm tại số 39 đường Hàm Nghi. Khoảng 10 giờ sáng ngày 30/3/1963, tòa đại sứ Mỹ trên đường Hàm Nghi đã bị đội Biệt động F21 đánh chất nổ làm sập 3 tầng lầu: 1, 2, 3 do đó Mỹ đã quyết định xây lại. Tòa nhà được khởi công xây dựng vào năm 1965, hầu hết vật liệu cũng như máy móc xây dựng đều được chở từ Mỹ sang, dưới sự điều khiển của kỹ sư người Mỹ. Theo thiết kế, tòa nhà bao bọc bởi 7.800 viên đá Taredo có khả năng chống đỡ mìn, đạn pháo. Cửa chính trang bị bằng thép dầy, những cửa khác chắn bởi lớp kín dầy đặc biệt chống đạn. Tất cả cửa sử dụng hệ thống tự động kể cả cửa sắt chắn lối lên các tầng lầu. Bên trong tòa nhà gồm 140 phòng với 200 nhân viên phục vụ ngày đêm ngoài ra bên cạnh tòa nhà còn được xây thêm một dãy nhà phụ gọi là khu "Norodom" dành riêng cho nhân viên C.I.A. Khi khánh thành, tòa nhà chỉ có 3 tầng. Cuối năm 1966 xây thêm 2 tầng và 1 sân thượng dùng làm nơi hạ cánh cho máy bay lên thẳng. Bao quanh tòa nhà là bức tường cao 3m, hai đầu tường sát đường Lê Duẩn xây 2 lô - cốt cao, canh gác ngày đêm. Tòa Đại sứ hoàn thành tháng 9/1967 với một hệ thống phòng thủ như là một pháo đài có 60 lính gác, một hầm tránh bom, một hệ thống màn hình ra-đa nhằm kiểm soát mặt tiền. Ngay sau khi tòa nhà hoàn tất, ngày 24/9/1967, hàng ngàn sinh viên, học sinh kéo đến trước cổng Đại sứ quán Mỹ đấu tranh đòi "Mỹ chấm dứt ném bom miền Bắc", "Mỹ cút về nước" và ra thông báo tố cáo Mỹ "chà đạp và vi phạm nghiêm trọng quyền tự quyết của nhân dân miền Nam". Nhưng sự kiện nổi bật xảy ra tại Tòa Đại sứ Mỹ là trận đánh của Biệt động thành trong Tổng Tiến công và nổi dậy xuân Mậu Thân 1968. Mục tiêu đánh Đại sứ quán Mỹ được bổ sung ngày 24/ 1/1968 do Ngô Thành Vân phụ trách chung. Đội Biệt động 11 nhận lãnh nhiệm vụ quan trọng này gồm đội trưởng Út Nhỏ (đội trưởng trinh sát quân khu) và các chiến sĩ: Bảy Truyền, Tước, Thanh, Chức, Trần Thế Ninh, Chính, Tài, Văn, Đực, Cao Hoài Vinh, Mang, Sáu và 2 lái xe: Trần Sĩ Hùng và Ngô Văn Thuận. Một sự kiện khác cũng không kém phần tủi nhục cho Toà Đại sứ Mỹ là cảnh hỗn loạn tháo chạy xảy ra trong 2 ngày 29 và 30/04/1975 của Mỹ và đồng bọn. Trước sức tấn công thần tốc của quân và dân Việt Nam trong chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, trên 1.000 người Mỹ và hơn 5.000 người Việt thân Mỹ đã chen lấn, xô đẩy, đạp nhau để tranh giành một chỗ trên sân thượng của toà nhà hòng được trực thăng cứu thoát. Di tích này đã được cấp bằng công nhận của Bộ Văn hoá ngày 25/6/1976. Hiện nay, toà nhà Đại Sứ Mỹ đã bị phá bỏ, xây mới thành lãnh sự quán tại Thành phố Hồ Chí Minh, nhưng cạnh đó một bia tưởng niệm ghi nhớ mãi chiến công của các chiến sĩ biệt động đã hy sinh trong trận đánh. Nguồn: Thành Đoàn Thành phố Hồ Chí Minh

TP Hồ Chí Minh

13906 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Lăng Mai Xuân Thưởng

Lăng Mai Xuân Thưởng

Mai Xuân Thưởng là người lãnh đạo phong trào Cần Vương chống Pháp cuối thế kỷ XIX ở Bình Định. Mai Xuân Thưởng sinh năm Canh Thân 1860, mất năm Đinh Hợi 1887 người thôn Phú Lạc, tổng Phú phong, huyện Tuy Viễn, tỉnh Bình Định (nay là thôn Phú Lạc, xã Bình Thành, huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định). Cha là Mai Xuân Tín làm Bố chánh ở Cao Bằng, mẹ là Huỳnh Thị Nguyệt con của một nhà quyền quý trong làng. Mai Xuân Thưởng vốn là người thông minh, ham học. Năm 18 tuổi (1878) ông đỗ Tú tài tại Trường thi Bình Định. năm 25 tuổi (1885) thi đỗ cử nhân. Hưởng ứng chiếu Cần vương của vua Hàm Nghi, Mai Xuân Thưởng về quê Phú Lạc, chiêu mộ nghĩa binh, lập căn cứ ở hòn Sưng dựng cờ cần vương chống Pháp, sau đó Mai Xuân Thưởng đã đem lực lượng của mình gia nhập vào nghĩa quân do Đào Doãn Địch lãnh đạo và được Đào Doãn Địch phong giữ chức Tán lương quân vụ (phụ trách về lương thực của nghĩa quân). Kể từ đó cho đến năm 1887, phong trào cần vương ở Bình Định phát triển mạnh mẽ và lan ra đến Quảng Ngãi, Phú Yên...thu hút hàng chục ngàn người thuộc mọi tầng lớp tham gia. Ngày 20/9/1885 Đào Doãn Địch mất, giao toàn bộ lực lượng cho Mai Xuân Thưởng. Ông chọn vùng núi Lộc Đổng (nay thuộc xã Bình Tường, huyện Tây Sơn) làm đại bản doanh và tổ chức lễ tế cờ , truyền hịch kêu gọi sỹ phu, văn thân, nhân dân tham gia phong trào cần Vương chống Pháp. Trong buổi lễ ấy, nghĩa quân nhiều vùng trong tỉnh Bình Định đã nhất trí suy tôn ông làm Nguyên soái lãnh đạo cuộc khởi nghĩa và nêu cao khẩu hiệu: “Tiền sát tả, hậu đả Tây”. Đầu năm 1887, quân Pháp dưới sự chỉ huy của Trung tá Cherrean và quân triều đình do Trần Bá Lộc chỉ huy cùng với Công sứ Trira đã mở cuộc tấn công lớn lên căn cứ đại bản doanh của phong trào Cần Vương Bình Định, trận giao chiến giữa lực lượng nghĩa quân với giặc Pháp diễn ra vô cùng ác liệt, cuộc chiến đấu không cân sức, cuối cùng lực lượng khởi nghĩa bị đẩy lùi. Tháng 3 năm 1887, sau trận ác chiến ở Bàu Sấu (thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định), Mai Xuân Thưởng bị thương nặng, nghĩa quân rút về Mật khu Linh Ðổng. Ngày 21 tháng 4 năm 1887, Trần Bá Lộc bao vây đánh chiếm căn cứ mật khu Linh Đổng và bắt được một số nghĩa quân, trong đó có thân mẫu Mai Nguyên Soái. Đêm 30 tháng 4 năm 1887, Mai Xuân Thưởng đã cử một đội quân cảm tử đột nhập doanh trại Trần Bá Lộc, giải vây cho những người bị bắt, ông cùng đoàn thuộc hạ gồm 50 người vượt núi vào Phú Yên, tiếp tục kháng chiến, nhưng khi đến đèo Phú Quý (ranh giới giữa Bình Định và Phú Yên) thị bị phục binh Trần Bá Lộc bắt và đưa ra xử trảm tại Gò Chàm (Phía đông Thành Bình Định). Di tích Lăng mộ nhà yêu nước Mai Xuân Thưởng tọa lạc trên ngọn đồi cao của dãy núi Ngang (thuộc thôn Hòa Sơn, xã Bình Tường, huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định) cách thành phố Quy Nhơn khoảng 50km về hướng Tây Bắc; Lăng mộ được xây dựng trên khu đất rộng 1988m2, khánh thành ngày 22 tháng 1 năm 1961.Về tổng thể, Lăng được thiết kế theo kiểu lăng mộ cổ, xung quanh có thành thấp bao bọc. Cổng Lăng (tam quan) là 4 trụ vuông, phía trên thắt lại theo kiểu bầu lọ mang dáng dấp kiến trúc cổng đình, miếu cuối thế kỷ XIX. Giữa nhà Lăng là mộ phần Mai Xuân Thưởng hình khối chữ nhật theo hướng Đông - Tây; Phía đầu mộ dựng tấm Bia đá khắc bài ký ghi tiểu sử và sự nghiệp của Mai Xuân Thưởng: Di tích được Bộ Văn hóa Thông tin quyết định xếp hạng cấp Quốc Gia ngày 20 tháng 4 năm 1995. Nguồn: UBND Huyện Tây Sơn tỉnh Bình Định

Gia Lai

13581 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Thành Nhà Mạc Ở Cao Bằng (Thành Nà Lữ, Thành Bản Phủ, Thành Phục Hòa)

Thành Nhà Mạc Ở Cao Bằng (Thành Nà Lữ, Thành Bản Phủ, Thành Phục Hòa)

Thời kỳ nhà Mạc đóng đô ở Cao Bằng, để phòng bị quân nhà Lê tiến đánh, nhà Mạc đã tu bổ, sửa chữa thành Na Lữ (nay thuộc xã Hoàng Tung, Hòa An) và thành Bản Phủ (nay thuộc xã Hưng Đạo), thành Phục Hòa, ngoài ra còn xây dựng nhiều thành lũy khác ở Cao Bằng, làm cho Cao Bằng trở thành một trung tâm chính trị và quân sự ở vùng biên viễn Đông Bắc thời bấy giờ. Thành Na Lữ và thành Phục Hoà là hai thành được xây dựng từ trước. Theo ghi chép của Bế Hựu Cung trong Cao Bằng thực lục, thành Na Lữ và thành Phục Hòa mở đầu từ đời Đường Ý Tông năm Giáp Thân, niên hiệu Hàm Thông thứ 5 (874). Căn cứ vào sự hiện diện của nhiều ngôi mộ cổ có đá khắc ghi bia mộ tên, địa chỉ, quê quán những người phu dịch xây thành chết ở đây từ thời Hàm Thông có thể khẳng định hai thành này xây từ đời Đường. Thành Na Lữ được xây qua nhiều triều đại khác nhau. Khi nhà Mạc lên Cao Bằng đã cho xây lại bằng gạch. Thành Na Lữ có hình gần chữ nhật, có tổng diện tích khoảng 37,5 ha, chiều dài khoảng 800 m, chiều rộng khoảng 600 m, thành có 4 cửa. Thành Bản Phủ tại kinh đô Nam Bình, nước Nam Cương của Thục Phán khi xưa ở Cao Bình (Cao Bằng), nhà Mạc đã tu bổ thành Vương phủ tại vòng trong của kinh đô cũ Nam Bình và được gọi là thành Bản Phủ hay Vương phủ. Tại kinh đô Nam Bình xưa của nước Nam Cương và của nhà Mạc, thành Bản Phủ vẫn còn dấu tích khá rõ nét. Kinh đô Nam Bình gồm có hai vòng thành, để bảo vệ kinh thành, vòng ngoài có chu vi khoảng 5 km, gồm cả một vùng gò đồi thấp, quanh chân đồi được bạt dựng đứng như một bức tường thành, thuận lợi cho việc xây dựng phòng tuyến bảo vệ. Bờ thành phía Tây chạy song song với bờ sông Bằng đến đầu làng Bó Mạ, nối bờ thành Đông Nam chảy qua trước mặt Bản Phủ theo chân đồi ra gặp quốc lộ 4, phía Đông Bắc chạy theo chân đồi sát phía ngoài quốc lộ 4, lên đến Đầu gò là phía Tây Bắc tiếp tục chạy theo chân đồi, ra đến bờ sông gặp bờ thành phía Tây tạo thành một vòng thành khép kín. Khi nhà Mạc lên đóng đô đã tu sửa lại và xây dựng thêm một số công trình, trong đó thành Bản Phủ (thành nội - nơi của vua làm việc) được xây lên cao hơn trên các tường thành cũ từ thời kỳ Thục Phán, thành nằm trên một khu đất bằng phẳng. Cùng với việc xây dựng lại kinh thành, nhà Mạc còn xây dựng một hệ thống đồn bốt, thành lũy khá dày xung quanh kinh đô và một số điểm biên giới quan trọng, tạo thành một hệ thống bảo vệ kinh thành và bảo vệ biên giới. Thành Phục Hòa (huyện Phục Hoà) được xây theo kiểu hình vuông, mỗi chiều khoảng 400 m, gồm hai vòng thành, khoảng cách giữa hai vòng là 80 m. Hiện nay, tường thành phía Nam đã bị phá huỷ hoàn toàn. Thành Phục Hòa có 2 cổng chính: Cổng phía Bắc được mở thông ra quốc lộ đi Cửa khẩu Tà Lùng ngày nay, nhân dân thường gọi là Pác Cổng, cổng này được xây theo kiểu hình chữ nhật, rộng 8 m, cao 5 m, gồm hai cánh cổng làm bằng gỗ nghiến dày rất chắc chắn; cổng thứ hai ở phía Nam, mở thông ra bờ sông. Cả hai cổng đều bị san phẳng từ lâu, hiện nay không còn vết tích. Gần thành, tại phía Tây Bắc ngoại thành dọc bờ sông còn có nhiều vết tích lò nung gạch, nhân dân cho biết trong quá trình lao động, khai phá đã tìm thấy ở khu vực này nhiều lò gạch còn nguyên vẹn. Qua nghiên cứu, khảo sát cho thấy, tại Cao Bằng, nhà Mạc đã tu bổ, tôn tạo và xây dựng thêm nhiều thành, đồn luỹ, trong đó tu bổ, tôn tạo xây lại thành Bản Phủ, thành Na Lữ, thành Phục Hoà. Các đồn luỹ này đã tạo thành một hệ thống liên hoàn bảo vệ kinh thành khá vững chắc. Đến nay, những thành cổ nhà Mạc xây dựng thời kỳ đóng đô ở Cao Bằng, một số thành xây dựng bằng đất chỉ còn vết tích, nhưng các thành được xây bằng đá vẫn còn rất rõ. Nguồn: Báo Cao Bằng điện tử

Cao Bằng

13293 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

KHU TƯỞNG NIỆM LIỆT SĨ NGÃ BA GIỒNG, DI TÍCH LỊCH SỬ QUỐC GIA

KHU TƯỞNG NIỆM LIỆT SĨ NGÃ BA GIỒNG, DI TÍCH LỊCH SỬ QUỐC GIA

Di tích Ngã Ba Giồng là di tích lịch sử cách mạng thuộc Ấp 5, xã Xuân Thới Thượng, huyện Hóc Môn. Được bao quanh bởi ba con đường: Phan Văn Hớn, Nguyễn Văn Bứa và tỉnh lộ 19. Khu di tích Ngã Ba Giồng là khu tưởng niệm về những sự kiện lịch sử trong hai cuộc khácg chiến chống ngoại xâm. Được công nhận là di tích lịch sử cấp quốc gia vào năm 2002. Ngã ba Giòng (còn có tên gọi đầy đủ là Ngã ba Giòng Bằng Lăng) nằm trên địa phận thôn Xuân Thới Tây thuộc 18 thôn vườn trầu xưa được hình thành từ những năm 1698 đến năm 1731. Từ lâu đời, Ngã ba Giồng là 1 địa danh có tên gọi dân gian đã đi vào lịch sử của quê hương 18 thôn vườn trầu Hóc Môn – Bà Điểm. Tục truyền rằng xưa kia nơi đây là 1 vùng đất giồng tương đối cao ráo và là nơi mọc nhiều cây bằng lăng nên địa danh này có tên gọi từ đó. Sau khi cuộc khởi nghĩa Nam kỳ (23/11/1940) bị thất bại, thực dân Pháp đã tăng cường đàn áp, khủng bố khốc liệt phong trào cách mạng vùng Hóc Môn – Bà Điểm. Chúng đã lập ra ở Hóc Môn 3 trường bắn để giết hại các đồng chí lãnh đạo Đảng, các đồng chí đồng bào yêu nước của quê hương Hóc Môn và các vùng lân cận. Ngã ba Giồng là trường bắn thứ ba ghi lại tội ác tày trời của giặc pháp và bọn tay sai đối với nhân dân Hóc Môn. Rút kinh nghiệm từ 2 trường bắn trước (1 tại rạp hát cũ trung tâm Quận lỵ Hóc Môn, 1 cạnh giếng nước sau Bệnh viện Hóc Môn ngày nay), chúng xử bắn công khai, bắt nhân dân đến xem nhằm mục đích uy hiếp tinh thần cách mạng của nhân dân Hóc Môn. Nhưng cách xử bắn đó đã phản tác dụng, nhân dân Hóc Môn đã tận mắt chứng kiến sự tàn ác của thực dân Pháp, sự hy sinh cao cả của các chiến sĩ cộng sản nên ngọn lửa yêu nước của họ càng bùng lên mãnh liệt. Trường bắn thứ 3 này, chúng không dám xây dựng gần trung tâm Quận lỵ nữa mà đưa ra khu vực Ngã ba Giồng là vùng hoang vắng, thưa dân để tránh sự phản kháng của nhân dân. Tại đây, chúng xây dựng thành 1 trường bắn có mô đất kiên cố dài 12m, cao 2,2m, phía trước có trồng 6 cột bắn, mỗi cột cao 1.7m, hướng bắn quay về phía đồng ruộng (bưng Tràm Lạc). Vào năm 1941, tại đây chúng lén lúc xử bắn rất nhiều lần, không cho nhân dân xem, hàng trăm chiến sĩ cộng sản và đồng bào yêu nước bị chúng giết hại. Với ý nghĩa lịch sử vô cùng thiêng liêng của Ngã ba Giồng, nơi ghi dấu tội ác dã man của giặc Pháp, nơi thể hiện ý chí chiến đấu bất khuất kiên cường và sự hy sinh cao cả của đồng chí và đồng bào ta sau cuộc khởi nghĩa Nam kỳ (23/11/1940); sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng (30/4/1975), huyện Hóc Môn đã nhanh chóng khôi phục và tôn tạo khu di tích lịch sử cách mạng Ngã ba Giồng nhằm giáo dục truyền thống cho các thế hệ thanh thiếu niên. Nơi đây đã trở thành điểm tham quan, nơi tổ chức lễ hội truyền thống trong những ngày lễ lớn hàng năm của huyện Hóc Môn và thành phố đặc biệt là lễ kỷ niệm ngày Nam kỳ Khởi nghĩa (23/11). Hiện nay được sự nhất trí của thành phố, huyện đang tiến hành tôn tạo xây dựng Ngã ba Giồng thành “Khu tưởng niệm liệt sĩ Ngã ba Giồng”. Nguồn: Cổng thông tin điện tử Hóc Môn

TP Hồ Chí Minh

13136 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở